Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu nghị quyết không chỉ đúng mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết.
Trao đổi với Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương, nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Phóng viên: Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập một tầm nhìn lịch sử. Dư luận và nhân dân đang rất quan tâm đến việc làm thế nào để những quyết sách lớn sớm đi vào thực tiễn. Đồng chí đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải triệt tiêu “độ trễ” và chuyển mạnh từ “nói” sang “làm” và “làm hiệu quả”. Xin đồng chí cho biết rõ hơn về tư duy hành động này trong bối cảnh hiện nay?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kết tinh trí tuệ, ý chí và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc; giá trị của nghị quyết chỉ được khẳng định đầy đủ khi được tổ chức thực hiện bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy mọi thành tựu của đất nước đều gắn với những giai đoạn mà chủ trương đúng được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, trong đó khâu tổ chức thực hiện giữ vai trò then chốt.
Chúng ta thẳng thắn nhìn nhận rằng điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm ở chỗ thiếu đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành chuyển biến phát triển cụ thể. Hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng thực thi chính sách ở một số nơi vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước. Vì vậy, tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ này là phải biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm có hiệu quả.
Giai đoạn 5 – 10 năm tới có ý nghĩa quyết định đối với các mục tiêu chiến lược của Đảng và đất nước. Nếu chúng ta để lãng phí dù chỉ một khoảng thời gian ngắn vì chần chừ, né tránh, làm việc theo lối cũ hoặc trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm thì cái giá phải trả ít nhất là đánh mất cơ hội phát triển của cả dân tộc.
Vì vậy, mệnh lệnh hành động lúc này là phải chuyển thật mạnh từ “nhận thức đúng” sang “triển khai hiệu quả”, từ “ban hành chủ trương” sang “tạo ra sản phẩm và kết quả thực tế”. Mọi cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu đi đầu, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả thực chất để nhân dân được thụ hưởng ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ.
* Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nướ, trong nhiệm kỳ này, việc cải cách phương thức tổ chức thực hiện được đặt ra như thế nào để chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên kết quả, nhằm triệt tiêu tình trạng “nghẽn” ở khâu thực thi?
– Đại hội XIV xác định thể chế là “đột phá của đột phá”, đi trước mở đường. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà phải trở thành động lực phát triển, giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Muốn triệt tiêu tình trạng “nghẽn” thì trước hết phải đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện.
Thứ nhất, phải quyết liệt rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, quy trình, thủ tục để tháo gỡ mọi điểm nghẽn. Tinh thần là vướng mắc ở cấp nào thì cấp đó phải chủ động sửa đổi, không trông chờ, không đùn đẩy trách nhiệm. Phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý, cấp phép sang kiến tạo phát triển và phục vụ; từ nặng tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm ở những lĩnh vực đủ điều kiện; từ cách làm thiên về thủ tục sang cách làm thiên về kết quả.
Thứ hai, phải thay đổi thước đo đánh giá. Không thể tiếp tục lấy độ dày của báo cáo hay số lượng cuộc họp làm căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đánh giá một tổ chức, một cán bộ phải nhìn vào sản phẩm phát triển cụ thể, vào tiến độ công việc, vào hiệu quả xã hội, vào mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Mọi chương trình hành động đều phải được lượng hóa, đo lường được và có lộ trình rõ ràng.
Thứ ba, phải tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Việc Trung ương quyết định chuyển Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng thời tiếp nhận các đảng bộ của 5 cơ quan này từ Đảng ủy Chính phủ sang Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, chính là một bước điều chỉnh tổ chức rất quan trọng. Đây không chỉ là sắp xếp đầu mối, mà còn là điều chỉnh phương thức lãnh đạo để tăng cường sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Trung ương đối với những lĩnh vực đặc biệt quan trọng về tư tưởng, truyền thông và khoa học chiến lược.
Thứ tư, mọi chương trình, đề án, dự án lớn đều phải xác định rõ mục tiêu, tiến độ, người chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát. Có như vậy mới chấm dứt được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “đúng về tinh thần nhưng tắc ở khâu thực hiện”.
* Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đồng chí đã chỉ rõ việc thực hiện Nghị quyết phải gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó yếu tố con người và công tác chính trị, tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vậy yêu cầu cốt lõi đặt ra hiện nay là gì?
