Ví dụ như trưa mới đây, trời nắng chang chang, hai mẹ con đứng đợi hơn 30 phút ở trạm không một bóng mát.
Lúc đó tôi cứ nghĩ vài phút là có xe chẳng ngờ hơn 30 phút, có lẽ ngày lễ số chuyến xe ít, tối về chúng tôi đều cảm nắng lăn quay.
Vô số những lần khác ra trạm chờ xe, tôi thường xuyên phải chịu ít nhất 5-10 phút, có khi 15-20 phút dưới nắng gắt, thỉnh thoảng mưa bất chợt, đứng dưới trạm vẫn nóng như ngoài trời, thậm chí nóng hơn do bức xạ dội lại.
>> Cùng tác giả:
Hầu như xung quanh các trạm không có cây xanh tạo bóng mát tự nhiên để giảm nhiệt độ. Nhiều vị trí trạm đặt không hợp lý, chỗ đó không có địa chỉ cụ thể và ở những đoạn đường rất khó dừng xe làm cho việc đón chuyến xe để về rất khó khăn.
Thí dụ các trạm ở đường Võ Nguyên Giáp (Xa Lộ Hà Nội), đường Liên Phường. Nhiều trạm bị các hàng quán lấn chiếm, khách không có chỗ đứng chờ. Xung quanh nhếch nhác rác, bảng quảng cáo bừa bộn.
Vì vậy, tôi nghĩ cần tổ chức lại các trạm xe tốt hơn. Thí dụ như là cuộc thi thiết kế các Điểm dừng xe buýt (Bus stop), nhà chờ xe buýt (Bus shelter), Bus station (bến xe buýt) chọn loại vật liệu cách nhiệt, tán xạ ánh sáng, tích hợp mái vòm xanh hay là trồng cây xanh thấp và cây xanh che bóng mát.
Lắp thêm các tấm chắn nắng, còn dãy ghế ngồi chọn vật liệu gỗ làm bằng gỗ hoặc vật liệu không giữ nhiệt. Ngoài ra có thể tận dụng nắng để gắn các quạt năng lượng mặt trời tản bớt nhiệt.
Quan trọng là mỗi trạm xe phải kiểm tra hướng nắng, vị trí để có thiết kế phù hợp chứ không sử dụng một loại thiết kế duy nhất cho tất cả các trạm.
Ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, tôi thấy các trạm dừng xe buýt có thiết kế đa dạng để người dân cảm thấy thoải mái, tiện lợi khi chờ xe. Hiện giờ bởi chờ đón xe quá mệt mỏi nên đa số người dân vẫn chọn xe máy.
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi là một cô gái đi làm xa nhà, mỗi tháng đều đặn gửi tiền về cho mẹ. Với tôi, đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là cách để cảm thấy mình vẫn đang chăm lo cho gia đình, dù không ở bên cạnh. Mẹ cũng từng nói với tôi rằng "cứ gửi tiền về, mẹ giữ giúp, khi nào cần mẹ sẽ đưa lại".
Nhưng có một lần tôi thực sự cần tiền. Tôi ngỏ ý muốn lấy lại một khoản mình đã gửi trước đó. Câu chuyện tưởng chừng đơn giản lại trở thành một cuộc tranh cãi. Mẹ không đồng ý, hai bên nói qua nói lại rồi căng thẳng. Cuối cùng, tôi không mượn được tiền của chính mình.
Từ đó, tôi bắt đầu suy nghĩ lại. Tôi đi làm, tự lo chi phí sinh hoạt, tự gánh những khoản nợ phát sinh. Có lúc túng quá, tôi phải vay bên ngoài với lãi suất cao vì không còn cách nào khác. Trong khi đó, số tiền tôi gửi về lại không thể sử dụng khi cần. Tôi thấy mình rơi vào một tình thế rất khó xử.
>> Con trai út được 3/4 tài sản thừa kế dù nhà năm anh em
Tôi đã nhiều lần thử nói với mẹ rằng bản thân muốn tạm thời không gửi tiền về nữa, để tự dành dụm phòng thân. Nhưng cứ mỗi lần nhắc đến, câu chuyện lại đi vào ngõ cụt. Mẹ so sánh tôi với "con nhà người ta", nói tôi bất hiếu, rằng đi làm mà không gửi tiền về là không biết nghĩ. Có khi mẹ còn nói những lời rất nặng nề như từ mặt hay cắt đứt quan hệ. Chúng tôi gần như không thể nói chuyện quá vài câu khi chạm đến vấn đề này.
