9 trong 34 tỉnh, thành phố ghi nhận GRDP tăng trên 10% trong nửa đầu năm, theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính). Hà Tĩnh dẫn đầu với 12,79%, tiếp theo là Ninh Bình 11,44%, Hải Phòng 11,33% và Quảng Ninh 11,11%. Nhóm còn lại gồm Hưng Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Tây Ninh và Thái Nguyên.
Trong số này, chỉ có Hà Tĩnh, Ninh Bình và Tây Ninh vượt mục tiêu tăng trưởng đề ra. Ngược lại, 4 tỉnh, thành phố GRDP đạt dưới 7%, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ giữa các vùng.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực của nhóm dẫn đầu. Với mức tăng 24,25%, khu vực công nghiệp – xây dựng đã đóng góp 9,4 điểm phần trăm vào GRDP, đưa Hà Tĩnh vươn lên dẫn đầu cả nước. Đà bứt phá này gắn với loạt dự án quy mô lớn được vận hành, tăng tốc triển khai như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, nhà máy sản xuất xe máy điện VinFast, hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà, Gia Lách mở rộng…
Nhóm tăng trưởng hai chữ số còn có Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên và Thái Nguyên. Đây đều là những thủ phủ công nghiệp, thu hút FDI hàng đầu cả nước nhờ thế mạnh sản xuất thiết bị điện tử. Theo số liệu của Cục Thống kê, sản xuất công nghiệp tại Bắc Ninh, Thái Nguyên tăng gần 20%; trong khi Hải Phòng thu hút 3 tỷ USD vốn FDI 6 tháng đầu năm – gấp gần 1,8 lần cùng kỳ.
Cùng với công nghiệp, dịch vụ ngày càng thể hiện rõ đóng góp vào tăng trưởng của nhiều địa phương. 6 tháng qua, du lịch của Ninh Bình ghi nhận phục hồi mạnh khi đón 17,6 triệu lượt khách, với doanh thu gần 18.000 tỷ đồng.
Quảng Ninh tiếp tục kết hợp giữa công nghiệp và du lịch để duy trì mức tăng trưởng trên 11%, trong khi Hải Phòng cũng hưởng lợi từ hoạt động vận tải, kho bãi và thương mại nhờ lợi thế cảng biển.
Dù giữ vai trò đầu tàu đóng góp khoảng một phần ba quy mô nền kinh tế, Hà Nội và TP HCM vẫn chưa đạt kịch bản tăng trưởng hai chữ số trong 6 tháng đầu năm. Nhờ khu vực dịch vụ bứt phá cùng sự phục hồi của công nghiệp – xây dựng, GRDP của TP HCM tăng 8,55% (mức cao nhất một thập kỷ), còn Hà Nội đạt 8,22%.
Ở chiều ngược lại, các địa phương tăng trưởng thấp vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, một số ngành đơn lẻ và yếu tố khách quan (thời tiết, chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ), theo Cục Thống kê. Trong đó, 4 tỉnh, thành phố GRDP đạt dưới 7%, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ giữa các vùng.
Sơn La đứng cuối bảng xếp hạng với GRDP chỉ tăng 6,02% (mục tiêu cả năm 8%) do sản lượng thủy điện sụt giảm. Việc thi công dự án mở rộng Quốc lộ 6 bị kéo dài đã ảnh hưởng tới lưu thông hàng hóa, du lịch của địa phương này. Tuy vậy, tỉnh vẫn thu hút được 22 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 43.000 tỷ đồng, gấp 5 lần cùng kỳ. Địa phương đặt mục tiêu thu hút hơn 50.000 tỷ đồng vốn trong nửa cuối năm, góp phần vào kế hoạch đạt GRDP 8% năm nay.
Thanh Hóa xếp thứ 28 trong 34 địa phương với GRDP tăng 7,21%, chưa đạt kịch bản đề ra. Để bù đắp tăng trưởng, tỉnh đặt mục tiêu đưa 15 dự án với tổng vốn hơn 35.000 tỷ đồng vào vận hành trong những tháng cuối năm, tập trung ở các ngành luyện cán thép, hóa chất, cảng container và trung tâm thương mại.
