Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng (TP.HCM) cùng hơn 400 điểm cầu trực tuyến từ các trường ĐH trong cả nước.
Tham dự hội nghị, đại diện lãnh đạo và cán bộ phụ trách tuyển sinh của nhiều cơ sở đào tạo ĐH đã có nhiều ý kiến thắc mắc, góp ý cho công tác tuyển sinh trong năm nay.
GS-TS-BS Nguyễn Vũ Quốc Huy, Hiệu trưởng Trường ĐH Y dược (ĐH Huế), đề xuất nên có chiến lược, khung tuyển sinh ĐH và CĐ sư phạm cho một giai đoạn công bố cho xã hội để tránh những điều chỉnh từ năm này qua năm khác. “Năm ngoái chúng ta cũng trao đổi rất nhiều về những điều chỉnh tuyển sinh, năm nay các dự thảo so với các văn bản vừa ban hành cũng có sự khác biệt. Điều này dẫn đến sự bối rối của phụ huynh và học sinh (HS), không chỉ với HS lớp 12 mà với HS lớp 9, lớp 10”, GS Huy nhấn mạnh.
GS-TS-BS Nguyễn Vũ Quốc Huy phân tích thêm: “Chúng tôi nêu lên những điều này vì đó là một sự thật mà các em HS đều quan tâm. Ví dụ việc cộng điểm với thí sinh (TS) có chứng chỉ ngoại ngữ, mỗi năm có mức riêng và thay đổi qua từng năm là điều dễ hiểu. Nhưng sự thay đổi lớn quá từ 3 điểm xuống còn 2 điểm hay 1,5 điểm thì phụ huynh sẽ hiểu và diễn giải như thế nào, nhất là phụ huynh chuẩn bị cho con em trong tương lai sẽ tham gia kỳ thi này ra sao? Nếu chúng ta đặt mình vào vị trí của từng phụ huynh, từng HS thì sẽ hiểu được những khó khăn, bối rối của họ”.
Từ đó, GS Huy cho rằng: “Các chính sách tuyển sinh nên có tính ổn định và tính dự báo. Những khuyến cáo, định hướng đưa ra cho HS lớp 9 chuẩn bị vào lớp 10 năm nay để các em có sự chuẩn bị trong vòng 3 năm. Điều này nhằm đảm bảo công bằng xã hội và đảm bảo tính giải trình xã hội. Về lâu về dài, ít nhất trong chu kỳ từ 3 – 5 năm cần có định hướng ổn định. Thực tế chứng minh cách làm trong những năm vừa qua là ổn định và xã hội chấp nhận được, thì nên giữ vững tính ổn định đó”.
Về vấn đề này, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cho rằng hoạt động tuyển sinh nhìn tổng thể là sự kế thừa và cố gắng ổn định từ nay đến năm 2030. Một số quy định mới được ban hành là văn bản dưới luật khi có các luật mới. Một số điều chỉnh là cần thiết, ví dụ chính sách ưu tiên TS có chứng chỉ ngoại ngữ. Năm trước, TS có chứng chỉ ngoại ngữ vừa được cộng điểm vừa được quy đổi, mỗi trường quy đổi theo cách khác nhau, gây ra những bất cập. Năm nay, Bộ quy định công thức quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ cần có sự thống nhất theo 5 mức và giữ ổn định trong thời gian ít nhất 2 năm. Bộ muốn quy định này giữ ổn định trong 5 năm nhưng sau thời gian thực hiện nếu xảy ra bất cập, có thể tiếp tục điều chỉnh để phù hợp hơn sau đó.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Lê Quân cũng khẳng định quy chế tuyển sinh năm 2026 cơ bản theo hướng ổn định. Bộ GD-ĐT đã tính toán để giữ định hướng đến năm 2030, đồng thời từng bước tăng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo. Những điều chỉnh năm nay chủ yếu mang tính kỹ thuật như giới hạn số lượng nguyện vọng còn 15, chuẩn hóa cách quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển… Còn việc quy đổi điểm, Thứ trưởng Lê Quân cho rằng Bộ chỉ ở vai trò hướng dẫn, còn các trường phải dựa trên dữ liệu thực chứng.
