Cây điều (hay còn gọi là đào lộn hột) có nguồn gốc từ Brazil, được du nhập vào miền Nam Việt Nam từ thế kỷ XVIII. Khi bén rễ tại vùng Đồng Nai, loại cây này đã nhanh chóng trở thành cây “xóa đói giảm nghèo” và làm giàu cho người nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc S’tiêng ở khu vực tỉnh Bình Phước cũ trước đây.
Từ những vườn cây sinh kế ban đầu, đến nay Đồng Nai đã phát triển thành vùng trồng điều tập trung lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 50% với tổng diện tích gần 175.000 ha.
Danh tiếng của hạt điều nơi đây được tạo nên từ sự ưu đãi tuyệt vời của tự nhiên: vùng đất đỏ bazan phì nhiêu kết hợp với khí hậu đặc trưng của Đông Nam bộ. Đặc biệt, mùa khô kéo dài tại đây trùng khớp hoàn toàn với giai đoạn cây điều ra hoa, kết trái. Cùng với kinh nghiệm canh tác và bí quyết chế biến được tích lũy qua nhiều thế hệ của người dân bản địa, hạt điều Đồng Nai sở hữu một hương vị đặc trưng mà không nơi nào có được.
Về cảm quan, hạt điều Đồng Nai có đặc điểm thân tròn, chắc, mẩy, cuống hạt phình to, bề mặt vỏ cứng sáng bóng với màu trắng sữa hoặc ngà nhẹ.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, Hội đồng Hạt quốc tế đã đánh giá Bình Phước cũ là vùng có hạt điều “ngon nhất thế giới”. Không chỉ chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu protein và chất béo lành mạnh, hạt điều nơi đây còn chinh phục người tiêu dùng nhờ vị đậm đà, giòn rụm và hậu vị ngọt thanh tự nhiên.
Ông Nguyễn Hoàng Đạt, Phó chủ tịch Hiệp hội Điều Đồng Nai, cho biết địa phương không chỉ dẫn đầu về diện tích vùng trồng mà đã trở thành công xưởng chế biến hạt điều của thế giới.
Hiện trên địa bàn thành phố có hơn 1.400 doanh nghiệp chế biến. Trong đó, nhiều đơn vị đã chủ động đầu tư công nghệ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu bài bản và xuất khẩu thành công đến những thị trường khó tính nhất toàn cầu như Mỹ, Trung Quốc, châu Âu…
Sự bứt phá của các doanh nghiệp đã đóng góp lớn vào bức tranh xuất khẩu chung của cả nước. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong năm 2025, ngành điều Việt Nam đã lập kỷ lục lịch sử với kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 5 tỉ USD.
Trước đó, tháng 5.2018, thương hiệu “Hạt điều Bình Phước” đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý (bao gồm hạt điều nguyên liệu, hạt điều nhân và hạt điều rang muối) trên địa bàn 91 đơn vị cấp xã (toàn bộ thuộc tỉnh Bình Phước cũ).
Việc bảo hộ này có ý nghĩa pháp lý quan trọng nhằm khẳng định chất lượng đặc thù, bảo vệ danh tiếng sản phẩm sau khi sáp nhập địa giới hành chính, đồng thời ngăn chặn tình trạng hàng giả, hàng nhái trôi nổi trên thị trường.
Dù vị thế xuất khẩu liên tục thăng hạng, ngành điều tại Đồng Nai lại đang đối mặt với một nghịch lý lớn: diện tích vùng trồng liên tục sụt giảm mạnh, gây ra tình trạng khan hiếm nguyên liệu thô trong nước.
Số liệu thống kê cho thấy xu hướng sụt giảm rất rõ rệt. Riêng tại khu vực Bình Phước cũ, nếu năm 2020 diện tích cây điều đạt khoảng 170.000 ha thì đến năm 2025 chỉ còn khoảng 152.000 ha.
Hiện tổng diện tích toàn thành phố Đồng Nai khoảng 175.000 ha. Tuy nhiên, theo kế hoạch phát triển cây ăn trái và cây công nghiệp chủ lực của địa phương, dự kiến đến năm 2030, con số này sẽ tiếp tục thu hẹp xuống còn khoảng 163.000 ha.
Nhìn nhận về thực tế này, ông Nguyễn Hoàng Đạt cho biết khoảng 5 năm trở lại đây, người trồng điều gặp quá nhiều áp lực. Thời tiết diễn biến thất thường ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, tỷ lệ vườn điều già cỗi quá lớn, sâu bệnh phức tạp trong khi giá cả thị trường biến động mạnh khiến thu nhập của người dân không ổn định.
“Xu hướng chuyển đổi sang các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn đang diễn ra khá rõ ràng. Điều này tạo áp lực cực kỳ lớn cho ngành điều khi vùng nguyên liệu lớn nhất trong nước đang ngày càng thu hẹp”, ông Đạt nhận định.
Cũng theo Phó chủ tịch Hiệp hội Điều Đồng Nai, nguồn nguyên liệu nội địa hiện chỉ đáp ứng được một phần nhỏ công suất các nhà máy, phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu từ châu Phi.
