Việc thành lập Bộ phận Nghiên cứu chuyên đề trực thuộc Đảng ủy Quốc hội nhằm cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng thời tạo cơ chế tập hợp, phát huy đội ngũ cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định điều động, phân công, bố trí tham gia nghiên cứu chuyên đề, phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quốc hội, Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Thường trực Đảng ủy Quốc hội và Bí thư Đảng ủy Quốc hội.
Mô hình Bộ phận Nghiên cứu chuyên đề được thiết kế gọn, linh hoạt, làm việc theo nhiệm vụ, chuyên đề và sản phẩm; không tổ chức như một cơ quan hành chính mới; không làm tăng đầu mối tổ chức và biên chế; không làm phát sinh đầu mối trung gian trong quy trình xử lý công việc; không thay thế chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quy trình tham mưu chỉnh thức của các cơ quan hiện có.
Cụ thể, Bộ phận Nghiên cứu chuyên đề thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu, gồm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tham mưu các nội dung về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; nâng cao chất lượng công tác lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Nghiên cứu, tham mưu về tổ chức và hoạt động dân nguyện, tiếp xúc cử tri; giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri và nhân dân. Tham gia ý kiến, phản biện, góp ý đối với các đề án, chương trình, kế hoạch, báo cáo lớn thuộc phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quốc hội khi được phân công.
Nghiên cứu, tham mưu về chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hội nhập quốc tế, đối ngoại nghị viện; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Thường trực Đảng ủy Quốc hội và đồng chí Bí thư Đảng ủy Quốc hội giao.
Về cơ cấu tổ chức, nhân sự và Tổ giúp việc của Bộ phận gồm: trưởng Bộ phận, các phó trưởng Bộ phận và các thành viên hoạt động chuyên trách, không chuyên trách.
Về chế độ làm việc, Bộ phận làm việc theo nhiệm vụ, chuyên đề và sản phẩm; không xử lý công việc hành chính thường xuyên; mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ người chủ trì, người phối hợp, tiến độ, sản phẩm đầu ra, chế độ báo cáo; thành viên Bộ phận và Tổ giúp việc chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, bảo mật thông tin, quản lý hồ sơ, tài liệu và các quy định có liên quan.
Tin Gốc: Thanh Niên

Từ tháng 7.2025, TP.HCM sáp nhập Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương, trở thành siêu đô thị rộng hơn 6.770 km2, dân số hơn 14 triệu người. Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được nhìn nhận đây là quyết sách mang tính chiến lược của Đảng, Nhà nước trong công cuộc cách mạng sắp xếp bộ máy; tạo ra động lực mới, dư địa mới để phát triển ở tầm cao hơn, đẳng cấp hơn với tầm nhìn trở thành top 100 thành phố đáng sống trên thế giới đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045.
Tầm nhìn mới cho TP.HCM là trở thành "siêu đô thị quốc tế" thông minh, xanh, sáng tạo, tiêu biểu không chỉ về sức mạnh kinh tế mà cả sự phong phú về văn hóa, nghệ thuật, thể thao, giải trí và phong cách sống hiện đại, năng động. Tại thời điểm sáp nhập một năm trước, khi trả lời Báo Thanh Niên, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được cho biết TP sẽ ưu tiên rà soát, điều chỉnh, xây dựng quy hoạch mới cho TP.HCM mới với tầm nhìn 1 không gian - 3 vùng - 1 đặc khu.
Trong đó, khu vực TP.HCM cũ đóng vai trò là "thủ phủ tài chính và công nghệ cao"; khu vực Bình Dương cũ đóng vai trò "thủ phủ công nghiệp"; còn khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu cũ là "thủ phủ kinh tế biển", đóng vai trò cửa ngõ cảng biển quốc tế và trung tâm công nghiệp năng lượng.
Với Nghị quyết 260/2025 của Quốc hội, TP.HCM là địa phương thứ 2 cả nước (sau thủ đô Hà Nội) được phép tích hợp các quy hoạch thành một bản quy hoạch tổng thể. Hiện TP.HCM đang lập Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025 - 2050, tầm nhìn 100 năm, dự kiến phê duyệt vào cuối tháng 10.2026. Đề cương bản quy hoạch xác định đến năm 2050, TP.HCM nằm trong nhóm 100 thành phố có chất lượng sống tốt nhất thế giới; đồng thời là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, logistics, giáo dục, KH-CN và đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực.
Thành ủy TP.HCM yêu cầu quy hoạch tổng thể toàn TP.HCM đảm bảo tính tích hợp, phù hợp với không gian phát triển mới, đồng bộ, hiện đại, có tính kết nối cao, nhất là kết nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Trong công tác quy hoạch sắp tới, TP.HCM cũng sẽ tập trung phủ kín quy hoạch trên toàn địa giới hành chính mới, nâng cao chất lượng quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch chuyên ngành.