Tính chung, GDP 6 tháng của cả nước đạt 8,18%, cao hơn mức 7,63% cùng kỳ năm ngoái. Đây cũng là mức cao nhất trong nhiều nhiệm kỳ gần đây. Dù vậy, áp lực hoàn thành mục tiêu cả năm rất lớn.
Tại cuộc họp Chính phủ đầu tháng này, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đánh giá kết quả nửa đầu năm chưa như kỳ vọng khi nhiều địa phương còn cách khá xa mục tiêu và giải ngân vốn đầu tư công còn chậm. Bộ Tài chính cho biết, nếu tỷ lệ giải ngân trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 50% thay vì gần 35% hiện nay, tăng trưởng GDP có thể cao hơn khoảng 0,4 điểm phần trăm.
Việt Nam đặt mục tiêu GDP đạt từ 10% năm nay, Chính phủ đã giao chỉ tiêu GRDP cho từng địa phương tại Nghị quyết 168 và 169. Theo kịch bản, Hải Phòng và Quảng Ninh được giao chỉ tiêu cao nhất (13%). Tiếp đến là Bắc Ninh, Hưng Yên, Đà Nẵng, Hà Nội, Nghệ An, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên, TP HCM và Hà Tĩnh.
Đầu tư công được Chính phủ xác định giữ vai trò dẫn dắt, kích hoạt dòng vốn tư nhân và FDI, thúc đẩy sản xuất – kinh doanh. Nguồn tiền này giúp nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội, hỗ trợ tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo tính toán, giai đoạn 2021-2025, vốn đầu tư công giải ngân tăng 1%, GDP có thể thêm 0,058 điểm phần trăm.
Vì thế, bên cạnh động lực tăng trưởng hiện hữu, nhiều tỉnh thành đang dồn lực giải ngân vốn đầu tư công thông qua tháo gỡ nút thắt giải phóng mặt bằng, môi trường kinh doanh, hạ tầng. Chẳng hạn, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các dự án năng lượng theo Quy hoạch điện VIII, phát triển khu kinh tế Vũng Áng thành trung tâm công nghiệp nặng, và tăng kết nối với cửa khẩu Cầu Treo, hành lang kinh tế Đông – Tây, hệ thống cảng biển nước sâu.
Ninh Bình đặt mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công, hoàn thiện hạ tầng các cụm công nghiệp để hút vốn công nghệ cao. Tại Đà Nẵng – địa phương dẫn đầu tăng trưởng khu vực Nam Trung Bộ, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định tăng giải ngân vốn đầu tư công và dự án trọng điểm là nhiệm vụ trọng tâm của thành phố.
Trong khi đó, lãnh đạo Hà Nội, TP HCM đều đặt mục tiêu tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch, môi trường đầu tư và hạ tầng… để tăng trưởng hai chữ số trong nửa cuối năm. Theo tính toán của Bộ Tài chính, cứ mỗi 1% tăng trưởng của Hà Nội và TP HCM sẽ đóng góp gần 0,4 điểm phần trăm vào GDP cả nước.
Với Đăk Lăk, áp lực nửa cuối năm rất lớn khi phải đạt 11,65% để hoàn thành chỉ tiêu cả năm (10,02%). Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk Đỗ Hữu Huy cho biết tỉnh sẽ xử lý các nút thắt, tháo gỡ hơn 300 dự án tồn đọng. Tỉnh cũng áp dụng cơ chế “luồng xanh” rút ngắn một nửa thời gian thủ tục cho dự án năng lượng, hạ tầng công nghiệp, logistics.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng, trong cùng điều kiện phát triển vẫn có những địa phương đạt tăng trưởng rất cao, cho thấy dư địa thực hiện còn lớn. Ông yêu cầu các bộ, ngành và địa phương rà soát kịch bản tăng trưởng từng quý, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, và kích cầu tiêu dùng, xuất khẩu nhằm đảm bảo nguồn lực phát triển.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll(“iframe[data-src]”)){iframe.removeAttribute(“sandbox”);iframe.setAttribute(“src”,iframe.getAttribute(“data-src”));}}catch(e){}}catch(e){console.log(“error_replace_script”,e);}
Theo chương trình, sáng nay (20-4), kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI tiếp tục đợt họp thứ 2.
