Sáng 21.7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm giữa VND với USD ở mức 25.260 đồng, tăng 8 đồng so với hôm qua. Tuy nhiên, giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại vẫn không thay đổi. Cụ thể, Ngân hàng Vietcombank duy trì chiều mua chuyển khoản 26.110 đồng, bán ra 26.490 đồng như hôm qua; Ngân hàng ACB cũng tiếp tục mua chuyển khoản 26.110 đồng và bán ra ở mức 26.470 đồng…
Trong khi đó, giá USD tự do tiếp tục đi xuống khi còn mua vào 26.400 đồng và bán ra 26.500 đồng, giảm 50 đồng so với hôm qua.
Giá USD thế giới bật tăng trở lại. Chỉ số USD-Index đạt 100,99 điểm, tăng 0,22 điểm so với hôm qua. Căng thẳng giữa Mỹ và Iran vẫn lên cao làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu. Giá dầu thế giới biến động mạnh, làm gia tăng nhu cầu đối với các tài sản an toàn, trong đó có đồng USD.
Các chuyên gia nhận định, mặc dù lạm phát tại Mỹ đang có dấu hiệu hạ nhiệt, song rủi ro từ giá năng lượng tăng trở lại có thể khiến áp lực lạm phát chưa hoàn toàn được loại bỏ. Điều này góp phần củng cố quan điểm Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng nhằm bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát lâu dài.
Chủ tịch Fed chi nhánh Cleveland – Beth Hammack là quan chức mới nhất lên tiếng cho rằng Fed có thể cần tiếp tục nâng lãi suất để đưa lạm phát trở lại mục tiêu. Quan điểm này làm gia tăng khả năng xuất hiện các ý kiến bất đồng tại cuộc họp chính sách sắp tới sẽ diễn ra trong tháng 9. Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường hiện dự đoán khoảng 80% khả năng Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 12, tăng so với mức 73% của tuần trước. Một dự báo từ các quan chức Fed trước đây cũng nhận định, lãi suất quỹ liên bang vào cuối năm 2026 được kỳ vọng ở mức trung bình 3,8%, cao hơn mức 3,6% hiện nay…
Tin Gốc: Thanh Niên

Ghi nhận sáng 15.7 tại bến xe buýt Công viên 23.9 (phường Bến Thành, TP.HCM), khu vực nhà chờ luôn đông kín người. Nhiều hành khách ngồi chờ các chuyến xe buýt để đi làm, đi chợ hoặc đến bệnh viện.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chính quyền TP.HCM cho biết đang nghiên cứu điều chỉnh cấu trúc đô thị theo hướng giãn dân ra vùng ven. Chủ trương thành phố sẽ không xây mới chung cư cao tầng ở trung tâm, ưu tiên quỹ đất lớn cho công viên, không gian công cộng để giảm áp lực hạ tầng.
Ngoài việc hạn chế cao ốc ở khu vực lõi đô thị, TP.HCM cũng nghiên cứu mô hình nhà ở thương mại giá hợp lý tại các khu vực xa trung tâm. Đây không phải nhà ở xã hội hay nhà ở thuê mua, nhưng sẽ có mức giá phù hợp với khả năng chi trả của một bộ phận người dân.
Đầu tháng 1, HĐND TP.Hà Nội đã thông qua nghị quyết về điều chỉnh chương trình phát triển nhà ở thành phố giai đoạn 2021 - 2030. Nghị quyết xác định kiểm soát phát triển nhà ở tại khu vực nội đô lịch sử. Mục tiêu là hạn chế gia tăng dân số, giảm áp lực quá tải hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, từng bước cải thiện chất lượng không gian đô thị khu vực lõi.
Việc hạn chế tối đa xây chung cư mới trong nội đô là điều cần thiết và cũng là xu hướng chung của nhiều thành phố phát triển trên thế giới. Song trên thực tế, nhiều chung cư cao tầng đang tiếp tục được "nhồi" vào khu vực trung tâm trong Vành đai 3 Hà Nội.
Theo KTS Trần Huy Ánh, Ủyy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, có nhiều bất cập trong quy hoạch đang bị các nhóm kinh doanh bất động sản "trục lợi thông tin". Ông cho rằng, chủ trương tái thiết thành phố, giải tỏa một số khu vực để phục vụ các dự án hạ tầng, không hoàn toàn là việc di dân vùng lõi ra vùng ven, như cách “tung tin” của nhiều “cò đất” để đẩy giá chung cư trung tâm cũng như vùng ven tăng lên.
