Năm nay, Hà Nội có 119 trường THPT công lập không chuyên, chỉ tiêu lớp 10 là hơn 78.300, tương đương 55% học sinh hoàn thành chương trình THCS.
Phụ huynh và các em đăng ký nguyện vọng từ ngày 10 đến 17/4. Điểm mới là học sinh có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Dưới đây là điểm chuẩn lớp 10 ở Hà Nội trong ba năm 2023-2025, tính theo trung bình môn để phụ huynh, học sinh tham khảo:
STT
Trường
2023
2024
2025
1
THPT Phan Đình Phùng
8,55
8,35
8,42
2
THPT Phạm Hồng Thái
8,15
7,5
7,58
3
THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình
7,95
7,7
6,75
4
THPT Tây Hồ
7,75
7,55
7,25
5
THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm
8,35
7,9
7,72
6
THPT Việt Đức
8,6
8,25
8,42
7
THPT Thăng Long
8,2
8,45
8,08
8
THPT Trần Nhân Tông
7,95
7,95
7,5
9
THPT Đoàn Kết – Hai Bà Trưng
8
4,75
6,92
10
THPT Đống Đa
7,9
7,3
7,33
11
THPT Kim Liên
8,65
8,35
8,5
12
THPT Lê Quý Đôn – Đống Đa
8,2
7,95
7,92
13
THPT Quang Trung – Đống Đa
8
7,55
7,58
14
THPT Nhân Chính
8,2
8,25
8
15
THPT Trần Hưng Đạo – Thanh Xuân
7,6
7,65
6,83
16
THPT Khương Đình
7,65
7,35
6,75
17
THPT Khương Hạ
7,5
7,2
6,75
18
THPT Cầu Giấy
8,3
8
7,92
19
THPT Yên Hòa
8,45
8,5
8,33
20
THPT Hoàng Văn Thụ
7,45
7,65
6,83
21
THPT Trương Định
7,7
7,45
7,08
22
THPT Việt Nam – Ba Lan
7,55
7,8
7,08
23
THPT Ngô Thì Nhậm
7,4
6,85
7,08
24
THPT Ngọc Hồi
6,4
7,55
6,67
25
THPT Đông Mỹ
7,1
6,6
5,83
26
THPT Nguyễn Quốc Trinh
7
6,25
6,17
27
THPT Nguyễn Gia Thiều
8,35
8,35
8,33
28
THPT Lý Thường Kiệt
7,75
7,3
7
29
THPT Thạch Bàn
7,3
7,3
5,75
30
THPT Phúc Lợi
7,55
7,55
4,83
31
THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm
7,65
7,15
7,17
32
THPT Dương Xá
7
7,25
6,25
33
THPT Nguyễn Văn Cừ
7,15
7
6,25
34
THPT Yên Viên
7,35
7,2
6,42
35
THPT Đa Phúc
6,45
7,25
6,25
36
THPT Kim Anh
6,2
6,4
5,67
37
THPT Minh Phú
5,8
5,95
5,17
38
THPT Sóc Sơn
6,85
6,95
6,58
39
THPT Trung Giã
6,5
5,95
5,75
40
THPT Xuân Giang
6,1
6,25
5,5
41
THPT Bắc Thăng Long
7,05
7,05
6,92
42
THPT Cổ Loa
7,35
7
6,75
43
THPT Đông Anh
6,85
6,8
6,17
44
THPT Liên Hà
7,5
7,1
6,75
45
THPT Vân Nội
6,8
6,8
6,33
46
THPT Mê Linh
7
7,1
6,25
47
THPT Quang Minh
6,1
5,9
5,58
48
THPT Tiền Phong
6,3
6,2
5,5
49
THPT Tiến Thịnh
5,4
5,2
4,92
50
THPT Tự Lập
5,2
5,65
4,5
51
THPT Yên Lãng
6,55
6,2
6,25
52
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
8,2
8,25
8,25
53
THPT Xuân Đỉnh
7,95
8,05
7,83
54
THPT Thượng Cát
7,25
7,45
6,33
55
THPT Đại Mỗ
6,95
7,05
6,25
56
THPT Trung Văn
7,55
7,35
6,67
57
THPT Xuân Phương
7,45
7,55
6,67
58
THPT Mỹ Đình
8
7,9
7,67
59
THPT Hoài Đức A
6,9
7,25
6,33
60
THPT Hoài Đức B
6,65
6,95
6,42
61
THPT Vạn Xuân – Hoài Đức
6,3
6,65
5,67
62