Bên cạnh đó, một số cơ sở đào tạo cũng ý kiến cần có hướng dẫn về cách thức quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển, quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ…
Liên quan đến chứng chỉ ngoại ngữ, tiến sĩ Lê Văn Tường Lân, Trưởng ban Đào tạo và công tác sinh viên ĐH Huế, đặt vấn đề: Bộ đã có quy định về chính sách ưu tiên với TS có chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh, tuy nhiên thực tế cho thấy có TS dùng 2 loại chứng chỉ tiếng Anh khác nhau (IELTS và V-STEP) khi tham gia xét tuyển, 1 chứng chỉ cộng điểm và 1 chứng chỉ quy đổi, thì có được không?
Giải đáp băn khoăn này, GS Nguyễn Tiến Thảo khẳng định, TS chỉ có thể áp dụng điều kiện vừa cộng điểm vừa quy đổi điểm nếu có 2 chứng chỉ của 2 ngoại ngữ khác nhau. Với TS có 2 chứng chỉ cùng một ngoại ngữ, như bảng quy đổi các trường ĐH đã công bố và trong quy chế cũng đã thể hiện, TS chỉ được quyền lựa chọn chứng chỉ có mức ưu tiên cao nhất. Điều này theo ông Thảo là cần thiết để tránh tình trạng TS thi nhiều loại chứng chỉ khác nhau trong cùng một ngoại ngữ không cần thiết.
Liên quan vấn đề trên, từ nhóm xét tuyển miền Bắc, đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội đặt câu hỏi: “Năm ngoái có tình trạng TS tự cung cấp minh chứng chứng chỉ ngoại ngữ lên hệ thống xét tuyển từ tài khoản TS, không nộp về trường theo quy định của cơ sở đào tạo. Điều này dẫn đến việc nhiều TS cung cấp minh chứng không đúng quy định, gây khó khăn cho công tác xét tuyển. Vậy năm nay Bộ có chủ trương cho phép TS thực hiện thao tác này không, nếu có thì trong giai đoạn nào?”.
Đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội cũng bày tỏ băn khoăn liên quan đến tiêu chí phụ trong xét tuyển. Theo đó, lâu nay trong quy chế tuyển sinh chỉ có một tiêu chí phụ mặc định là thứ tự nguyện vọng, các tiêu chí phụ khác phù hợp với chương trình đào tạo là do các cơ sở đào tạo quy định. Tuy nhiên, nguyên tắc xét tuyển năm nay có quy định mới liên quan đến tiêu chí phụ bắt buộc. Cụ thể, nguyên tắc xét chọn bình đẳng theo từng phương thức, tổ hợp xét tuyển, không phụ thuộc thứ tự ưu tiên của nguyện vọng đăng ký trừ 2 trường hợp. Thứ nhất là cùng điểm xét ở cuối danh sách, thứ tự xét ưu tiên đối với các TS có điểm cộng thấp hơn. Thứ hai là cùng điểm xét ở cuối danh sách, điểm cộng bằng nhau, ưu tiên nguyện vọng cao hơn.
Với quy định này, đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội băn khoăn: “Điểm cộng này có tính điểm ưu tiên không?”. Ngoài ra, đại diện ĐH này đề xuất nên chăng không áp dụng tiêu chí phụ bắt buộc mà để các trường lựa chọn tiêu chí phù hợp để tuyển lựa TS cùng mức điểm theo mong muốn.
Ngày 4-4, tại tỉnh Vĩnh Long, Trường đại học Trà Vinh đã tổ chức lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường đại học Trà Vinh thành Đại học Trà Vinh.
Phó thủ tướng Lê Thành Long ký quyết định chuyển Trường Đại học Trà Vinh thành Đại học Trà Vinh. Như vậy, Đại học Trà Vinh là cơ sở giáo dục đại học thứ 13 của cả nước.