“Quy hoạch Hà Nội 100 năm có rất nhiều vấn đề quan trọng khác như mở rộng không gian kết nối giữa các tỉnh, các vùng thì không được đề cập nhiều. Trong khi những điểm liên quan đến bất động sản như 9 trục, 9 cực, đa tầng, đa lớp lại được nhắc đến quá nhiều, khiến ngay cả người dân có đất có nhà sổ đỏ cũng hoang mang”, ông nêu.
Trên thực tế, việc hạn chế phát triển chung cư cao tầng tại khu vực nội đô vô hình trung lại khiến các dự án đang được xây dựng trong khu vực Vành đai 3 thành “hàng hiếm”, với lợi thế độc quyền tự nhiên về vị trí tạo hiệu ứng khan hàng, giá cao. Đây là lý do ngay khi xuất hiện thông tin dự án Masterise Cao Xà Lá sắp mở bán, các sàn và môi giới độc quyền đều quảng bá vị trí đắc địa cuối cùng của thủ đô trong Vành đai 3.
Mặt bằng giá chung cư trong khu vực Vành đai 3 trở vào đều đã ở mức trên 100 - 120 triệu đồng/m2, song các dự án mới như Cao Xà Lá, mức giá thậm chí 150 - 180 triệu đồng/m2 (thông thủy).
Tuy nhiên, đây có phải vị thế thực sự đắc địa và liệu việc “nhồi” tiếp cao ốc vào nội đô có đi ngược lại những chủ trương kéo giãn dân khỏi nội đô?
Trục đường Nguyễn Trãi - Ngã Tư Sở, một trong những điểm đen ùn tắc của thủ đô sắp tới sẽ tiếp tục được nhồi thêm khu đô thị phức hợp với 9 tòa chung cư cao tầng, dự kiến 35 - 46 tầng. Đây là khu vực trước đây thuộc 3 nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá (gọi tắt là Cao Xà Lá).
Việc Hà Nội di dời các nhà máy cũ gây ô nhiễm ra khu vực nội đô trong vành đai 3 từng được kỳ vọng sẽ giúp giảm áp lực ùn tắc cho một trong những trục đường huyết mạch. Hiện, thành phố cũng đang di dời hàng loạt hộ dân trên đường Nguyễn Trãi để làm đường Vành đai 2.
Tuy nhiên, dù mở thêm đường, thì với hàng loạt tòa chung cư cao tầng hai bên đường sắp sửa được xây dựng, trục đường Nguyễn Trãi - Ngã Tư Sở khó thoát được cảnh ùn tắc thời gian tới. Đáng nói, Hà Nội từng có bài học đắt giá khi trục đường Lê Văn Lương - Tố Hữu vỡ quy hoạch với mật độ chung cư dày đặc, khiến đây là một trong những điểm đen ùn tắc nghiêm trọng nhiều năm nay. Chỉ hơn 1,5 km đường Lê Văn Lương đã có hơn 30 tòa chung cư cao tầng…
Đề cập tới trường hợp xây dựng các khu dân cư quy mô lớn tại trục đường Nguyễn Trãi - Ngã Tư Sở tương tự như các trục đường lớn Sukhumvit và Silom (Bangkok, Thái Lan), theo KTS Trần Huy Ánh, vấn đề không phải là mật độ mà là quy hoạch Hà Nội nói về “phép mầu” TOD, nhưng hiện trạng tuyến đường lại khác hẳn.
Nhà đầu tư thì chỉ loay hoay xây nhà bán trong tường rào. Nhà quản lý thì loay hoay mở đường mà không tích hợp với đô thị: nhà làm đến đâu đường tắc đến đó. Hệ quả là đường mở tới đâu, được vài ngày thông thoáng lại ùn tắc, thậm chí ùn tắc trầm trọng hơn.
Trong khi đó, Bangkok xây nhà to dày đặc hai bên đường nhưng metro trên cao và đường bộ mặt đất đông xe gấp nhiều lần Hà Nội vẫn thông suốt. Do người đi bộ tiếp cận được nhà ga từ trên cao có cầu nối với các tòa nhà hai bên đường, các tòa nhà cũng nối với nhau. Nhiều chủ đầu tư tòa nhà còn làm sân rộng, sâu 20 năm khai thác chuyển giao lại không gian công cộng trên cao cho thành phố.
“Các nước phát triển đô thị đa tầng, đa lớp thực chất. Nhưng ngay tại đô thị lớn bên con đường lớn như Nguyễn Trãi thì nhà xây cao tầng bên cạnh tuyến đường sắt cao tầng mà không kết nối với nhau. Nếu chủ dự án có tầm nhìn, nhà quản lý có năng lực thì phải cùng nhau khai thác đa tầng, đa lớp tại đây”, ông Ánh nhấn mạnh.