THPT Hoài Đức C
6,05
6,45
5,92
63
THPT Đan Phượng
6,85
6,8
6,83
64
THPT Hồng Thái
6,05
5,9
5,58
65
THPT Tân Lập
6,6
6,8
5,58
66
THPT Thọ Xuân
5,1
6,15
3,33
67
THPT Ngọc Tảo
5,8
5,25
5,17
68
THPT Phúc Thọ
5,7
5,8
5,33
69
THPT Vân Cốc
4,95
5,3
4,83
70
THPT Tùng Thiện
6,6
6,75
6,83
71
THPT Xuân Khanh
4,45
4,9
4,33
72
THPT Ba Vì
4,9
4,5
4,67
73
THPT Bất Bạt
3,4
5
4
74
Trường Phổ thông Dân tộc nội trú
5,85
6,6
5,58
75
THPT Ngô Quyền – Ba Vì
5,55
5,95
5,42
76
THPT Quảng Oai
6,15
6,05
5,83
77
THPT Minh Quang
3,4
3,6
3,33
78
THPT Bắc Lương Sơn
3,4
4
3,33
79
THPT Hai Bà Trưng – Thạch Thất
5
5,2
4,42
80
THPT Phùng Khắc Khoan – Thạch Thất
5,75
5,55
4,58
81
THPT Thạch Thất
6,6
6,25
5,75
82
THPT Minh Hà
5,15
4,95
4,67
83
THPT Cao Bá Quát – Quốc Oai
5,75
5,6
5,33
84
THPT Minh Khai
5,5
5,3
5,08
85
THPT Quốc Oai
7,25
7,15
7
86
THPT Phan Huy Chú – Quốc Oai
5,55
5,45
5
87
THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông
8,45
8,5
8,5
88
THPT Quang Trung – Hà Đông
8
7,85
7,75
89
THPT Trần Hưng Đạo – Hà Đông
7
7,4
6,92
90
THPT Chúc Động
5,95
6,05
5,42
91
THPT Chương Mỹ A
7,4
7,2
7
92
THPT Chương Mỹ B
5,2
5,45
4,67
93
THPT Xuân Mai
6
6
5,33
94
THPT Nguyễn Văn Trỗi
4,5
5,25
4,5
95
THPT Nguyễn Du – Thanh Oai
6,05
6,15
5,33
96
THPT Thanh Oai A
5,75
6,25
5,17
97
THPT Thanh Oai B
6,4
6,8
5,5
98
THPT Thường Tín
6,8
6,4
6,67
99
THPT Nguyễn Trãi – Thường Tín
6,4
5,95
5
100
THPT Lý Tử Tấn
5,3
5,6
4,67
101
THPT Tô Hiệu – Thường Tín
5,45
5,35
5
102
THPT Vân Tảo
6,1
5,7
5,25
103
THPT Đồng Quan
5,75
5,6
4,67
104
THPT Phú Xuyên A
5,55
5,65
5,08
105
THPT Phú Xuyên B
5,15
4,6
4,67
106
THPT Tân Dân
4,9
5,05
4,5
107
THPT Hợp Thanh
4,8
4,6
4,58
108
THPT Mỹ Đức A
6,35
6,35
5,17
109
THPT Mỹ Đức B
5,4
5,5
5,5
110
THPT Mỹ Đức C
4,4
3,8
4,17
111
THPT Đại Cường
4,4
4,2
3,33
112
THPT Lưu Hoàng
3,4
4
3,33
113
THPT Trần Đăng Ninh
5,45
5,5
4,92
114
THPT Ứng Hòa A
5,8
5,85
4
115
THPT Ứng Hòa B
4,6
4,6
3,33
116
THPT Đỗ Mười
–
–
4,9
117
THPT Phúc Thịnh
–
–
5,5
Xem biến động tỷ lệ chọi lớp 10 trong ba năm 2023-2025
Nhìn chung, các trường top đầu giữ vững vị thế, với điểm chuẩn không dưới 8 mỗi môn, như Phan Đình Phùng, Việt Đức, Thăng Long, Kim Liên, Yên Hòa, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Thị Minh Khai…
Nhóm lấy điểm chuẩn 3-4 mỗi môn cũng không có nhiều xáo trộn, hầu hết là trường ở ngoại thành, như Đại Cường, Lưu Hoàng, Ứng Hòa A, Ứng Hòa B…
Trong khi đó, nhóm trường top giữa có nhiều biến động qua các năm. Chẳng hạn, trường THPT Đoàn Kết – Hai Bà Trưng lấy tới 8 điểm mỗi môn vào năm 2023, nhưng giảm gần một nửa, còn 4,75 trong năm 2024, sau đó tăng lên gần 7 điểm vào năm 2025.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 công lập năm 2026