Trong đợt 2, Quốc hội dự kiến làm việc từ ngày 20 và bế mạc kỳ họp vào chiều 23-4 (dự phòng ngày 24 và 25-4). Cũng tại đợt 2 này, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng.
Riêng ngày 20-4, buổi sáng Quốc hội sẽ nghe các tờ trình, báo cáo thẩm tra dự thảo nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam. Dự thảo nghị quyết việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương. Dự thảo nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công.
Cùng với đó, dự thảo nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Nội dung này sẽ được Quốc hội thảo luận riêng tại tổ và hội trường.
Sau đó Quốc hội thảo luận ở tổ về các dự thảo nghị quyết được trình và tiếp tục thảo luận tại hội trường các nội dung trên vào ngày 22-4.
Buổi chiều, Quốc hội sẽ thảo luận ở hội trường về việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025.
Trong phiên thảo luận thành viên Chính phủ phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. Nội dung này sẽ tiếp tục trong ngày 21-4 và được phát thanh, truyền hình trực tiếp.
Theo Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam, diễn biến thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên cuối tuần qua ghi nhận xu hướng hạ nhiệt của lãi suất bình quân VND liên ngân hàng.
Cụ thể, lãi suất bình quân VND liên ngân hàng giữ nguyên ở các kỳ hạn qua đêm (ON) và 2 tuần, đồng thời giảm 0,1 điểm phần trăm tại các kỳ hạn 1 tuần và 1 tháng so với phiên trước. Mức giao dịch lần lượt ở ON 3,9%; 1 tuần 4,7%; 2 tuần 6,5% và 1 tháng 7%.
Về nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tổng cộng 5.000 tỉ đồng trên kênh cầm cố, với lãi suất 4,5% cho các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày. Kết quả, có 80,45 tỉ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày, 1.000 tỉ đồng ở kỳ hạn 35 ngày và 3.000 tỉ đồng ở kỳ hạn 56 ngày. Trong khi đó, lượng đáo hạn lên tới 22.000 tỉ đồng.
Ngân hàng Nhà nước không phát hành tín phiếu trong phiên này. Như vậy, nhà điều hành đã hút ròng 17.919 tỉ đồng khỏi hệ thống. Tổng khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố hiện đạt 215.003 tỉ đồng.
Theo báo cáo mới công bố của Công ty chứng khoán Vietcap (VCI), tỉ giá USD/VND trong tháng 3 tăng 1,1%, lên mức 26.340 đồng/USD trên thị trường liên ngân hàng. Tính từ đầu năm đến nay, tỉ giá này đã tăng khoảng 0,2%.
VCI cho rằng đà tăng của tỉ giá chủ yếu chịu tác động từ việc chỉ số đồng USD (DXY) tăng mạnh 2,4% trong tháng 3, cùng với nhu cầu ngoại tệ trong nước gia tăng.
Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước đã có động thái can thiệp nhằm ổn định thị trường, khi bán ra một lượng lớn USD cho các ngân hàng thương mại thông qua hợp đồng kỳ hạn 180 ngày vào ngày 24-3.
Về triển vọng, Vietcap nhận định một số yếu tố có thể tiếp tục gây áp lực lên thị trường ngoại hối trong ngắn hạn. Trong đó, đáng chú ý là khả năng đồng USD duy trì sức mạnh, sự thay đổi kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) - khi nhà đầu tư chuyển từ dự báo có một đợt cắt giảm lãi suất sang kịch bản không giảm trong năm nay cùng với rủi ro thâm hụt thương mại kéo dài, khi tháng 3 ghi nhận tháng nhập siêu thứ tư liên tiếp.
