Năm nay, Hà Nội có 119 trường THPT công lập không chuyên, chỉ tiêu lớp 10 là hơn 78.300, tương đương 55% học sinh hoàn thành chương trình THCS.
Phụ huynh và các em đăng ký nguyện vọng từ ngày 10 đến 17/4. Điểm mới là học sinh có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Dưới đây là điểm chuẩn lớp 10 ở Hà Nội trong ba năm 2023-2025, tính theo trung bình môn để phụ huynh, học sinh tham khảo:
STT
Trường
2023
2024
2025
1
THPT Phan Đình Phùng
8,55
8,35
8,42
2
THPT Phạm Hồng Thái
8,15
7,5
7,58
3
THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình
7,95
7,7
6,75
4
THPT Tây Hồ
7,75
7,55
7,25
5
THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm
8,35
7,9
7,72
6
THPT Việt Đức
8,6
8,25
8,42
7
THPT Thăng Long
8,2
8,45
8,08
8
THPT Trần Nhân Tông
7,95
7,95
7,5
9
THPT Đoàn Kết – Hai Bà Trưng
8
4,75
6,92
10
THPT Đống Đa
7,9
7,3
7,33
11
THPT Kim Liên
8,65
8,35
8,5
12
THPT Lê Quý Đôn – Đống Đa
8,2
7,95
7,92
13
THPT Quang Trung – Đống Đa
8
7,55
7,58
14
THPT Nhân Chính
8,2
8,25
8
15
THPT Trần Hưng Đạo – Thanh Xuân
7,6
7,65
6,83
16
THPT Khương Đình
7,65
7,35
6,75
17
THPT Khương Hạ
7,5
7,2
6,75
18
THPT Cầu Giấy
8,3
8
7,92
19
THPT Yên Hòa
8,45
8,5
8,33
20
THPT Hoàng Văn Thụ
7,45
7,65
6,83
21
THPT Trương Định
7,7
7,45
7,08
22
THPT Việt Nam – Ba Lan
7,55
7,8
7,08
23
THPT Ngô Thì Nhậm
7,4
6,85
7,08
24
THPT Ngọc Hồi
6,4
7,55
6,67
25
THPT Đông Mỹ
7,1
6,6
5,83
26
THPT Nguyễn Quốc Trinh
7
6,25
6,17
27
THPT Nguyễn Gia Thiều
8,35
8,35
8,33
28
THPT Lý Thường Kiệt
7,75
7,3
7
29
THPT Thạch Bàn
7,3
7,3
5,75
30
THPT Phúc Lợi
7,55
7,55
4,83
31
THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm
7,65
7,15
7,17
32
THPT Dương Xá
7
7,25
6,25
33
THPT Nguyễn Văn Cừ
7,15
7
6,25
34
THPT Yên Viên
7,35
7,2
6,42
35
THPT Đa Phúc
6,45
7,25
6,25
36
THPT Kim Anh
6,2
6,4
5,67
37
THPT Minh Phú
5,8
5,95
5,17
38
THPT Sóc Sơn
6,85
6,95
6,58
39
THPT Trung Giã
6,5
5,95
5,75
40
THPT Xuân Giang
6,1
6,25
5,5
41
THPT Bắc Thăng Long
7,05
7,05
6,92
42
THPT Cổ Loa
7,35
7
6,75
43
THPT Đông Anh
6,85
6,8
6,17
44
THPT Liên Hà
7,5
7,1
6,75
45
THPT Vân Nội
6,8
6,8
6,33
46
THPT Mê Linh
7
7,1
6,25
47
THPT Quang Minh
6,1
5,9
5,58
48
THPT Tiền Phong
6,3
6,2
5,5
49
THPT Tiến Thịnh
5,4
5,2
4,92
50
THPT Tự Lập
5,2
5,65
4,5
51
THPT Yên Lãng
6,55
6,2
6,25
52
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
8,2
8,25
8,25
53
THPT Xuân Đỉnh
7,95
8,05
7,83
54
THPT Thượng Cát
7,25
7,45
6,33
55
THPT Đại Mỗ
6,95
7,05
6,25
56
THPT Trung Văn
7,55
7,35
6,67
57
THPT Xuân Phương
7,45
7,55
6,67
58
THPT Mỹ Đình
8
7,9
7,67
59
THPT Hoài Đức A
6,9
7,25
6,33
60
THPT Hoài Đức B
6,65
6,95
6,42
61
THPT Vạn Xuân – Hoài Đức
6,3
6,65
5,67
62
THPT Hoài Đức C
6,05
6,45
5,92
63
THPT Đan Phượng
6,85
6,8
6,83
64
THPT Hồng Thái
6,05
5,9
5,58
65
THPT Tân Lập
6,6
6,8
5,58
66