Kỳ thi vào lớp 10 ở Hà Nội năm nay diễn ra trong hai ngày 30-31/5. Những học sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào 1/6. Điểm xét tuyển là tổng ba môn Toán, Văn, Tiếng Anh không nhân hệ số.
Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Ngày 17.5, Trường đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng tổ chức Ngày hội khoa học công nghệ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo năm 2026, thu hút đông đảo học sinh, sinh viên với hàng trăm đề tài nghiên cứu, sản phẩm công nghệ sáng tạo.
Ngày hội diễn ra trong khuôn viên nhà trường, quy tụ 469 đề tài nghiên cứu khoa học thường niên, 19 đề tài tiềm năng và 128 sản phẩm triển lãm đến từ 14 khoa chuyên môn. Đặc biệt, sự kiện năm nay còn có sự tham gia của 15 đề tài, sản phẩm nghiên cứu từ học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Theo ban tổ chức, phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2025 - 2026 phát triển mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng với hơn 1.200 sinh viên tham gia. Đây cũng là lần đầu tiên học sinh lớp 11 và học viên cao học cùng tham gia nghiên cứu trong một số dự án chung với sinh viên.
Nhiều đề tài tại ngày hội tập trung vào các xu hướng công nghệ mới và nhu cầu phát triển bền vững như trí tuệ nhân tạo (AI), robot thông minh, logistics tích hợp LiDAR - Camera - GPS, trợ lý AI trong công nghiệp, công nghệ y sinh, năng lượng sạch, vật liệu xanh và đô thị thông minh.
Phát biểu tại ngày hội, PGS-TS Nguyễn Hữu Hiếu, Hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng, cho biết trong năm học này, nhà trường đã tăng quỹ tài trợ nghiên cứu cho mỗi đề tài lên gấp rưỡi, tương đương mức tăng gấp 3 lần so với năm 2022.
Theo ông Hiếu, các đề tài hướng đến sản phẩm ứng dụng thực tế hoặc có khả năng công bố quốc tế nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ. Nhà trường cũng tiếp tục đồng hành với sinh viên thực hiện đồ án tốt nghiệp theo định hướng nghiên cứu tại trường hoặc doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, hệ sinh thái sáng tạo của nhà trường tiếp tục được mở rộng xuống bậc THPT thông qua các đề tài STEM dành cho học sinh phổ thông. Tiêu biểu là bộ robot STEM lập trình mở, dự kiến được triển khai trong mini Techshow tại nhiều trường THPT khu vực miền Trung - Tây nguyên nhằm khơi dậy đam mê nghiên cứu khoa học cho học sinh từ sớm.
Tiến sĩ Trần Nam Dũng, Hiệu phó Trường Phổ thông Năng khiếu, cho biết kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 của trường có 4.707 thí sinh đăng ký dự thi, tăng hơn 1.000 thí sinh so với kỳ thi năm 2025.