Ở chiều ngược lại, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn duy trì ổn định, với vốn giải ngân trong quý 1-2026 tăng 9,1% so với cùng kỳ. Đây được xem là yếu tố hỗ trợ, góp phần giảm bớt áp lực lên tỉ giá trong thời gian tới.
Thông tin này được lãnh đạo Cục Hàng không cho biết tại hội nghị sơ kết hoạt động nửa đầu năm, hôm 17/7. Theo đó, các hãng hàng không trong nước đang khai thác 280 tàu bay (gồm 252 tàu cánh bằng, 28 trực thăng), tăng 18 chiếc so với năm ngoái.
Do thiếu động cơ Pratt&Whitney dài hạn, 17 tàu Airbus A321NEO vẫn phải dừng hoạt động. Tuy nhiên, số tàu phải "nằm đất" đã giảm 6 chiếc so với cùng kỳ 2025.
Sự cố liên quan đến động cơ Pratt&Whitney sử dụng trên A321 - dòng tàu bay thân hẹp chủ lực của các hãng thế giới và Việt Nam - bắt đầu từ năm 2024. Trên toàn cầu, khoảng 3.500 động cơ Pratt & Whitney cần triệu hồi để kiểm tra, bảo dưỡng. Vì vậy, thời gian sửa chữa động cơ kéo dài, từ thông thường 90 ngày lên tới 250-300 ngày.
Theo Hiệp hội Vận tải Hàng không quốc tế (IATA) đến hết quý I năm nay, tình hình đã cải thiện đáng kể, nhưng các hãng bay vẫn phải đối mặt với thời gian sửa chữa kéo dài và thiếu động cơ dự phòng. IATA cũng cảnh báo tình trạng tắc nghẽn MRO (bảo dưỡng, sửa chữa và đại tu) vẫn là vấn đề lớn của ngành hàng không toàn cầu.
Trong vài tháng gần đây, các hãng hàng không Việt Nam đã tích cực mở rộng đội tàu bay để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của hành khách, cũng như góp phần hạ nhiệt giá vé. Riêng Sun PhuQuoc Airways đã tiếp nhận tàu bay thứ 13 và dự kiến nhận thêm 15 máy bay Airbus A320/A321 từ nay đến cuối tháng. Qua đó, hãng có thể nâng đội bay lên 26 chiếc chỉ sau chưa đầy một năm hoạt động.
Theo số liệu của Cục Hàng không trong nửa đầu năm, các hãng vận chuyển 18,7 triệu khách, tăng 0,3% so với cùng kỳ 2025. Các hãng duy trì khai thác 54 đường bay nội địa kết nối Hà Nội, TP HCM với 20 sân bay trên cả nước.
Lượng khách quốc tế được các hãng bay trong nước phục vụ đạt 9,6 triệu lượt, tăng 0,2%. Con số này chiếm gần 37% tổng lượng khách quốc tế đi/đến Việt Nam.
Hiện tại, các hãng hàng không Việt Nam khai thác 109 đường bay quốc tế đến 22 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong khi đó, các hãng bay của 41 quốc gia, vùng lãnh thổ vận hành 235 đường bay thường lệ đến Việt Nam.
Tôi đang có danh mục khoảng 1,2 tỷ đồng, chủ yếu là các cổ phiếu đầu ngành để nắm giữ trong 3-4 năm nữa. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, lợi nhuận nếu tính bình quân chỉ gần 1%, trong đó, một số mã đang lỗ gần 10%.
Gần đây, tôi thấy một cổ phiếu tăng rất mạnh trong thời gian ngắn. Có mã tăng còn tăng liên tục từ đầu năm mà vẫn chưa hết "sóng", khiến tôi khá sốt ruột vì sợ lỡ mất cơ hội. Tôi phân vân có nên bán bớt một phần để chuyển sang những cổ phiếu đang "vào sóng" hay tiếp tục kiên định với chiến lược ban đầu. Mong chuyên gia cho lời khuyên.