Việc này dù giúp duy trì chuỗi sản xuất nhưng lại đẩy doanh nghiệp vào thế bị động trước rủi ro chất lượng nguyên liệu không đồng đều, chi phí logistics neo ở mức cao và khó kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn đầu vào.
“Về lâu dài, nếu không có chiến lược phục hồi và phát triển vùng nguyên liệu bền vững ngay trong nước, ngành điều Việt Nam sẽ rất khó để xây dựng và duy trì một thương hiệu mạnh, ổn định trên trường quốc tế”, ông Đạt bày tỏ lo lắng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TPHCM trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách đồng bộ, đột phá, vượt trội, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để, tạo điều kiện thúc đẩy đô thị đặc biệt TPHCM trở thành biểu tượng phát triển năng động của Việt Nam.
TPHCM cũng được định hướng là đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng, cực đổi mới sáng tạo và hội nhập quan trọng của cả nước.
Mục tiêu được Bộ Chính trị đặt ra là đến năm 2030, TPHCM là đô thị văn minh, hiện đại, năng động, sáng tạo, trung tâm kinh tế... và có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á.
Đến 2045, theo Bộ Chính trị, TPHCM trở thành đô thị văn minh, hiện đại, năng động, sáng tạo; trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của châu Á, là điểm đến hấp dẫn toàn cầu.
Hướng đến 100 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 2075, TPHCM sẽ là đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, ngang tầm các đô thị phát triển trên thế giới.
Đề ra chỉ tiêu cụ thể, Bộ Chính trị nêu rõ giai đoạn 2026-2030, tăng trưởng GRDP của TPHCM tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 14.000 USD.
Cùng với đó, kinh tế số chiếm khoảng 40% GRDP. TPHCM đến 2030 cũng cần hoàn thành khoảng 200km đường sắt đô thị và cơ bản giải quyết tình trạng úng ngập, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và không ma tuý.
Giai đoạn 2031-2035, Thành phố cần đạt tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2035, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 25.000 USD. Kinh tế số chiếm khoảng 60% GRDP.
Đến giai đoạn 2036-2045, tăng trưởng GRDP của TPHCM đạt tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2045, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 75.000 USD. Thời điểm này, Thành phố cần hoàn thành kết nối hệ thống đường sắt đô thị và đạt mức phát thải ròng bằng "0".
Bộ Chính trị cũng nêu rõ mục tiêu trong giai đoạn 2046-2075, TPHCM đạt tăng trưởng GRDP tối thiểu 6%/năm. Đến năm 2075, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 100.000 USD.
Để hiện thực hóa các chỉ tiêu trên, Bộ Chính trị định hướng Thành phố xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.
Trong đó, TPHCM sẽ hình thành các trung tâm tài chính, logistics tầm khu vực và quốc tế, trở thành trung tâm dịch vụ lớn của cả nước và khu vực với các ngành dịch vụ cao cấp, hiện đại.
Giải pháp xây dựng thể chế đột phá, vượt trội phát triển TPHCM trong kỷ nguyên mới cũng được Bộ Chính trị đưa ra, với định hướng xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt nhằm tạo thể chế đặc biệt vượt trội, khung pháp lý đồng bộ, phù hợp, trở thành "đột phá của đột phá", tạo điều kiện thuận lợi nhất cho TPHCM khai thác tối đa hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, huy động mọi nguồn lực tăng tốc, phát triển nhanh và bền vững.
Trong đó, Bộ Chính trị nhấn mạnh việc phân cấp, phân quyền triệt để cho HĐND, Chủ tịch UBND Thành phố trong các lĩnh vực (trừ nội dung về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo); đồng thời tăng cường thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu các cấp gắn liền với cơ chế kiểm soát quyền lực.
TPHCM cũng được ưu tiên lựa chọn áp dụng các quy định pháp luật thuận lợi hơn đối với các lĩnh vực theo đặc thù của địa phương.
Bên cạnh đó, Bộ Chính trị định hướng quy hoạch phát triển TPHCM với tầm nhìn dài hạn, ổn định, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong đó, TPHCM được định hướng quy hoạch, phát triển một số đô thị mới là vệ tinh của vùng đô thị trung tâm theo hướng hiện đại, thông minh, môi trường sinh thái tốt, số hóa tối đa, hạ tầng đồng bộ, hình thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt để mở rộng không gian phát triển, trở thành các đô thị kiểu mẫu về chất lượng sống hàng đầu Việt Nam và khu vực.
Ông Ngọc đảm nhiệm cương vị mới thay ông Nguyễn Hữu Nghĩa đã được Quốc hội bầu giữ chức Tổng kiểm toán Nhà nước.
Ông Phạm Quang Ngọc 53 tuổi, quê tỉnh Ninh Bình; tiến sĩ Chăn nuôi, thạc sĩ Khoa học môi trường, cử nhân Sinh học; Ủy viên Trung ương Đảng khóa 14.
Ông từng giữ chức Chủ tịch UBND và Bí thư Huyện ủy Yên Khánh, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình. Tháng 12/2020, ông được bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình (cũ). Khi Ninh Bình sáp nhập với Hà Nam và Nam Định, ông được chỉ định giữ chức Chủ tịch tỉnh Ninh Bình mới.