– Trong giai đoạn mới, đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, kỷ cương, minh bạch, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Muốn vậy, yếu tố quyết định vẫn là con người – trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là có phẩm chất và năng lực chung, mà phải có bản lĩnh thực thi, có tư duy hành động thực chất, có khả năng tổ chức công việc đến cùng và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Đi liền với đó, phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Hội nghị Trung ương 2 vừa qua đã ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đây là nội dung rất mới, rất cần trong giai đoạn hiện nay, bởi chúng ta đang triển khai nhiều chủ trương lớn cùng lúc, cải cách mạnh, đổi mới mạnh; nếu không giữ vững nền tảng chính trị, không tạo được sự thống nhất cao trong Đảng và đồng thuận trong xã hội thì chủ trương đúng cũng khó đi đến kết quả như mong muốn.
Công tác chính trị, tư tưởng phải thực sự đi trước, mở đường; không thể làm theo kiểu hình thức hay chỉ dừng ở khâu quán triệt, học tập nghị quyết cho đủ thủ tục. Điều cốt lõi là phải cụ thể hóa các yêu cầu về chính trị, tư tưởng thành trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, củng cố niềm tin, xây dựng bản lĩnh chính trị, nâng cao tính chiến đấu và tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Đối với đội ngũ cán bộ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng giỏi tham mưu nhưng yếu tổ chức thực hiện. Trong tổ chức thực hiện, phải bảo đảm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả. Không để tình trạng lấy tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân; đồng thời phải có cơ chế bảo vệ những người dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đảng cầm quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.
* Để bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết mới của Trung ương được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng cần được đổi mới ra sao, thưa Tổng Bí thư, chủ tịch nước?
– Kiểm tra, giám sát không phải là công việc làm sau cùng, càng không chỉ là xử lý sai phạm khi sự việc đã xảy ra. Đây là một phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng, là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, đúng hướng.
Trước hết, phải quán triệt và tổ chức thực hiện thật tốt nghị quyết mới của Trung ương về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Việc Trung ương ban hành nghị quyết mới trong lĩnh vực này cho thấy yêu cầu của giai đoạn phát triển hiện nay là rất cao: phát triển nhanh phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương; cơ chế thông thoáng hơn thì kiểm soát quyền lực phải chặt chẽ hơn; phân cấp, phân quyền mạnh hơn thì trách nhiệm chính trị phải rõ hơn.
Thứ hai, phải chuyển mạnh công tác kiểm tra, giám sát sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; phát hiện nguy cơ ngay trong quá trình vận hành, không để hạn chế, khuyết điểm tích tụ thành sai phạm lớn. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, từng chi bộ, từng đảng viên đều phải xác định đây là trách nhiệm chính trị của mình; không thể khoán trắng cho cơ quan kiểm tra. Kiểm tra phải gắn với từng chương trình hành động, từng nhiệm vụ trọng tâm, từng dự án, từng cam kết của người đứng đầu.
Thứ ba, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp làm trưởng đoàn để kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương tại toàn bộ các tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, trong đó có các đảng ủy ở Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy. Tinh thần là vừa kiểm tra, giám sát, vừa đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vừa phát hiện cách làm mới để nhân rộng, chứ không làm theo kiểu hình thức, đối phó.
Bản thân tôi cũng đã trực tiếp làm việc, dự hội nghị triển khai với Quân ủy Trung ương, với Đảng ủy Công an Trung ương; đồng thời trực tiếp làm Trưởng đoàn kiểm tra, giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội và Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội. Điều đó thể hiện rất rõ yêu cầu nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo: đã xác định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng thì lãnh đạo cấp cao phải trực tiếp làm, trực tiếp nghe, trực tiếp kiểm tra, trực tiếp chỉ đạo và trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả.
Mục tiêu cuối cùng là làm cho toàn hệ thống vận hành có kỷ luật hơn, minh bạch hơn, quyết liệt hơn và hiệu quả hơn. Kỷ luật phải để hành động tốt hơn; giám sát phải để kết quả rõ hơn; kiểm tra phải góp phần tháo gỡ khó khăn, siết chặt trách nhiệm, bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết của Trung ương được triển khai nghiêm túc, thống nhất, hiệu quả trong toàn Đảng.
* Năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương có điều gì căn dặn cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam?
– Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng tiên phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Quân đội càng phải phát huy tốt hơn truyền thống ấy, phải thật sự mẫu mực về bản lĩnh chính trị, tinh thần hành động, kỷ luật, hiệu quả công tác và chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết.
Trước hết, toàn quân phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và các chương trình hành động của Quân ủy Trung ương; nhưng quán triệt không dừng ở nhận thức mà phải chuyển thành việc làm cụ thể ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, từng cương vị công tác. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải xác định rõ việc gì cần làm ngay, việc gì là khâu đột phá, ai chịu trách nhiệm và kiểm tra bằng cách nào.
Toàn quân phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý kỷ luật, xây dựng chính quy, đẩy mạnh chuyển đổi số và tiến lên hiện đại.
Tôi đặc biệt lưu ý vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ. Cán bộ càng ở cương vị cao càng phải mẫu mực về tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm. Mỗi cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; phải được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Kết quả thực hiện nghị quyết trong Quân đội phải được đo bằng chuyển biến thực chất trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, chấp hành kỷ luật và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Quyết tâm cao phải biến thành kết quả rõ; hành động phải chắc, trúng và hiệu quả đến cùng. Quân đội phải tiếp tục là lực lượng đi đầu trong hành động, gương mẫu trong kỷ luật, nói đi đôi với làm, làm đến đâu chắc đến đó, “quyết tâm gấp mười lần, hành động gấp trăm lần”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.
* Trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương!
Tại hội thảo "Công tác chính trị, tư tưởng đi trước mở đường trong kỷ nguyên mới" do Báo Thanh Niên phối hợp với các đơn vị tổ chức, diễn ra chiều 15.5, tại Học viên Thanh thiếu niên Việt Nam, PGS-TS Lê Văn Cường đã gửi tham luận chủ đề "Công tác chính trị, tư tưởng trước yêu cầu đi trước mở đường, chủ động dẫn dắt trong giai đoạn mới - một số yêu cầu và giải pháp".
PGS-TS Lê Văn Cường đặt ra 5 yêu cầu "đi trước mở đường" và "chủ động dẫn dắt" của công tác chính trị, tư tưởng.
Thứ nhất, "đi trước" đòi hỏi công tác chính trị, tư tưởng phải có khả năng dự báo đúng, trúng và sớm các xu hướng tâm lý, các luồng ý kiến trái chiều có thể phát sinh trước mỗi chủ trương, chính sách mới.
Thứ hai, cần tháo gỡ rào cản tâm lý cho đổi mới, sáng tạo, giúp cán bộ đảng viên vượt qua tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm.
Thứ ba, nâng cao bản lĩnh chính trị trước các tác động tiêu cực của các luồng thông tin xấu độc. Công tác chính trị, tư tưởng phải cung cấp cơ sở lý luận sắc bén để mỗi cá nhân có khả năng tự sàng lọc, phân biệt đúng - sai để dẫn dắt hành động.
Thứ tư, về tính dẫn dắt của công tác chính trị, tư tưởng trong kỷ nguyên số, yêu cầu cần xác lập thông tin chính thống và khả năng chiếm lĩnh không gian mạng. Cùng đó, cần dẫn dắt bằng nền tảng lý luận khoa học và bản lĩnh chính trị.
Công tác chính trị, tư tưởng phải làm cho mỗi đoàn viên, thanh niên và từng đảng viên hiểu rằng: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng chính là bảo vệ giá trị văn hóa, bảo vệ hồn cốt của dân tộc.
Công tác chính trị, tư tưởng, theo ông Cường, cũng phải truyền cảm hứng để cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
"Khi vai trò dẫn dắt của công tác chính trị, tư tưởng được thể hiện trên thực tiễn, nó sẽ chuyển hóa thành nguồn lực vật chất to lớn, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân vượt qua các thách thức mang tính thời đại, nhằm hiện thực hóa mục tiêu chiến lược phát triển đất nước tầm nhìn đến năm 2045", ông Cường nhấn mạnh.
Thứ năm, về yêu cầu trong công tác chính trị, tư tưởng đối với thế hệ trẻ, PGS-TS Lê Văn Cường cho rằng, cần đưa giá trị lý tưởng vào bản lĩnh và hệ giá trị cá nhân của thế hệ trẻ. Đối với thanh niên, giáo dục chính trị phải gắn liền với quá trình hình thành bản lĩnh chính trị để có khả năng tự đề kháng trước các luồng tư tưởng sai trái, lệch lạc.