Đây là bước ngoặt quan trọng, khẳng định năng lực phát triển bền vững, bước phát triển mới của nhà trường trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Đại học Trà Vinh là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc UBND tỉnh Vĩnh Long. Trường Đại học Trà Vinh được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập ngày 19-6-2006 trên cơ sở Trường Cao đẳng Cộng đồng (thuộc Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam - Canada), trở thành một trong những trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Năm 2026, Trường Đại học Trà Vinh tuyển sinh 10 ngành ở bậc tiến sĩ, 20 ngành ở bậc thạc sĩ, 9 chuyên khoa cấp I, 1 chuyên khoa cấp II, và 49 ngành đào tạo ở bậc đại học thuộc nhiều lĩnh vực như nông nghiệp - thủy sản; kỹ thuật công nghệ; ngôn ngữ, văn hoá, nghệ thuật Khmer Nam Bộ vad nhân văn; khoa học sức khỏe, kinh tế - luật - logistics - quản trị; sư phạm, hóa ứng dụng, ngoại ngữ, du lịch, công nghệ sinh học và môi trường…
Trong đó, trường mở thêm hai ngành mới là tâm lý học và công nghệ nông nghiệp.
Hiện Đại học Trà Vinh có các trường thành viên gồm: Trường Kinh tế - Luật; Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn; Trường Y dược cùng với Bệnh viện Đại học Trà Vinh; Trường Kỹ thuật Công nghệ và Trường Thực hành sư phạm.
Đại học Trà Vinh có 27 chương trình đào tạo đạt kiểm định chất lượng quốc tế theo các tiêu chuẩn uy tín như FIBAA (Châu Âu), AUN-QA (Đông Nam Á) và ABET (Hoa Kỳ), đưa Đại học Trà Vinh vào nhóm các trường đại học có số chương trình đạt kiểm định quốc tế hàng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Tại buổi lễ, Đại học Trà Vinh đã công bố quyết định thành lập Hội đồng chiến lược gồm 10 thành viên. GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM làm cố vấn cấp cao Hội đồng chiến lược. GS.TS Phạm Tiết Khánh làm Chủ tịch Hội đồng chiến lược của Đại học Trà Vinh.
Đồng thời, UBND tỉnh Vĩnh Long công bố quyết định thành lập Ban giám đốc Đại học Trà Vinh, PGS.TS Nguyễn Minh Hòa được bổ nhiệm làm giám đốc, cùng 3 Phó giám đốc là TS Phan Quốc Nghĩa; PGS.TS Diệp Thanh Tùng và TS Thạch Thị Dân.
Phát biểu tại buổi lễ, bà Hồ Thị Hoàng Yến - Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long nhấn mạnh việc chuyển đổi thành Đại học Trà Vinh không chỉ là thay đổi về tổ chức mà là bước chuyển mang tính chiến lược về mô hình phát triển, phương thức quản trị và sứ mệnh.
Nhà trường phải phát triển toàn diện, vừa đào tạo, vừa nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức, gắn chặt với yêu cầu thực tiễn của địa phương và vùng.
Đại học Trà Vinh cần chuyển mạnh từ tư duy "đào tạo cái mình có sang đào tạo cái xã hội cần", từ truyền thụ kiến thức sang kiến tạo tri thức và dẫn dắt đổi mới sáng tạo; đồng thời trở thành hạt nhân kết nối giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - xã hội.
Quyết định chuyển thành Đại học Trà Vinh tạo nền tảng vững chắc để mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, nghiên cứu khoa học, đồng thời hình thành hệ thống các trường thành viên, viện, trung tâm theo mô hình đại học hiện đại.
Từ đó, nâng cao hiệu quả tự chủ đại học, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phụng sự cộng đồng hướng đến người học thành công, trường học hạnh phúc, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Long nói riêng, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước nói chung.
Tại hội thảo, bà Helle Buchhave, trưởng nhóm toàn cầu về giới của World Bank, cho biết thiếu dịch vụ chăm sóc trẻ đang trở thành một trong những rào cản lớn khiến lao động nữ khó quay lại làm việc tại các khu công nghiệp sau khi sinh con.
Theo nghiên cứu trong khuôn khổ Chương trình đối tác chiến lược Ngân hàng Thế giới - Úc, phụ nữ hiện chiếm khoảng 58% lực lượng lao động trong khu công nghiệp.
Tuy nhiên việc sinh con làm giảm khả năng phụ nữ có việc làm hưởng lương khoảng 8,1 điểm phần trăm, đồng thời thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình có thể giảm tới 27%.
Khảo sát cũng cho thấy nhu cầu gửi trẻ tại các khu công nghiệp rất lớn nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ, đặc biệt đối với nhóm trẻ dưới 3 tuổi.
Hiện có gần 560.000 trẻ em dưới 6 tuổi là con của công nhân khu công nghiệp, song khả năng tiếp cận các cơ sở mầm non công lập còn hạn chế, nhất là với con em lao động nhập cư.