Trong đợt bố trí lãnh đạo tỉnh thành không phải người địa phương cuối năm 2025, ông Ngọc được luân chuyển giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên.
Tỉnh Hưng Yên được thành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh Hưng Yên (cũ) và Thái Bình, có diện tích hơn 2.500 km2 và dân số khoảng 3,56 triệu. Đại hội Đảng bộ tỉnh đầu tháng 10 đặt mục tiêu đến năm 2035 sẽ trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, đáp ứng tiêu chí đô thị loại I; đến năm 2045 phấn đấu trở thành thành phố thông minh, sinh thái trực thuộc Trung ương, có nền công nghiệp hiện đại dẫn đầu cả nước và là trung tâm kinh tế biển mạnh ở phía Bắc.
Ngày 31/5, Bộ Tư lệnh TP HCM đưa ông Võ Huy Thịnh, 70 tuổi, đến khảo sát tại công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng. Ông Thịnh cho biết từng chứng kiến cảnh chôn cất tập thể các chiến sĩ tại nghĩa trang Đô Thành, nay là công viên Lê Thị Riêng, cách đây 58 năm.
Thời điểm đó, ông Thịnh 12 tuổi, đang học lớp đệ lục (tương đương lớp 7 hiện nay). Do các trận đánh liên tiếp xảy ra trong nội thành Sài Gòn, trường học đóng cửa. Khoảng 10h một ngày sau Tết Mậu Thân, ông cùng nhóm bạn từ khu vực Ngã ba Ông Tạ đến nghĩa trang Đô Thành chơi.
Tại đây, ông thấy xe tải của quân đội Việt Nam Cộng hòa chạy vào nghĩa trang trên đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám), chở khoảng chục thi thể đã phân hủy, trương phình, không còn nguyên vẹn do trúng bom đạn, trong đó có một số người mặc đồ bà ba đen.
Theo lời kể của ông, nhân viên Sở Vệ sinh dùng cáng đưa các thi thể xuống hố hình chữ nhật dài hơn 10 m, sâu khoảng 5 m, rồi rải một lớp bột màu trắng để giảm mùi hôi. "Các thi thể được xếp chồng lên nhau ngay ngắn như hộp cá mòi rồi xe ủi lấp đất lại", ông Thịnh nói.
Ông xác định vị trí hố chôn cách cổng nghĩa trang khoảng 50 m, lệch về bên trái theo hướng nhìn từ đường Lê Văn Duyệt. Đối chiếu với sơ đồ nghĩa trang Đô Thành trước đây và công viên Lê Thị Riêng hiện nay, ông cho rằng khu vực này có thể nằm gần nhà truyền thống phía sau cổng công viên trên đường Cách Mạng Tháng Tám, cách cư xá Bắc Hải khoảng 500 m.
Sau năm 1975, ông Thịnh nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại Campuchia. Năm 1978, ông bị thương, thủng màng nhĩ và trở về TP HCM sinh sống. "Tôi luôn nhớ cảnh chôn cất tập thể hôm đó và mong góp sức tìm kiếm các liệt sĩ", ông nói.
Dẫn đầu đoàn khảo sát, thiếu tướng Nguyễn Thành Trung, Chính ủy Bộ Tư lệnh TP HCM, cho biết việc khởi động quá trình tìm kiếm xuất phát từ bức ảnh do cựu phóng viên AP (Mỹ) gửi về gần đây. Tấm hình ghi lại cảnh hai người đàn ông cùng ba trẻ em đứng quan sát việc chôn cất các chiến sĩ tại khu đất trống thuộc nghĩa địa Chí Hòa, còn gọi là nghĩa địa Đô Thành.
Kết hợp nhiều tài liệu lịch sử, thiếu tướng Trung cho biết sau chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, khu vực nay là công viên Lê Thị Riêng từng là nơi chôn tập thể các chiến sĩ đặc công, biệt động Sài Gòn trong hai rãnh sâu hình chữ nhật.
Trước khi công viên được xây dựng năm 1983, lực lượng chức năng từng quy tập hơn chục hài cốt liệt sĩ tại đây. Từ các tư liệu, hình ảnh và lời kể nhân chứng, đơn vị quân đội bước đầu nhận định hố chôn tập thể có thể nằm gần khu nhà truyền thống và cầu Thê Húc trong công viên.
Theo thiếu tướng Nguyễn Thành Trung, sau buổi khảo sát, Bộ Tư lệnh TP HCM sẽ báo cáo Ban chỉ đạo tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Quân khu 7; đồng thời tổ chức hội thảo để tổng hợp thông tin, khoanh vùng khu vực nghi vấn.
Đơn vị cũng dự kiến phối hợp Khoa Vật lý địa cầu, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM sử dụng thiết bị khảo sát địa vật lý bằng sóng siêu âm (sonar) để kiểm tra lòng đất tại các vị trí nghi có hài cốt liệt sĩ trước khi xây dựng phương án quy tập.