Quy hoạch tổng thể cùng với luật Đô thị đặc biệt (đang soạn thảo) được đánh giá là 2 "đòn bẩy thể chế" quan trọng giúp TP.HCM tăng trưởng 2 con số bền vững trong nhiều năm tới. TS Nguyễn Đỗ Dũng, chuyên gia quy hoạch đô thị, cho rằng câu hỏi quan trọng đối với TP.HCM sau sáp nhập là TP mới có vận hành hiệu quả hơn hay không. Nếu chỉ cộng thêm địa giới, TP.HCM sẽ có một đơn vị hành chính lớn hơn, nhưng nếu quy hoạch lại được cấu trúc đô thị, hạ tầng và sử dụng đất, TP.HCM có thể trở thành một siêu vùng đô thị có năng lực cạnh tranh cao hơn hẳn trước đây.
Muốn tăng trưởng nhanh, TP.HCM phải giải 2 bài toán căn bản, gồm người lao động được tiếp cận nhà ở, việc làm với chi phí hợp lý hơn và hàng hóa đi từ nơi sản xuất tới cảng, sân bay, thị trường quốc tế với chi phí thấp hơn. "Tăng trưởng 2 con số không đến từ việc mở rộng địa giới, mà đến từ việc giảm chi phí của nền kinh tế đô thị", ông Dũng nói.
Về cấu trúc không gian của TP.HCM mới, TS Nguyễn Đỗ Dũng khuyến nghị tổ chức theo một nguyên tắc không tiếp tục kéo đô thị lõi lan mãi ra ngoại vi mà nên khống chế bởi giới hạn của khu vực đường Vành đai 3. Theo đó, bên trong Vành đai 3 là vùng lõi cần tái phát triển, nén có chọn lọc quanh các ga đường sắt đô thị (metro), trung tâm tài chính, dịch vụ, giáo dục, y tế, văn hóa và các khu công nghiệp cũ chuyển đổi. Một bên còn lại làm dải cây xanh, vùng trữ nước, hành lang sinh thái và không gian dự phòng hạ tầng. Bên ngoài Vành đai 3 không nên phát triển như các khu dân cư phụ thuộc trung tâm, mà phải là các đô thị vệ tinh tự chủ, có việc làm, tiện ích, trường học, bệnh viện, nhà ở vừa túi tiền và kết nối giao thông nhanh vào khu vực trung tâm.
Cũng theo ông Dũng, TP.HCM mới cần được nhìn như một hệ thống 3 trung tâm lớn, gồm vùng lõi đô thị giới hạn bởi Vành đai 3, vùng đô thị - công nghiệp phía bắc và vùng đô thị - công nghiệp - kinh tế biển quanh vịnh Cần Giờ - Gành Rái. Sau sáp nhập, TP.HCM có cơ hội khép kín vùng vịnh và quy hoạch Cần Giờ - Cái Mép - Thị Vải - Phú Mỹ - Long Sơn - Vũng Tàu như một chỉnh thể. "Nếu Thủ Thiêm là nơi TP.HCM kết nối với dòng vốn, Bình Dương là nơi kết nối với chuỗi sản xuất, thì Gành Rái phải là nơi TP.HCM kết nối với dòng hàng, dòng năng lượng và thương mại biển toàn cầu", TS Nguyễn Đỗ Dũng nhận định.
Nhiều chuyên gia đô thị cho rằng khi phân vùng phát triển, TP.HCM cần phải ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng để tổ chức lại mạng lưới giao thông đa phương thức (metro, đường bộ, đường trên cao, đường sông, đường sắt tốc độ cao...) kết nối các trung tâm, giúp việc đi lại của người dân và lưu chuyển hàng hóa nhanh chóng. Trong cấu trúc đa cực, đa trung tâm, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) được xem như công cụ hữu hiệu để phát triển đô thị nén. Vừa qua, UBND TP.HCM phê duyệt ranh giới lập quy hoạch 5 khu vực TOD xung quanh các nhà ga thuộc tuyến metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương) với tổng diện tích quy hoạch gần 940 ha.
Kiến trúc sư (KTS) Khương Văn Mười, nguyên Phó chủ tịch Hội KTS VN, phân tích từ kinh nghiệm hình thành và phát triển của các đô thị lớn cho thấy môi trường cư trú và mạng lưới giao thông công cộng khối lượng lớn là 2 nội dung quyết định sự tái cấu trúc đô thị trong giai đoạn tới. Với mô hình đô thị TOD, cư dân được tiếp cận đồng thời các tiện ích cơ bản tại chỗ và các dịch vụ như bệnh viện, khu giải trí, khu hành chính, trung tâm TP, khu công nghiệp thông qua việc chuyển tuyến metro.