Tôi thực sự bối rối. Một bên là mong muốn được tự chủ tài chính, có một khoản dự phòng cho bản thân để không rơi vào cảnh bế tắc. Một bên là áp lực phải làm "đứa con ngoan", sợ làm mẹ buồn, sợ bị hiểu lầm là vô tâm, bất hiếu.
Tôi không nghĩ việc muốn giữ lại tiền mình làm ra để phòng thân là sai. Nhưng cách để nói điều đó với mẹ, để không biến nó thành mâu thuẫn, lại là điều tôi chưa tìm được. Tôi cũng tự hỏi, liệu việc im lặng và âm thầm không gửi tiền nữa có khiến mọi chuyện đỡ căng thẳng hơn, hay chỉ khiến khoảng cách giữa hai mẹ con ngày càng lớn?
Tôi viết những dòng này mong nhận được lời khuyên từ những người từng ở trong hoàn cảnh tương tự. Làm sao để vừa giữ được sự tôn trọng với gia đình, vừa được tự chủ tài chính?
NTTôi nêu ba điều kiện để các con được nhận thừa kế
Tính toán của tôi khi cho mỗi con một nhà thừa kế trăm m2
Tôi trắng tay vì mẹ để lại toàn bộ nhà, đất thừa kế cho em gái
'Trói chân con cái bằng 2 căn nhà thừa kế'
Tôi có sai khi muốn thừa kế nhiều hơn em gái?
Tôi mua hai nhà làm thừa kế cho con chứ nhất quyết không cho tiền
Nguồn: https://vnexpress.net/me-noi-toi-bat-hieu-vi-di-lam-khong-gui-tien-ve-5061221.html

"Tôi có hai người em (một trai, một gái). Em gái tôi 34 tuổi, làm việc ở Hà Nội với mức lương khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng. Em trai tôi 24 tuổi, lương khoảng 9 triệu đồng.
Nhiều lần, mẹ và vợ tôi đều hỏi hai em sao không tìm công việc khác tốt hơn, thu nhập cao hơn để tính chuyện mua nhà? Nhưng cả hai đều có chung một suy nghĩ: làm công việc hiện tại tuy lương không quá cao nhưng được nghỉ thứ bảy, chủ nhật, không bị áp lực tăng ca quá nhiều.
Các em nói với tôi rằng, dù có cố kiếm thêm vài triệu mỗi tháng thì cũng chẳng đủ để tạo khác biệt lớn trong việc mua nhà ở Hà Nội. Vậy nên, thay vì đánh đổi toàn bộ thời gian và sức khỏe để chạy theo thu nhập, các em chọn cuộc sống đủ chi tiêu và ở cùng bố mẹ.
Ngoài ra, tôi còn đứa cháu gọi tôi bằng cậu, 23 tuổi, đang làm việc ở Hải Phòng với thu nhập hơn 10 triệu đồng, cũng có suy nghĩ tương tự. Cháu mới có bạn gái và nói rằng sau này lấy vợ chắc vẫn ở cùng bố mẹ, vì tích cóp nhiều năm cũng khó mua nổi nhà riêng. Cháu bảo nếu sau này có thêm con cái, áp lực tài chính sẽ còn lớn hơn nên hiện tại, cũng không muốn lao vào làm thêm tăng ca quá nhiều.
>> Ảo tưởng giàu lên khi tôi mua nhà Hà Nội 5 tỷ để cho thuê
Con gái tôi năm nay 19 tuổi, đang học đại học nhưng cũng có suy nghĩ rất thực tế. Có lần, con nói với tôi: 'Sau này con có cố gắng học hành, làm việc cật lực, lương đến 50 triệu đồng mỗi tháng thì chắc cũng khó mua nổi nhà ở Hà Nội, nên con tính học xong sẽ tìm cơ hội đi nước ngoài'. Nghe con nói, tôi không biết nên phản đối hay đồng tình.
Tôi hiểu người trẻ bây giờ không lười biếng. Các em, các cháu vẫn đi làm, vẫn học tập, vẫn có trách nhiệm với cuộc sống của mình. Nhưng điều khác biệt là nhiều người không còn tin rằng chăm chỉ là đủ để đổi lấy một căn nhà như thế hệ trước từng nghĩ.
Thời của chúng tôi, dù khó khăn nhưng vẫn tồn tại cảm giác rằng chỉ cần cố gắng làm việc, tích góp nhiều năm thì sẽ có cơ hội mua nhà, ổn định cuộc sống. Còn bây giờ, khoảng cách giữa thu nhập và giá bất động sản dường như ngày càng xa. Một người trẻ lương 10-15 triệu đồng mỗi tháng ở thành phố lớn, sau khi trừ tiền ăn uống, đi lại và sinh hoạt, gần như rất khó tích lũy đáng kể. Ngay cả những người thu nhập khá hơn cũng mất nhiều năm mới đủ một khoản trả trước cho căn hộ nhỏ.