Chi phí gửi trẻ cũng là rào cản lớn khi khoảng 42% gia đình thu nhập thấp không sử dụng dịch vụ giữ trẻ vì giá cao, trong khi mức hỗ trợ hiện nay khoảng 160.000 đồng mỗi tháng được cho là chưa đủ.
Báo cáo cũng cho thấy đầu tư vào dịch vụ chăm sóc trẻ không chỉ mang ý nghĩa an sinh xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế đáng kể.
GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, thông tin thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng đối với giáo dục mầm non.
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030 đặt mục tiêu mở rộng phổ cập giáo dục cho trẻ từ 3 tuổi, tăng tỉ lệ trẻ đến trường và nâng cao chất lượng giáo dục tại các địa bàn khó khăn, khu công nghiệp.
Năm 2026, ngành giáo dục bắt đầu triển khai thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới với nhiều điểm đổi mới theo hướng tiếp cận năng lực, liên thông với Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và chú trọng phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ.
Chương trình khung cũng được xây dựng theo hướng tăng quyền chủ động cho địa phương, phù hợp với điều kiện từng cơ sở.
Tuy nhiên theo ông Vinh, tại các đô thị đông dân và khu công nghiệp có tỉ lệ di cư lớn vẫn còn nhiều thách thức trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục mầm non cho trẻ.
Hội thảo cũng đưa ra các giải pháp tăng đầu tư cho dịch vụ chăm sóc trẻ, hỗ trợ các nhóm lớp mầm non độc lập và thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu gửi trẻ ngày càng lớn tại các khu công nghiệp.
Kể từ khi Bộ Nội vụ Úc bắt đầu công bố dữ liệu này cách đây 21 năm, con số nêu trên cũng là mức cao nhất từng được ghi nhận, tăng 8,4% so với tháng 2.2026. Hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa, cao hơn "đỉnh" thứ ba là tháng 9.2023 (31,9%) - thời điểm số hồ sơ xin visa du học tăng đột biến khi Úc mở lại biên giới hậu Covid-19.
Theo thống kê, ứng viên từ hai nguồn cung sinh viên quốc tế lớn thứ hai, thứ ba của Úc là Ấn Độ, Nepal bị từ chối được cấp visa du học nhiều hơn vào tháng 3, với tỷ lệ trượt là 51% và 73,3%. Một số nước Nam Á khác cũng chung tình cảnh, đơn cử như Bangladesh (52,6%), Sri Lanka (55,8%), Pakistan (42%). Tất cả đều thuộc top 10 thị trường tuyển sinh lớn nhất của Úc ở thời điểm hiện tại.
Những con số trên phản ánh tình trạng bị đánh trượt visa vốn phổ biến ở các khóa học tiếng Anh (ELICOS) và đào tạo nghề nay lan sang cả các trường ĐH, nhất là những trường tuyển nhiều người học từ Nam Á. Ngược lại, Trung Quốc duy trì tỷ lệ trượt ở mức rất thấp chỉ 2,7%, trong khi một số thị trường Đông Nam Á thuộc top 10 cũng ở mức thấp như Indonesia (5,5%), Việt Nam (9%).
Riêng Philippines có tỷ lệ từ chối đáng kể ở mức 26,2%, tăng mạnh so với mốc chỉ 1% vào cùng kỳ năm trước.
Thực tế trên khiến lãnh đạo các trường ĐH, CĐ của Úc hoang mang không biết vì sao ngày càng nhiều sinh viên tiềm năng bị từ chối nhập cảnh và nguyên nhân tỷ lệ cấp visa sụt giảm nhanh chóng, nhất là khi chính sách visa của Úc không có thay đổi lớn. Trước đó vào tháng 11 năm ngoái, Úc công bố áp dụng Chỉ thị 115 mới, vốn ưu tiên xử lý visa du học theo mức độ đạt hạn ngạch của từng cơ sở giáo dục.
Ông Phil Honeywood, Giám đốc điều hành Hiệp hội Giáo dục quốc tế Úc (IEAA), cho biết chính phủ Úc cần làm rõ liệu có đang "siết van visa" trên diện rộng hay không. Ông thông tin với tờ Times Higher Education rằng theo Chỉ thị 106 được áp dụng từ 2 năm qua, đương đơn chỉ cần chứng minh có đủ tài chính để trang trải chi phí trong năm đầu ở Úc là đủ điều kiện được cấp visa du học Úc.