Trong khi đó, chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 của trường ổn định là 595 học sinh, như vậy tỷ lệ chọi năm nay trung bình là 1/8. Tuy nhiên, tỷ lệ chọi cụ thể của một số lớp chuyên như toán, tiếng Anh, ngữ văn... sẽ cao hơn tỷ lệ trung bình.
Số liệu cụ thể về việc đăng ký và dự thi lớp 10 Trường Phổ thông Năng khiếu như sau:
Thí sinh bắt buộc dự thi lớp 10 Trường Phổ thông Năng khiếu ít nhất 4 bài thi, trong đó bài thi môn không chuyên: toán, ngữ văn, tiếng Anh và bài thi môn chuyên lựa chọn trong số các môn toán, tin học, vật lý, hóa học, sinh học, ngữ văn và tiếng Anh.
Trong đó bài thi môn không chuyên gồm: tự luận và trắc nghiệm; tự luận. Riêng môn tiếng Anh gồm cả hai phần tự luận và trắc nghiệm.
Thành viên ban giám hiệu Trường Phổ thông Năng khiếu cho biết, theo quy định của nhà trường, sau kỳ thi tuyển sinh lớp 10, trường có thể sẽ công bố đề. Riêng đáp án chính thức của các môn thi, nhà trường sẽ công bố sau khi hoàn tất công tác chấm thi.
Những năm trước, nhà trường công bố đáp án khoảng 10 ngày sau ngày thi. Năm nay, theo kế hoạch, dự kiến có thể công bố kết quả thi lớp 10 từ ngày 10.6 trở đi. Tuy nhiên, mốc thời gian trên có thể thay đổi, tùy thuộc vào tiến độ làm phách, chấm thi và thời điểm họp hội đồng tuyển sinh.
Hơn 151.000 học sinh TP HCM hoàn thành đề thi Văn lớp 10 sáng 1/6. Đề thi có chủ đề xuyên suốt "Những sắc màu cảm xúc". Phần Đọc hiểu (5 điểm) sử dụng đoạn trích trong truyện "Chú robot tưởng mình là người" của tác giả Lê Anh Vinh. Qua câu chuyện về chú robot mang tên Biết Điều bị xem là "sản phẩm lỗi" vì có những cảm xúc buồn bã, biết suy nghĩ như con người, thí sinh phải trả lời 4 câu hỏi ngắn.
Sau đó, các em được yêu cầu viết một đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nội dung chủ đề hoặc một số nét nghệ thuật đặc sắc của văn bản.
Phần Nghị luận xã hội (5 điểm) cho đoạn trích "Khơi nguồn cảm xúc..." của tác giả Tạ Duy Anh bàn về sự cạn kiệt, khô cứng cảm xúc trong cuộc sống và cách nuôi dưỡng cảm xúc bằng việc yêu cuộc sống, trân trọng cái đẹp. Thí sinh được yêu cầu phân tích tác dụng của lý lẽ và bằng chứng trong văn bản.
Ở câu viết bài văn nghị luận, thí sinh được chọn 1 trong 2 đề: viết bài văn về thực trạng thiếu cảm xúc của một bộ phận giới trẻ và đề xuất giải pháp hoặc chủ đề "Thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương".
Cô Nguyễn Thị Thu Hương, giáo viên Ngữ văn, trường THCS Huỳnh Khương Ninh, phường Tân Định, đánh giá đề vẫn có những nét đặc thù vốn được đánh giá cao của TP HCM như tính mở, đòi hỏi thí sinh sáng tạo, tư duy, liên hệ thực tế. Cấu trúc rất sát với đề minh họa đã ban hành hồi đầu năm và vừa sức với lứa thí sinh đầu tiên của thành phố sau sáp nhập.
Chú robot và cảm xúc là vấn đề rất thực tiễn khi công nghệ đang len lỏi vào đời sống. Cô Hương đánh giá chủ đề này "chạm" đến cảm xúc, tư duy của học sinh.