Có lẽ vì vậy mà nhiều người trẻ đang thay đổi tư duy sống. Họ ưu tiên cân bằng cuộc sống hơn là làm việc kiệt sức để theo đuổi mục tiêu mà bản thân cảm thấy quá xa vời. Một số chọn ở cùng gia đình lâu dài. Một số tìm cơ hội ra nước ngoài. Một số khác chấp nhận thuê nhà và không còn xem việc sở hữu nhà là đích đến bắt buộc.
Tôi không dám khẳng định suy nghĩ đó đúng hay sai. Nhưng rõ ràng, khi ngày càng nhiều người trẻ cùng nói 'cố mấy cũng không mua nổi nhà', đó không còn là câu chuyện của riêng một gia đình nữa".
Đó là chia sẻ của độc giả Trieuhung về giấc mơ an cư của người trẻ trong bối cảnh giá nhà vượt xa thu nhập khiến người Việt thuộc nhóm khó mua nhà nhất thế giới. Các chuyên gia cho rằng, giai đoạn 2023-2024 người Việt cần khoảng 23 năm thu nhập để mua nhà, con số này tăng lên 26 năm vào năm ngoái và hiện đã vượt 30 năm do giá bất động sản tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập. Mức này cao gấp đôi mặt bằng bình quân toàn cầu.
Còn theo dữ liệu từ Numbeo - nền tảng thống kê chi phí sinh hoạt lớn trên thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 10 trong hơn 100 quốc gia về mức độ khó tiếp cận nhà ở, tính theo số năm thu nhập cần tích lũy để mua nhà. Năm 2023, Việt Nam đứng thứ 14, nhưng hiện đã lên vị trí thứ 10, cho thấy khả năng mua nhà của người dân ngày càng khó khăn hơn. Trong bảng xếp hạng này, thứ hạng càng cao đồng nghĩa giá nhà càng vượt xa thu nhập.
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi thấy có một nghịch lý rất dễ bắt gặp ở các đô thị lớn hiện nay: Lương vừa về tài khoản đã lập tức chia nhỏ cho tiền thuê nhà, học phí của con, viện phí của cha mẹ, tiền điện nước, xăng xe, thực phẩm. Đến cuối tháng, thứ còn lại đôi khi không phải là khoản tiết kiệm, mà là cảm giác mình đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn luôn sống trong trạng thái "vừa đủ chống đỡ".
Vì thế, khi nhìn bảng lương và thấy một khoản thuế thu nhập cá nhân tiếp tục bị khấu trừ, không ít người bắt đầu đặt ra câu hỏi liệu mức thu nhập hơn 20 triệu hay gần 30 triệu đồng một tháng ở thời điểm này có còn được xem là "thu nhập cao" hay không?
Bởi thực tế ở Hà Nội hay TP HCM, một gia đình trẻ với mức thu nhập ấy vẫn có thể chật vật giữa áp lực nuôi con, chăm sóc cha mẹ và nỗi lo nhà ở kéo dài nhiều năm chưa dứt.
Đó là lý do đề xuất mới của Bộ Tài chính về việc người có thu nhập trên 28,6 triệu đồng một tháng mới bắt đầu phải nộp thuế thu nhập cá nhân ngay lập tức thu hút sự quan tâm lớn của xã hội.
Nhưng điều khiến dư luận chú ý không chỉ nằm ở con số 28,6 triệu đồng. Điều quan trọng hơn là thông điệp phía sau đề xuất ấy. Cơ quan hoạch định chính sách dường như đã bắt đầu nhìn rõ hơn áp lực chi tiêu thực tế của người lao động trong một xã hội mà chi phí sống đang thay đổi rất nhanh.
Ở Hà Nội hay TP HCM bây giờ, một gia đình trẻ có con nhỏ rất dễ chi tiêu 25-35 triệu đồng mỗi tháng mà vẫn chỉ đang cố giữ một cuộc sống ổn định ở mức cơ bản. Tiền thuê nhà tăng theo từng năm. Tiền gửi trẻ, thực phẩm, điện nước, xăng xe, bảo hiểm, thuốc men... tất cả đều âm thầm leo thang từng tháng một.