THPT Thọ Xuân
5,1
6,15
3,33
67
THPT Ngọc Tảo
5,8
5,25
5,17
68
THPT Phúc Thọ
5,7
5,8
5,33
69
THPT Vân Cốc
4,95
5,3
4,83
70
THPT Tùng Thiện
6,6
6,75
6,83
71
THPT Xuân Khanh
4,45
4,9
4,33
72
THPT Ba Vì
4,9
4,5
4,67
73
THPT Bất Bạt
3,4
5
4
74
Trường Phổ thông Dân tộc nội trú
5,85
6,6
5,58
75
THPT Ngô Quyền – Ba Vì
5,55
5,95
5,42
76
THPT Quảng Oai
6,15
6,05
5,83
77
THPT Minh Quang
3,4
3,6
3,33
78
THPT Bắc Lương Sơn
3,4
4
3,33
79
THPT Hai Bà Trưng – Thạch Thất
5
5,2
4,42
80
THPT Phùng Khắc Khoan – Thạch Thất
5,75
5,55
4,58
81
THPT Thạch Thất
6,6
6,25
5,75
82
THPT Minh Hà
5,15
4,95
4,67
83
THPT Cao Bá Quát – Quốc Oai
5,75
5,6
5,33
84
THPT Minh Khai
5,5
5,3
5,08
85
THPT Quốc Oai
7,25
7,15
7
86
THPT Phan Huy Chú – Quốc Oai
5,55
5,45
5
87
THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông
8,45
8,5
8,5
88
THPT Quang Trung – Hà Đông
8
7,85
7,75
89
THPT Trần Hưng Đạo – Hà Đông
7
7,4
6,92
90
THPT Chúc Động
5,95
6,05
5,42
91
THPT Chương Mỹ A
7,4
7,2
7
92
THPT Chương Mỹ B
5,2
5,45
4,67
93
THPT Xuân Mai
6
6
5,33
94
THPT Nguyễn Văn Trỗi
4,5
5,25
4,5
95
THPT Nguyễn Du – Thanh Oai
6,05
6,15
5,33
96
THPT Thanh Oai A
5,75
6,25
5,17
97
THPT Thanh Oai B
6,4
6,8
5,5
98
THPT Thường Tín
6,8
6,4
6,67
99
THPT Nguyễn Trãi – Thường Tín
6,4
5,95
5
100
THPT Lý Tử Tấn
5,3
5,6
4,67
101
THPT Tô Hiệu – Thường Tín
5,45
5,35
5
102
THPT Vân Tảo
6,1
5,7
5,25
103
THPT Đồng Quan
5,75
5,6
4,67
104
THPT Phú Xuyên A
5,55
5,65
5,08
105
THPT Phú Xuyên B
5,15
4,6
4,67
106
THPT Tân Dân
4,9
5,05
4,5
107
THPT Hợp Thanh
4,8
4,6
4,58
108
THPT Mỹ Đức A
6,35
6,35
5,17
109
THPT Mỹ Đức B
5,4
5,5
5,5
110
THPT Mỹ Đức C
4,4
3,8
4,17
111
THPT Đại Cường
4,4
4,2
3,33
112
THPT Lưu Hoàng
3,4
4
3,33
113
THPT Trần Đăng Ninh
5,45
5,5
4,92
114
THPT Ứng Hòa A
5,8
5,85
4
115
THPT Ứng Hòa B
4,6
4,6
3,33
116
THPT Đỗ Mười
–
–
4,9
117
THPT Phúc Thịnh
–
–
5,5
Xem biến động tỷ lệ chọi lớp 10 trong ba năm 2023-2025
Nhìn chung, các trường top đầu giữ vững vị thế, với điểm chuẩn không dưới 8 mỗi môn, như Phan Đình Phùng, Việt Đức, Thăng Long, Kim Liên, Yên Hòa, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Thị Minh Khai…
Nhóm lấy điểm chuẩn 3-4 mỗi môn cũng không có nhiều xáo trộn, hầu hết là trường ở ngoại thành, như Đại Cường, Lưu Hoàng, Ứng Hòa A, Ứng Hòa B…
Trong khi đó, nhóm trường top giữa có nhiều biến động qua các năm. Chẳng hạn, trường THPT Đoàn Kết – Hai Bà Trưng lấy tới 8 điểm mỗi môn vào năm 2023, nhưng giảm gần một nửa, còn 4,75 trong năm 2024, sau đó tăng lên gần 7 điểm vào năm 2025.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 công lập năm 2026
Kỳ thi vào lớp 10 ở Hà Nội năm nay diễn ra trong hai ngày 30-31/5. Những học sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào 1/6. Điểm xét tuyển là tổng ba môn Toán, Văn, Tiếng Anh không nhân hệ số.
Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030 được Đại học Quốc gia TP HCM (VNUHCM) công bố chiều 17/5.
Theo đó, học viên được hỗ trợ tối đa 560 triệu đồng với chương trình tiến sĩ và 160 triệu đồng với thạc sĩ (theo khung chuẩn 2-4 năm), được chi trả theo tháng hoặc thỏa thuận.
Bù lại, họ phải cam kết học tập và nghiên cứu toàn thời gian, tốt nghiệp đúng hạn và đạt yêu cầu. Đồng thời, luận văn, luận án gắn với nhiệm vụ khoa học công nghệ đã đăng ký.
Đại học Quốc gia TP HCM sẽ công khai danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cùng nhu cầu tuyển sinh. Nếu trúng tuyển, người học sẽ là thành viên của nhóm nghiên cứu, trực tiếp thực hiện các đề tài.
Các trường, viện thuộc đại học này sẽ tuyển sinh, phối hợp đào tạo và quản lý người học. Trường hợp vi phạm cam kết, bỏ hoặc bị buộc thôi học, người học và trường phải bồi hoàn kinh phí.
Lãnh đạo Đại học Quốc gia TP HCM đánh giá đây là bước đột phá, nhằm thu hút, tăng tỷ lệ học viên sau đại học lên tối thiểu 30% tổng số người học. 40% trong số này là nghiên cứu sinh tiến sĩ.
Đồng thời, chương trình thúc đẩy các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, góp phần tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế, bằng sáng chế và thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.
Hiện, hệ thống Đại học Quốc gia TP HCM có khoảng 10.000 học viên sau đại học, chiếm 10% tổng số người học. Đại học này đặt mục tiêu mỗi năm công bố 4.550 bài báo quốc tế trên dữ liệu Scopus.
Hồi tháng 3, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết miễn học phí với tất cả nghiên cứu sinh, tương ứng 80-100 triệu đồng cho 3-4 năm học. Một số trường tương tự, kèm hỗ trợ sinh hoạt phí (thường là 5 triệu đồng/tháng), trả thù lao cho nghiên cứu sinh như Đại học Kinh tế TP HCM, Việt Đức, Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Phenikaa, trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội,...
Ngày 3.4, Ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư phối hợp với Bộ GD-ĐT, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo quốc gia: "Giải pháp công nghệ trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục".
Chia sẻ tại hội thảo, ông Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH FPT, cho hay ở trường ông yêu cầu về tiếng Anh không phải là chuẩn đầu ra mà là chuẩn đầu vào. Sau khi trúng tuyển, em nào không đạt yêu cầu về tiếng Anh sẽ được tham gia một khóa học trước khi học chuyên ngành. Nhấn mạnh "tiếng Anh là công cụ, không phải là một môn học, bởi nếu là môn học thì mãi mãi nó chỉ là môn học", ông Tùng cho biết phần lớn chương trình đào tạo, thi cử… trong trường là bằng tiếng Anh.
Theo ông Tùng, để tiếng Anh như một công cụ, trách nhiệm lớn thuộc về các trường phổ thông. Sở dĩ hiện nay trường đại học (ĐH) phải dạy dự bị tiếng Anh cho sinh viên mới nhập học vì trường phổ thông chưa làm tốt việc đó, trường ĐH phải làm thay.
Ông Tùng đề nghị Bộ GD-ĐT cần cho phép trường phổ thông được sử dụng sách giáo khoa toán và các môn khoa học tự nhiên của nước ngoài, thay thế cho sách giáo khoa trong nước để nhà trường có thể dạy các môn này bằng tiếng Anh.