TS Phan Lê Bình, chuyên gia giao thông, cũng cho rằng việc xây dựng các khu đô thị và quy hoạch giao thông công cộng đang bị tách biệt. "Định hướng phát triển mô hình TOD trên thế giới là khu vực nơi nhiều người dân sinh sống phải gắn với các nhà ga metro, tăng tính kết nối công cộng và giảm áp lực phương tiện cá nhân. Nhưng thực tế như Hà Nội, ngay cả khi đã có các tuyến metro thì kết nối của các dự án chung cư cao tầng tới các khu vực nhà ga vẫn rất kém, thậm chí không có kết nối", ông nêu.
Theo chuyên gia này, Hà Nội phải ra các đầu bài cho chủ đầu tư khi xây dựng những công trình khu đô thị lớn, là phải tạo kết nối cho người dân di chuyển bằng metro thuận tiện. Không lý gì thành phố bỏ hàng chục nghìn tỉ đồng để xây mỗi tuyến metro, nhưng vẫn trong tình cảnh "nhà ga một nơi, khu đô thị một nẻo" như hiện nay.
Một thành phố đáng sống không chỉ có nhiều tòa nhà cao tầng mà cần có không gian xanh, môi trường trong lành và hệ thống giao thông hợp lý để người dân được sinh sống thuận tiện, an toàn và bền vững hơn trong tương lai.
Tin Gốc: Thanh Niên

Nội dung của nghiên cứu được nêu trong Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) vừa công bố.
Ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký IAV cho biết, đây là lần đầu tiên sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, ngành bảo hiểm nhân thọ (BHNT) Việt Nam chung tay thực hiện một nghiên cứu độc lập về nhận thức và hành vi của người dân trong lĩnh vực này.
“Việc công bố nghiên cứu không chỉ cung cấp bức tranh toàn cảnh về mức độ nhận biết và tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ trong đời sống xã hội, mà còn là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và toàn ngành bảo hiểm xây dựng các giải pháp phù hợp để phục vụ người dân tốt hơn trong thời gian tới”, ông Nguyễn Phong Cầm chia sẻ.
Kết quả nghiên cứu của IFM Research cho thấy, có đến 89% người được khảo sát đánh giá bảo hiểm nhân thọ là thiết yếu trong cuộc sống. Tỷ lệ này đạt 91% ở nhóm đang sở hữu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, 86% ở nhóm chưa sở hữu và 91% ở nhóm từng sở hữu. Đây là một tín hiệu tươi sáng, khẳng định bảo hiểm nhân thọ đã và đang được nhận diện rộng rãi như một giải pháp có vai trò quan trọng trong đời sống tài chính của người dân, không chỉ trong nhóm đã tham gia mà cả ở nhóm chưa sở hữu sản phẩm.
Đồng thời, nghiên cứu cũng ghi nhận mức độ hiểu biết tương đối tích cực của mọi người về loại hình sản phẩm này. Theo đó, 58% người tham gia tự đánh giá mình có mức độ hiểu biết cao về BHNT. Tỷ lệ này khá đồng đều giữa các nhóm tuổi: 57% ở nhóm 22-29 tuổi, 59% ở nhóm 30 - 40 tuổi và 58% ở nhóm trên 40 tuổi.
Những lý do chính khiến BHNT được xem là cần thiết đều gắn với các nhu cầu rất căn bản của mỗi gia đình: 57% cho rằng BHNT giúp bảo vệ trước rủi ro bệnh tật, tai nạn, tử vong; 45% nhấn mạnh vai trò ổn định tài chính cho gia đình.
Thực tế cho thấy, việc chủ động đưa BHNT vào kế hoạch tài chính vẫn còn một khoảng cách nhất định. Thay vì sử dụng bảo hiểm như một công cụ quản lý rủi ro chủ động, phần lớn người dân vẫn duy trì tư duy tài chính mang tính “phòng vệ”.
Khi có biến cố, giải pháp đầu tiên họ nghĩ tới là sử dụng tiền tiết kiệm (67%), cắt giảm chi tiêu (53%) hoặc tìm thêm nguồn thu nhập (39%). Điều này phản ánh thực tế rằng bảo hiểm nhân thọ hiện vẫn được nhìn nhận như một lớp bảo vệ bổ sung, chưa phải là giải pháp cốt lõi trong chiến lược tài chính cá nhân.
Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành IFM Research nhận định: Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để các thương hiệu định hình lại thị trường thông qua đơn giản hóa các điều khoản trong Hợp đồng bảo hiểm, minh bạch thông tin, nâng cao chất lượng tư vấn và giáo dục tài chính bài bản.