Nhiều người đi làm có cảm giác lương tăng không phải để sống tốt hơn, mà chỉ để đuổi theo tốc độ tăng của chi phí sinh hoạt. Và rồi một nghịch lý xuất hiện: không ít người đang bị xếp vào nhóm "có thu nhập chịu thuế", nhưng thực tế vẫn chưa đủ khả năng mua nhà, chưa dám sinh thêm con, chưa thể tích lũy cho tuổi già, thậm chí không ít người vẫn sống trong cảm giác bấp bênh nếu chẳng may mất việc vài tháng. Họ không nghèo, nhưng cũng rất xa mới tới được trạng thái gọi là "dư dả".
Nhiều năm qua, xã hội vẫn quen với suy nghĩ rằng thu nhập gần 30 triệu đồng/tháng là "mức sống cao". Nhưng thực tế ở các đô thị lớn hiện nay cho thấy, con số ấy đôi khi chỉ đủ để một gia đình nhỏ duy trì sự ổn định tương đối. Sau tiền thuê nhà, tiền học cho con, tiền thuốc men cho cha mẹ, các khoản bảo hiểm, điện nước, xăng xe và những chi phí phát sinh không tên khác, phần còn lại không nhiều như người ngoài vẫn tưởng.
Có những người lương gần 30 triệu đồng nhưng nhiều năm chưa dám mua nhà. Có những cặp vợ chồng trì hoãn sinh con thứ hai không phải vì không muốn, mà vì sợ áp lực tài chính. Cũng có những gia đình nhìn mức thu nhập trên giấy tờ tưởng khá, nhưng chỉ một đợt nằm viện kéo dài là toàn bộ khoản tích lũy lập tức bị xóa sạch.
Vì thế, điều đáng nói ở đề xuất lần này không nằm ở việc người dân sẽ giảm được bao nhiêu tiền thuế mỗi tháng. Điều quan trọng hơn là chính sách đang dần thừa nhận một thực tế rất đời thường: người có thu nhập gần 30 triệu đồng một tháng nhưng còn phải nuôi con, chăm cha mẹ, lo giáo dục và y tế... chưa chắc đã là người "dư dả".
Đặc biệt, nhóm lao động trí thức và trung lưu đô thị - những người làm văn phòng, kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, chuyên viên tài chính, nhân sự công nghệ, quản lý cấp trung... Đây là nhóm đang làm việc với cường độ rất cao, chịu áp lực nghề nghiệp lớn, nhưng lại thường xuyên có cảm giác mình bị "kẹt ở giữa". Họ không thuộc nhóm thu nhập thấp để nhận hỗ trợ. Nhưng cũng chưa đủ giàu để sống thật sự thoải mái giữa các đô thị đắt đỏ.
Họ có thể kiếm vài chục triệu đồng mỗi tháng, nhưng vẫn lo lắng về tiền học của con, khoản vay mua nhà kéo dài hàng chục năm, chi phí chăm sóc cha mẹ già và nỗi bất an nếu một ngày mất việc hoặc đau ốm.
Dù đề xuất nâng ngưỡng chịu thuế lần này nhận được nhiều phản hồi tích cực, không ít chuyên gia cho rằng vấn đề của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam thực ra không chỉ nằm ở mức giảm trừ gia cảnh.
Điều cần nhìn lại sâu hơn là cách thiết kế toàn bộ hệ thống thuế hiện nay từ biểu thuế, khoảng cách giữa các bậc thuế cho tới cách chính sách phản ánh chênh lệch chi phí sống trong xã hội. Bởi có một thực tế mà rất nhiều người lao động đang cảm nhận rõ: thu nhập tăng nhưng cảm giác "dễ thở hơn" lại không tăng tương ứng.
Hiện nay, khoảng cách giữa các bậc thuế còn khá ngắn. Chỉ cần lương tăng thêm một mức nhất định, người lao động có thể lập tức bước sang bậc thuế cao hơn, dù mức sống thực tế gần như chưa thay đổi đáng kể.
Về lý thuyết, việc điều chỉnh giảm trừ theo vùng có thể giúp chính sách công bằng hơn với người dân ở các đô thị đắt đỏ. Nhưng trên thực tế, đây là bài toán rất phức tạp.
Bởi một khi chia theo vùng miền, hệ thống quản lý thuế sẽ khó vận hành hơn rất nhiều. Câu hỏi đặt ra là phân chia theo tiêu chí nào? Theo địa chỉ thường trú hay nơi làm việc? Theo mức giá sinh hoạt hay theo tốc độ đô thị hóa? Và nếu chi phí sống thay đổi liên tục, cơ chế điều chỉnh sẽ được cập nhật ra sao để tránh bất hợp lý mới phát sinh?
Tin Gốc: Vnexpress