Hai là, nâng cao năng lực nhận diện đối tượng và đối tác trong bối cảnh hội nhập quốc tế phức tạp; giúp giới trẻ nhận diện được những xu thế tiến bộ, các lực lượng ủng hộ sự phát triển của Việt Nam (đối tác), đồng thời cảnh giác trước những âm mưu "diễn biến hòa bình" và các hình thái xâm lăng văn hóa trên không gian mạng (đối tượng).
Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân trong thời kỳ mới; phải làm cho thế hệ trẻ thấm nhuần rằng họ là chủ nhân, là lực lượng xung kích đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Khi thanh niên hiểu rõ vị thế của đất nước, những thời cơ chiến lược cũng như các thách thức mang tính tồn vong, họ sẽ tự giác chuyển hóa nhận thức thành hành động cách mạng cụ thể.
Để triển khai Quy định số 19-QĐ/TW đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, PGS-TS Lê Văn Cường chỉ ra 5 nhóm giải pháp đột phá.
Đầu tiên, cần hiện đại hóa phương thức tuyên truyền, phải đoạn tuyệt với lối mòn trong việc tổ chức học tập nghị quyết theo lối hình thức, một chiều. Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) chính là chìa khóa để khắc phục rào cản giữa lý luận và thực tiễn.
Kế đó, phải chuyển mình từ trạng thái "thụ động giải thích" sang "chủ động tấn công". Hệ thống phải có khả năng phản ứng tức thời, không để xảy ra tình trạng "khoảng trống thông tin" - nơi các tin giả và tư tưởng xấu độc thường lợi dụng để thao túng nhận thức của nhân dân.
Song song đó, cần gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, phải đi sâu vào những vấn đề của đất nước hiện nay như: công tác cán bộ, cải cách hành chính, chuyển đổi số và đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
PGS-TS Lê Văn Cường cho rằng, công tác chính trị, tư tưởng phải hình thành niềm tin giúp cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, thay vì rơi vào trạng thái trì trệ, thủ thế.
"Chính hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra là thước đo khách quan nhất, công tâm nhất cho chất lượng và uy tín của công tác chính trị, tư tưởng của Đảng", ông nhấn mạnh.
Đối với các tổ chức Đoàn, việc gắn kết công tác chính trị, tư tưởng với thực tiễn phải được cụ thể hóa bằng việc đồng hành cùng thanh niên trong quá trình khởi nghiệp, lập nghiệp và hội nhập.
Cạnh đó, cần đề cao tính nêu gương của người đứng đầu. PGS-TS Lê Văn Cường nhấn mạnh: "Khi người đứng đầu thực sự là tấm gương về bản lĩnh, trí tuệ và sự liêm chính, công tác chính trị, tư tưởng sẽ tự thân xác lập được uy tín mà không cần đến những mệnh lệnh hành chính hoặc các biện pháp cưỡng chế".
Yêu cầu về nêu gương nằm ở sự dấn thân, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng và tư duy nhiệm kỳ.
Cuối cùng, PGS-TS Lê Văn Cường nhấn mạnh giải pháp tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật. Việc đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát phải lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo phản ánh chất lượng công tác chính trị, tư tưởng.
Sáng 25.5, tại Nghĩa trang liệt sĩ Nầm (xã Tứ Mỹ, tỉnh Hà Tĩnh), Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Hà Tĩnh tổ chức trọng thể lễ truy điệu và an táng hài cốt 9 liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào.
Buổi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm và xúc động với sự tham gia của Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú và các lãnh đạo ban, bộ, ngành T.Ư cùng đông đảo nhân dân địa phương.
Đọc điếu văn tại buổi lễ, bà Nguyễn Thị Nguyệt, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và nhiệm vụ quốc tế cao cả.
Bà Nguyệt cho biết, thực hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", từ năm 1999 đến nay, Đội quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Hà Tĩnh đã nỗ lực tìm kiếm, cất bốc và đưa về nước tổng cộng 835 hài cốt liệt sĩ. Riêng trong mùa khô 2025 - 2026, vượt qua nhiều khó khăn về địa hình, đội đã quy tập thành công 9 hài cốt liệt sĩ.
Lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào, đặc biệt là thủ đô Viêng Chăn và tỉnh Bôlykhămxay, đã phối hợp hiệu quả trong công tác tìm kiếm, hồi hương các Anh hùng liệt sĩ.
Sau nghi thức truy điệu, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú cùng các đại biểu, đồng đội và nhân dân đã trang trọng tiễn đưa, an táng 9 hài cốt liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Nầm trong niềm tiếc thương vô hạn.
Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố:
1. Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka từ ngày 7 đến ngày 8.52026. Ngày 8.5.2026, tại Phủ Tổng thống, Thủ đô Colombo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón trọng thể với 21 loạt đại bác chào mừng và hội đàm với Tổng thống Sri Lanka. Hai nhà lãnh đạo cũng đồng chủ trì gặp gỡ báo chí chung, dâng hoa tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Thư viện Công cộng Colombo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến và cùng Thủ tướng Harini Amarasuriya dự lễ khai mạc Diễn đàn Thương mại - Đầu tư - Du lịch Việt Nam - Sri Lanka tại Colombo; hội kiến Chủ tịch Quốc hội Jagath Wickramaratne và phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka.
2. Chuyến thăm tái khẳng định tình hữu nghị truyền thống và sự tin cậy hơn 55 năm qua được vun đắp dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, các giá trị và cam kết chung vì hòa bình, ổn định và phát triển. Quan hệ song phương càng được thúc đẩy bởi khát vọng chung về hòa bình, độc lập, tự cường, bởi tầm nhìn chung về an ninh, thịnh vượng kinh tế, phát triển bền vững, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
3. Tại hội đàm, Tổng thống Dissanayake gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhân dịp đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện sự tin tưởng và tín nhiệm sâu sắc. Tổng thống Dissanayake bày tỏ tin tưởng chắc chắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những thành tựu to lớn và phát triển bền vững hơn nữa.
Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi toàn diện và thực chất về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hài lòng trước sự phát triển của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước và chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện.
Với việc nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện, Hai nhà lãnh đạo cam kết tiếp tục củng cố và tăng cường hợp tác hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực. Việc nâng cấp này cũng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
4. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường tiếp xúc, trao đổi cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh, trong đó có giao lưu nhân dân để làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có.
5. Hai bên cũng nhất trí về tầm quan trọng và nhu cầu thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước thông qua trao đổi giữa các ủy ban, nhất là giữa nhóm nữ đại biểu quốc hội, nhóm đại biểu quốc hội trẻ; thúc đẩy thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Sri Lanka.
6. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011; khuyến khích các hoạt động hợp tác thực chất hơn, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc; nhất trí hợp tác trong các lĩnh vực như dịch vụ sửa chữa và mua sắm thiết bị quốc phòng; đẩy nhanh đàm phán, hướng tới ký kết các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng để tạo cơ sở hợp tác; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng.
7. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh và nhất trí triển khai hiệu quả cơ chế đối thoại an ninh; rà soát, cập nhật Thỏa thuận hợp tác về đấu tranh, phòng chống tội phạm ký năm 2009; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, khủng bố, nhập cư bất hợp pháp; mở rộng hợp tác an ninh hàng hải, cảnh sát và an ninh mạng.
8. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa hai nước thông qua việc đàm phán và ký kết bản ghi nhớ hợp tác mới giữa hai Bộ Tư pháp để thay thế bản ghi nhớ ký năm 2013 đã hết hiệu lực.
9. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác thương mại và đầu tư song phương. Hai bên nhất trí nâng cao hiệu quả thực chất cơ chế Tiểu ban Thương mại hỗn hợp và thực hiện các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường hợp tác thương mại, bao gồm tạo thuận lợi về thương mại, trao đổi thông tin và thúc đẩy doanh nghiệp. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng to lớn của việc mở rộng hơn nữa hợp tác kinh tế và nhất trí đạt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 1 tỷ USD vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, phía Việt Nam ghi nhận mong muốn của Sri Lanka về việc sớm trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
10. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư giữa hai nước. Phía Việt Nam đánh giá cao đầu tư của Sri Lanka tại Việt Nam; phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn thu hút thêm đầu tư từ Việt Nam. Hai bên sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hướng đến một số dự án mang tính biểu tượng trong các lĩnh vực như hạ tầng, viễn thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, bán lẻ, logistics, hạ tầng du lịch và năng lượng tái tạo.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa; thúc đẩy ký kết văn kiện hợp tác về chuyển đổi số; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển, cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin.
12. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến chia sẻ kiến thức và nâng cao năng lực. Hai bên cũng nhất trí tích cực triển khai kế hoạch công tác giai đoạn 2024 - 2026 trên cơ sở Bản ghi nhớ năm 2009 về Hợp tác phát triển nông nghiệp và chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.
13. Phía Sri Lanka đề nghị Việt Nam cung cấp phân bón phục vụ canh tác lúa gạo theo thỏa thuận cấp Chính phủ. Xét tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với cả hai nước và những thách thức hiện tại về nguồn cung, phía Việt Nam xem xét tích cực đề nghị này.
14. Ghi nhận mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tình hữu nghị lâu đời, các hoạt động giao lưu Phật giáo trải dài qua nhiều thế kỷ và bắt nguồn từ những giá trị chung cũng như di sản văn hóa phong phú, hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình giao lưu, quảng bá văn hóa, lịch sử và thể thao; tăng cường kết nối giữa các tổ chức Phật giáo; thúc đẩy đối thoại liên văn hóa và nghiên cứu tổ chức các diễn đàn, hoạt động hành hương và tiến tới đồng đăng cai các sự kiện Phật giáo khu vực và quốc tế.
15. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm triển khai hiệu quả các cơ chế song phương hiện có trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nhất trí hợp tác sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình giới thiệu về văn hóa, con người và lịch sử của hai nước.
16. Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác giáo dục, hai bên nhất trí khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu hai bên, triển khai việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh hai nước.
17. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những chuyển biến trong nỗ lực sớm đưa vào vận hành các đường bay thẳng giữa hai nước ngay trong năm nay, nhằm tăng cường kết nối, thúc đẩy hiệu quả hợp tác du lịch, thương mại và giao lưu nhân dân.
18. Sri Lanka và Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của thúc đẩy hợp tác giữa các hội hữu nghị, hội đoàn kết hai nước; nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, trong đó có giao lưu thanh niên, phụ nữ và mở rộng hơn nữa giao lưu nhân dân.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác khu vực và đa phương, đặc biệt là trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), coi đây là nền tảng quan trọng cho đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực chất về các vấn đề cùng quan tâm. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, bao gồm việc đồng chủ trì cuộc họp giữa kỳ của ARF về cứu trợ thiên tai gần đây và nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác trong quản lý thiên tai và hỗ trợ nhân đạo. Phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn trở thành Đối tác Đối thoại theo Lĩnh vực của ASEAN và cảm ơn sự ủng hộ liên tục của Việt Nam về vấn đề này.
20. Sri Lanka và Việt Nam tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tự do hàng hải, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế ổn định và hòa bình.
21. Hai bên nhất trí ủng hộ chủ nghĩa đa phương với vai trò trung tâm của Liên Hiệp Quốc; nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết (NAM), Hợp tác Nam - Nam, Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện Châu Á - Thái Bình Dương (APPF) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
22. Hai nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các thách thức toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu; nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động chung, đặc biệt là hỗ trợ các nước đang phát triển thông qua khả năng tiếp cận tài chính khí hậu và chuyển giao công nghệ. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng. Sri Lanka bày tỏ ủng hộ sáng kiến thành lập Trung tâm khu vực về chống tội phạm mạng của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) tại Hà Nội.
23. Nhân chuyến thăm, hai nước đã ký một số văn kiện hợp tác về an ninh, khoa học và công nghệ, tôn giáo, văn hóa, thông tin và truyền thông.
24. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Sri Lanka về sự đón tiếp trọng thị, thân tình và nồng hậu dành cho đoàn trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Sri Lanka.
1. Bản ghi nhớ giữa Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an Việt Nam và Học viện Cảnh sát quốc gia, Bộ Công an và các vấn đề Nghị viện Sri Lanka.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Khoa học - Công nghệ Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ Sri Lanka về các lĩnh vực khoa học và công nghệ.
3. Bản ghi nhớ giữa Bộ Dân tộc - Tôn giáo Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác văn hóa giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
5. Bản ghi nhớ hợp tác về hợp tác trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Y tế - Truyền thông đại chúng Sri Lanka.