Theo khảo sát, những rào cản chính kéo dài quyết định mua BHNT của người dân gồm: thời gian đóng phí dài, ưu tiên các kênh tiết kiệm/đầu tư khác, khó khăn tài chính hoặc chưa thấy nhu cầu cấp thiết. Riêng nhóm 22 - 29 tuổi, thiếu tư vấn phù hợp là trở ngại lớn nhất.
Đáng chú ý, áp lực tài chính được chỉ ra là nguyên nhân chính dẫn đến việc khó duy trì hợp đồng dài hạn. Mức phí đóng trung bình hiện nay đạt khoảng 1,8 triệu đồng/tháng (22 triệu đồng/năm), được xem là rào cản đáng kể khi thu nhập biến động hoặc khi người dân chưa thấu hiểu rõ giá trị thực nhận so với kỳ vọng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ thành thục trong lập kế hoạch tài chính còn thấp. Có đến 83% người tham gia khảo sát có kế hoạch tài chính, trong đó 46% có cả mục tiêu ngắn và dài hạn. Tuy nhiên, hầu hết chỉ mới nghĩ đến việc lập kế hoạch tài chính mới đây, sau dịch Covid-19, và ít được rà soát.
“Điều này cho thấy người dân đã bắt đầu hình thành thói quen lập kế hoạch nhưng mức độ thành thục chưa cao, từ đó đặt ra các yêu cầu về sự cần thiết phải truyền thông giáo dục người dùng về hoạch định tài chính dài hạn và vai trò của BHNT trong chiến lược dự phòng”, nghiên cứu của nhận định.
Theo nghiên cứu của IFM Research, để một thương hiệu bảo hiểm được xem là đáng tin cậy, người dân ưu tiên thông tin và điều khoản rõ ràng, năng lực tài chính ổn định, và tư vấn viên chuyên nghiệp, giải thích dễ hiểu.
Trong nhóm chưa sở hữu BHNT, 80% cho biết có dự định mua trong 12 tháng tới. Con số này cho thấy nhu cầu tiềm năng của thị trường vẫn còn lớn, nhưng giá trị quan trọng hơn nằm ở sự thay đổi trong cách người dân tiếp cận bảo hiểm. Họ không đứng ngoài bảo hiểm nhân thọ, mà đang tìm hiểu, so sánh và cân nhắc kỹ hơn trước khi đưa ra một quyết định dài hạn.
Ông Nguyễn Phong Cầm nhận định: “Điều này cho thấy thị trường đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế. Đây là dấu hiệu của một thị trường trưởng thành hơn. Khi khách hàng đặt câu hỏi rõ hơn, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thêm cơ hội để tư vấn sát hơn, thiết kế giải pháp phù hợp hơn và đồng hành dài hạn hơn”.
IFM Research nhận định, BHNT cần được tiếp tục nhấn mạnh như một công cụ bảo vệ tài chính chủ động, với quyền lợi minh bạch và hỗ trợ sau bán để tạo sự yên tâm khi quay lại sản phẩm.
Các số liệu thực tế về rủi ro là đáng báo động. Số liệu thống kê từ Bộ Y tế cho thấy, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 1,1 triệu trường hợp mắc tai nạn thương tích đến khám và điều trị tại cơ sở y tế và hơn 30 nghìn người tử vong do tai nạn thương tích. Đáng chú ý, tai nạn giao thông đường bộ, đuối nước và tai nạn lao động là những nguyên gây tử vong hàng đầu do tai nạn thương tích.
“Do đó, cần thúc đẩy chuyển hóa nỗi lo lắng thành hành động, rằng BHNT là giải pháp tài chính thiết thực để đảm bảo thu nhập gia đình và chi phí y tế khi biến cố bất ngờ xảy ra, giúp ổn định cuộc sống và hỗ trợ các mục tiêu tài chính dài hạn của mỗi cá nhân, gia đình”, ông Ralf Matthaes - Giám đốc Điều hành IFM Research nhấn mạnh.
“Khi được hiểu đúng, lựa chọn đúng và duy trì phù hợp, BHNT không chỉ là một hợp đồng tài chính. Đó là một cách mỗi người thể hiện trách nhiệm với bản thân, với gia đình và với tương lai. Đây cũng là giá trị bền vững mà ngành BHNT có thể đóng góp cho xã hội: giúp nhiều gia đình Việt Nam sống chủ động hơn, an tâm hơn và vững vàng hơn trước những biến động của cuộc sống”, ông Nguyễn Phong Cầm - Phó Tổng thư ký IAV khẳng định.
Tin Gốc: Thanh Niên