Đồng tình với ý kiến phải coi tiếng Anh là công cụ chứ không phải môn học, ông Đỗ Tuấn Minh, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH Ngoại ngữ (ĐH Quốc gia Hà Nội), cũng cho hay: "Chừng nào còn là môn học thì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai còn xa vời lắm. Nó phải là công cụ", ông Tuấn Minh dẫn ví dụ một trong số ít trường ĐH đang có sự chuyển biến tích cực trong việc tuyên bố tiếng Anh không phải là ngoại ngữ mà là một ngôn ngữ là ĐH Kinh tế quốc dân. Tiếng Anh xuất hiện trong giáo trình đào tạo, trong các văn bản hành chính và giao tiếp, làm việc tự nhiên hằng ngày ở ĐH này.
Tiếp lời, ông Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết dù trường có khoảng 50 - 60% chương trình đào tạo thuần túy bằng tiếng Anh nhưng cách tiếp cận không chỉ coi đây là công cụ trong hoạt động chuyên môn mà trong các hoạt động khác của trường.
Việc tuyển dụng giảng viên, theo ông Đức, cũng chia 2 mảng, trong đó yêu cầu phải có chứng chỉ tiếng Anh đủ để sử dụng trong công việc, ưu tiên những người tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo quốc tế. Việc tuyển dụng nhóm hành chính cũng tương tự, nhóm tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, giảng viên, sinh viên thì yêu cầu phải sử dụng được tiếng Anh trong soạn thảo văn bản, giao tiếp…
Ông Đức cũng cho biết mới đây ĐH này đã tiến hành khảo sát trình độ tiếng Anh của đội ngũ trong toàn trường để đánh giá lại và có những kế hoạch tiếp theo cho việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai. Về hạ tầng, tất cả các bảng chỉ dẫn trong trường đều trình bày ở dạng song ngữ…
Ông Lê Anh Đức cho rằng Nhà nước cần có chính sách cụ thể, bởi nếu các ĐH chỉ ưu tiên sinh viên đầu vào có năng lực tiếng Anh tốt thì các em đến từ địa bàn vùng sâu, vùng xa sẽ bất lợi, có thể giảm cơ hội vào trường tốt của các em. Do vậy, nếu có chính sách chung của Nhà nước thì các nhà trường sẽ tổ chức một khóa dự bị về tiếng Anh cho sinh viên ở những địa bàn khó khăn khi các em mới vào trường, tạo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục cho các em
Đại diện Trường ĐH Sư phạm Hà Nội chia sẻ đã bổ sung 15 tín chỉ tiếng Anh dành cho sinh viên mới vào trường. Nhà trường cũng đã có các tài liệu chuẩn bị cho việc bồi dưỡng giáo viên phổ thông dạy một số môn (khoa học tự nhiên) bằng tiếng Anh trên toàn quốc.
Tham luận tại hội thảo, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng khó khăn lớn nhất là định kiến sai lầm của xã hội về tiếng Anh và ngôn ngữ Anh như một công cụ hay một điểm thi quốc tế.
Nhóm cũng nêu đề nghị VN cần đưa ra một định nghĩa chính thức "tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai" là gì và phân biệt với việc chỉ học thêm một ngoại ngữ.
Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long cũng cho rằng cần đào tạo đội ngũ giáo viên (GV) có đủ năng lực giảng dạy song ngữ một cách bài bản. Đối với việc giảng dạy những môn học vốn đang được dạy bằng tiếng Việt hoặc những môn đại cương, cần rà soát khẩn trương khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh của đội ngũ GV hiện có, kể cả với các GV có chứng chỉ ngoại ngữ. Vì việc biết một thứ tiếng không thể đảm bảo rằng GV có đủ khả năng giảng dạy chuyên môn của mình bằng thứ tiếng đó.
Khi đã hoàn tất quy trình rà soát, ngành giáo dục có thể đặt hàng các khóa đào tạo tiếng Anh chuyên ngành hoặc giảng dạy bằng tiếng Anh chuyên ngành ở các cơ sở giáo dục ĐH để vừa nâng cao trình độ ngôn ngữ vừa đảm bảo kỹ năng giảng dạy cho GV.
Ông Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cũng thông tin trong các nhóm khó khăn thì đội ngũ giảng viên cũng là một yếu tố cản trở. Khả năng thu hút và giữ chân giảng viên có trình độ chuyên môn cao, năng lực ngoại ngữ xuất sắc còn hạn chế tại nhiều trường do cạnh tranh từ các cơ sở đào tạo khác hoặc khu vực tư nhân.