Chuyên gia tư vấn:
Với danh mục khoảng 1,2 tỷ đồng, chủ yếu nắm giữ cổ phiếu đầu ngành cho mục tiêu 3 đến 4 năm, nhà đầu tư không nên vội đánh giá hiệu quả chỉ dựa trên lợi nhuận trong vài tháng đầu năm.
Theo các chuyên gia, chứng khoán nên được nhìn nhận như một bài toán dài hạn. Nếu ngay từ đầu bạn chọn cổ phiếu vì nền tảng doanh nghiệp, vị thế ngành, triển vọng lợi nhuận và định giá hợp lý, thì lý do bán cũng cần xuất phát từ việc các luận điểm này không còn đúng nữa. Việc cổ phiếu chưa tăng trong ngắn hạn không đồng nghĩa với việc chiến lược đó là sai.
Ngược lại, nếu bán một cổ phiếu chỉ vì thấy mã khác tăng mạnh hơn, nhà đầu tư rất dễ rơi vào trạng thái chạy theo thị trường. Đây là biểu hiện phổ biến của tâm lý sợ bỏ lỡ cơ hội (FOMO). Khi đó, quyết định đầu tư không còn dựa trên phân tích mà bị chi phối bởi biến động giá trong ngắn hạn.
Một cổ phiếu tăng mạnh chưa chắc là rủi ro, nhưng cũng chưa chắc là cơ hội. Nhà đầu tư cần phân biệt giá tăng nhờ kết quả kinh doanh, triển vọng ngành và định giá còn hấp dẫn, hay chỉ do dòng tiền đầu cơ và hiệu ứng đám đông. Nếu không hiểu rõ lý do tăng giá, việc mua vào sau một nhịp tăng mạnh có thể khiến nhà đầu tư rơi vào vùng rủi ro cao.
Vấn đề quan trọng hơn là bạn cần xác định mình muốn trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp hay chỉ muốn tài sản tăng trưởng tốt hơn trong dài hạn. Nếu muốn tự đầu tư chuyên nghiệp, bạn cần học nghiêm túc về tài chính doanh nghiệp, phân tích báo cáo tài chính, định giá, quản trị rủi ro và xây dựng một kế hoạch giao dịch rõ ràng.
Nếu mục tiêu chỉ là tăng trưởng tài sản, nhà đầu tư không nhất thiết phải tự chọn cổ phiếu quá nhiều. Khi đó, việc phân bổ vào các quỹ cổ phiếu, quỹ cân bằng hoặc các sản phẩm đầu tư chuyên nghiệp có thể phù hợp hơn. Phần tự giao dịch, nếu có, chỉ nên chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 5 đến 10% tổng tài sản đầu tư, để học hỏi và trải nghiệm.
Với trường hợp trên, bạn nên rà soát lại danh mục thay vì vội vàng bán ra. Cần xem từng cổ phiếu còn giữ được luận điểm đầu tư ban đầu hay không, tỷ trọng có hợp lý không, danh mục có quá tập trung vào một nhóm ngành không và thời gian nắm giữ có còn phù hợp với mục tiêu ban đầu không.
Nếu các yếu tố nền tảng vẫn tích cực, việc kiên định với chiến lược dài hạn là cần thiết. Nếu muốn tham gia nhóm cổ phiếu đang có "sóng", bạn chỉ nên dùng một phần nhỏ danh mục, có giới hạn tỷ trọng, điểm mua, điểm bán và nguyên tắc "cắt lỗ" rõ ràng.
Trong đầu tư, bỏ lỡ một nhịp tăng không phải là rủi ro lớn nhất. Rủi ro lớn hơn là liên tục thay đổi chiến lược vì cảm xúc, để rồi danh mục không còn phục vụ mục tiêu tài chính ban đầu.