Trước đó, Bộ Nội vụ Úc hồi tháng 1 đã thông báo với các cơ sở giáo dục rằng khả năng tài chính là một trong những nguyên nhân chính khiến cơ quan này từ chối cấp visa cho đương đơn từ Nam Á. Theo Bộ này, một trong những khía cạnh ưu tiên xét duyệt là ứng viên thực sự có quyền tiếp cận với nguồn tiền hay không, nhất là trong các trường hợp vay khoản lớn nhưng khả năng trả nợ hạn chế.
Bình luận về động thái này, ông Jon Chew, Giám đốc phân tích thông tin của Navitas, nhận định trước đây việc kiểm tra giấy tờ tài chính xem có dấu hiệu gian lận hay không là chuyện bình thường. Tuy nhiên, đó sẽ là một câu chuyện mới khi cán bộ xét duyệt visa giờ đây còn "xem xét lại" cả quyết định cho vay của ngân hàng nước ngoài.
Đồng tình, bà Sonya Singh, sáng lập và điều hành SIEC Education, cho rằng trọng tâm xét duyệt visa đã chuyển từ khả năng chi trả khóa học tại Úc sang khả năng hoàn trả khoản vay du học sau tốt nghiệp. "Điều này làm thay đổi hoàn toàn cách đánh giá, từ việc chứng minh đủ tài chính sang dự đoán kết quả đầu ra và khả năng trả nợ của gia đình", bà Singh nói với tờ The PIE News.
Đó là lý do đơn vị của bà đã thay đổi cách tư vấn cho người học, bắt đầu từ tư vấn tài chính trước rồi mới đến chọn ngành và điểm đến du học.
Lưu ý thêm về vấn đề này, ông Neil Fitzroy, Giám đốc điều hành Australasia (thuộc Oxford International Education Group), cho rằng cán bộ xét visa đang đặt nhiều trọng tâm hơn vào độ tin cậy mà họ cảm nhận được từ hồ sơ ứng tuyển thay vì chỉ dựa vào việc đương đơn có đáp ứng các yêu cầu đã công bố hay không.
"Việc thẩm định cũng đi sâu hơn vào tổng chi phí học tập, nguồn gốc và tính bền vững của tài chính, song song đó là triển vọng sau tốt nghiệp", ông Fitzroy nói.
Ông Chew cho biết thêm, trước đây mỗi khi số lượng hồ sơ xin visa bị từ chối tăng vọt, cơ quan chức năng thường giải thích rõ lý do trong thư từ chối, nhờ đó đương đơn có thể điều chỉnh sao cho phù hợp. Nhưng lần này, vấn đề là không ai thực sự hiểu vì sao hồ sơ bị đánh trượt, ông chia sẻ.
Hệ quả của tỷ lệ từ chối tăng cao, theo chuyên gia, là sinh viên giỏi có thể đi nước khác vì không muốn mạo hiểm bị Úc đánh trượt - do điều này còn ảnh hưởng đến việc xin visa các nước khác như Anh hoặc Canada. Ngược lại, những đối tượng muốn lạm dụng visa du học để đi làm vẫn sẵn sàng "đánh cược". Điều này có thể dẫn tới tình huống ngược đời là người học chân chính thì nản lòng còn những ai không phù hợp lại chẳng bị cản bước.
Thời gian qua, Úc cũng công bố nhiều điều chỉnh để quản lý tốt hơn ngành giáo dục quốc tế, như tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí trong quá trình xin visa du học; giảm thời gian hiệu lực và tăng yêu cầu cũng như phí xin visa làm việc sau tốt nghiệp. Đây là một số nguyên nhân góp phần khiến số lượng người Việt lần đầu tới Úc du học tính đến tháng 9.2025 giảm 42% so với cùng kỳ năm 2024.
Theo thống kê từ Bộ Giáo dục Úc, tính tới tháng 1.2026, có 551.717 sinh viên quốc tế theo học các khóa tại nước này. Trong đó, Việt Nam có 24.789 người, xếp thứ 4 sau Trung Quốc, Ấn Độ và Nepal.