Cạnh đó, vấn đề cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính là khó khăn phổ biến của nhiều trường. Môi trường học tập và cơ hội thực hành tiếng Anh còn hạn chế. Thiếu môi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên và tự nhiên ngoài giờ lên lớp, đặc biệt tại những trường ở các tỉnh, vùng xa trung tâm, làm giảm cơ hội thực hành và duy trì động lực học tập của sinh viên…
Ông Vũ Thanh Mai, Phó ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư, khẳng định vai trò người thầy là quan trọng nhất trong việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của đội ngũ GV, giảng viên phải được ưu tiên hàng đầu.
Bà Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban quản lý Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân (Bộ GD-ĐT), nêu: "Việc triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục ĐH cần được thiết kế theo hướng phân tầng mục tiêu rõ ràng, nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với sự đa dạng của hệ thống giáo dục ĐH VN. Đối với nhóm các ĐH nghiên cứu và trường trọng điểm, mục tiêu là từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo song ngữ và tiến tới triển khai rộng rãi các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh (EMI) ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong các ngành khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị. Các cơ sở này cần đi đầu trong việc phát triển chương trình đào tạo song ngữ, trong đó từ 30% đến 70% học phần được giảng dạy bằng tiếng Anh, đồng thời mở rộng các chương trình EMI hoàn toàn với tỷ lệ học phần bằng tiếng Anh (trừ các nội dung bắt buộc triển khai bằng tiếng Việt)".
Trả lời phóng viên Dân trí trưa nay, đại diện Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết, Sở đã tiếp nhận phản ánh của phụ huynh học sinh và thông tin từ báo chí liên quan đến hoạt động giáo dục tại cơ sở mang tên “St. Mary’s International School”, địa chỉ Lô C3, khu đô thị mới Yên Hòa, Hà Nội.
Việc xác minh được tiến hành thận trọng, chi tiết bởi nhà trường có liên quan đến yếu tố nước ngoài.
Qua rà soát hồ sơ pháp lý thì UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2131/QĐ-UBND ngày 13/5/2021 cho phép thành lập Trường Mầm non quốc tế St. Mary’s tại địa chỉ trên.
Đồng thời, Sở GD&ĐT Hà Nội đã ban hành Quyết định số 872/QĐ-SGDĐT ngày 16/6/2021 cho phép tổ chức hoạt động giáo dục mầm non.
“Các nội dung liên quan khác đang được tiếp tục rà soát, xác minh theo quy định”, theo Sở GD&ĐT Hà Nội.
Sở này cũng yêu cầu Trường Mầm non quốc tế St. Mary’s và Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Giáo dục Toàn Cầu (GIS) báo cáo, giải trình và cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan; đồng thời tiếp tục rà soát, đối chiếu thông tin để làm rõ các nội dung theo phản ánh.
“Sở GD&ĐT Hà Nội đã thành lập tổ công tác để kiểm tra, xác minh các nội dung liên quan, làm cơ sở xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định (nếu có).
Đồng thời, Sở tiếp tục phối hợp với các phường, xã rà soát, tăng cường thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục trên địa bàn theo phân cấp và thực hiện việc cung cấp, cập nhật thông tin theo quy định”, đại diện Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết.
Trước đó, một phụ huynh phản ánh, Cơ sở giáo dục “St. Mary’s International School”, có địa chỉ tại Khu đô thị mới Yên Hòa, do Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Giáo dục Toàn Cầu (GIS) làm chủ đầu tư, chưa được cấp phép hoạt động.
Theo nội dung phụ huynh này đưa ra, con chị đã từng theo học tại cơ sở giáo dục nói trên từ tháng 8/2021 đến tháng 6/2025 trong điều kiện học tập ổn định, không gián đoạn.
Trong suốt thời gian này, gia đình đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính cũng như phối hợp chặt chẽ với nhà trường, không phát sinh bất kỳ tranh chấp nào.
Tuy nhiên, khi thực hiện thủ tục chuyển trường cho con, gia đình phát hiện có nhiều dấu hiệu cho thấy nhà trường không có hoặc không chứng minh được việc đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục theo quy định.
Do vậy khi gia đình chuyển trường cho học sinh này, hồ sơ của học sinh bị nghi ngờ về tính hợp lệ trong quá trình học tập trước đây.
Các cơ quan chức năng đang vào cuộc và tiếp tục xác minh các vấn đề liên quan.