Cô Ngô Thị Hạnh, giáo viên trường THCS Quang Trung, phường Gò Vấp, cũng tâm đắc với chủ đề này. Theo cô, đề bài đã khéo léo khẳng định: Máy móc hay công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là phương tiện, công cụ hỗ trợ để tăng hiệu quả lao động, không thể thay thế con người, đặc biệt là sự thấu cảm và thế giới cảm xúc. Đây không chỉ là đề tài dành riêng cho giới trẻ mà còn là một thông điệp sâu sắc đến tất cả mọi người.
Phân tích kỹ hơn, thầy Võ Kim Bảo, giáo viên Ngữ văn trường THCS Nguyễn Du, phường Bến Thành, cho biết các câu hỏi phần Đọc hiểu được sắp xếp tăng dần theo mức độ nhận thức và trình tự tư duy.
Học sinh có kỹ năng tốt sẽ biết vận dụng lời giải của câu hỏi trước để trả lời các ý sau. Câu 1d (Khi máy móc ngày càng giống con người thì con người có đang dần sống như máy móc không), theo thầy Bảo là hay và khó. Trả lời tốt các câu này sẽ giúp thí sinh viết được đoạn nghị luận văn học.
Câu hỏi đầu trong phần Nghị luận xã hội khá đơn giản. Thầy dự đoán nhiều thí sinh "ẵm" trọn điểm câu này.
Câu 2 yêu cầu viết bài văn nghị luận với thông tin, yêu cầu rõ ràng, hạn chế tình trạng thí sinh lạc đề. Thầy Bảo cho rằng câu này vừa có tính phân hóa, vừa gợi ý cho học sinh về những điều gần gũi, quen thuộc mà các em ít khi để tâm. Học sinh cần liên tưởng, vận dụng tư liệu đời sống để đưa vào bài.
"Dạng đề này đã được phổ biến và ôn luyện trong cả năm nay. Học sinh ở khu vực Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ không bỡ ngỡ", thầy Bảo nói.
Cô Hương nhìn nhận các yêu cầu đề được đặt ra vừa sức với thí sinh. Học sinh chú tâm ôn tập, nắm chắc kiến thức cơ bản sẽ làm được bài. Câu viết đoạn văn ngắn có thể khiến một số em lúng túng vì phải "thẩm thấu" nhanh văn bản mới tiếp cận.
Đồng tình, thầy Bảo cho rằng câu đọc hiểu 1d và phần viết đoạn văn, bài văn sẽ giúp phân loại thí sinh. Chúng đòi hỏi các em thể hiện hiểu biết về đời sống xã hội, trải nghiệm văn học, năng lực ngôn ngữ và sáng tạo.
Cô Hương và thầy Bảo dự đoán đa số thí sinh khu vực TP HCM sẽ lấy được điểm 7. Số lượng bài đạt điểm giỏi 8, 9 sẽ nhiều hơn năm ngoái. Học sinh khu vực Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu dù ít quen thuộc với dạng đề này song đã được ôn tập.
Cả hai đều nhìn nhận đề Văn thi lớp 10 đã được giảm tải, dễ thở với thí sinh. Nếu ví độ khó đề các năm trước là 10, hai giáo viên đánh giá đề năm nay ở mức 7, 8.
Năm ngoái, khi chưa sáp nhập, phổ điểm môn Văn ở khu vực TP HCM tập trung nhiều ở mức 5-7,5, hai bài thi cao nhất đạt điểm 9,5. Từ điểm 9 trở lên có 203 thí sinh đạt được. Mốc nhiều em đạt được nhất là 7 với gần 6.000 bài thi. Khoảng 15% bài thi dưới điểm trung bình.
Chiều nay, thí sinh làm bài thi Ngoại ngữ (chủ yếu Tiếng Anh) trong vòng 90 phút. Ngày 2/6, các em làm bài thi môn Toán với 120 phút. Những em có nguyện vọng vào các lớp chuyên sẽ thi thêm môn tương ứng, dài 150 phút.