KTS Khương Văn Mười cho biết T.Ư đã giao TP.HCM đưa vào sử dụng 200 km metro năm 2030 và đến năm 2050 hoàn chỉnh mạng lưới. Như vậy, TP.HCM có thể dùng sơ đồ định hướng hệ thống metro với 2 tuyến vành đai và các trạm dự kiến để thiết lập "bản đồ phục vụ đi lại" với bán kính 1 km quanh mỗi ga. Bản đồ này cũng sẽ chỉ ra các vùng "trắng" chưa được phủ trực tiếp để thiết kế các tuyến vận tải kết nối bằng xe buýt nhỏ, xe buýt nhanh hoặc phương tiện chia sẻ làm "lớp giao thông thứ hai" hoàn thiện cho cấu trúc TOD của TP. Riêng các ga ngoại ô, depot có thể phát triển TOD phục vụ khu nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội và xây dựng thêm công trình chức năng phục vụ mới sẽ giảm áp lực cho khu trung tâm.
Trong khi đó, Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM Trần Quang Lâm cho biết TP đang triển khai rất nhiều công trình, hạ tầng tầm vóc để phát triển ngang tầm các đô thị quốc tế. Về metro, TP.HCM đã khởi công, động thổ dự án đường sắt tốc độ cao Bến Thành - Cần Giờ, metro số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm và đoạn Bến Thành - Tham Lương. Sắp tới, tuyến Thủ Thiêm - Long Thành, metro số 6 từ Phú Hữu đến sân bay Tân Sơn Nhất và các tuyến metro kết nối khu vực Bình Dương cũ cũng sẽ được khởi công. Hệ thống cảng biển và hạ tầng logistics cũng được đầu tư đồng bộ để đưa TP.HCM trở thành một trong những trung tâm cảng biển thế giới. Hiện TP.HCM đã chọn được nhà đầu tư dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, động thổ cảng Gemalink giai đoạn 2.
TP.HCM cũng đang lên kế hoạch xây dựng thêm nhà ở, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà tái định cư cho người dân tại các dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị. Hiện TP.HCM có hơn 40.000 nhà ven sông, kênh rạch cần cải tạo với tổng mức vốn đầu tư sơ bộ khoảng 300.000 tỉ đồng. Ông Lâm cho biết các dự án này không chỉ chỉnh trang đô thị, cải thiện vệ sinh môi trường mà còn giúp người dân có nơi sinh sống tốt hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 24.4, tại UBND TP.HCM, ông Nguyễn Lộc Hà, Phó chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna cùng đoàn công tác nhằm thúc đẩy hợp tác song phương.
Phát biểu tại buổi gặp mặt, ông Nguyễn Lộc Hà hoan nghênh Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna cùng hơn 10 tập đoàn doanh nghiệp hàng đầu Estonia đến thăm Việt Nam và TP.HCM. Ông Hà cho rằng đây là tín hiệu tích cực, thể hiện sự coi trọng của Chính phủ Estonia nhằm phát triển quan hệ hai nước toàn diện hơn.
Ông Nguyễn Lộc Hà khẳng định Việt Nam luôn coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, trong đó Estonia là đối tác ưu tiên ở khu vực Baltic. Đồng thời, bày tỏ vui mừng khi nhận thấy trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Estonia tiếp tục có những bước phát triển tích cực.
Phó chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM đánh giá cao việc Estonia tích cực ủng hộ Việt Nam trong quan hệ với Liên minh châu Âu và đề nghị Estonia thúc đẩy các nước EU còn lại sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA); khuyến khích các doanh nghiệp Estonia hợp tác đầu tư với Việt Nam và TP.HCM trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng, logistics số hóa, giải pháp công nghệ mới cho pin ô tô điện, y sinh…
Từ ngày 1.7.2025, TP.HCM đã bước sang một giai đoạn phát triển mới. Sau khi sáp nhập hành chính với hai tỉnh Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM mới có diện tích hơn 6.700 km2, dân số hơn 14 triệu người; là nơi hội tụ của 3 cực tăng trưởng năng động nhất cả nước. TP.HCM hết sức chú trọng hoàn thiện thể chế, tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh đồng bộ. Đặc biệt, TP.HCM đang đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển mới.
Chính vì vậy, ông Nguyễn Lộc Hà tin rằng với định hướng phát triển, TP.HCM có nhiều điểm tương đồng và tính bổ trợ rõ rệt với nền kinh tế Estonia, quốc gia đi đầu thế giới về chuyển đổi số và hợp tác trong các lĩnh vực trên.
Cũng phát biểu tại buổi gặp, Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna cho rằng hai nước có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, cùng trải qua những giai đoạn khó khăn và luôn đề cao các giá trị tự do. Dù khoảng cách địa lý không gần nhau nhưng hai nước vẫn chia sẻ những giá trị chung, tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy hợp tác.
Theo Bộ trưởng Ngoại giao Estonia Margus Tsahkna, kể từ khi giành lại độc lập vào năm 1991, Estonia đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực số. Hiện 100% dịch vụ công của nước này được cung cấp trực tuyến và an ninh mạng thuộc nhóm hàng đầu thế giới. Estonia có hệ sinh thái doanh nghiệp đa dạng, từ công nghệ thông tin, năng lượng đến sản xuất và đổi mới sáng tạo, với 11 startup kỳ lân dù dân số chỉ khoảng 1,3 triệu người. Một trong những sáng kiến nổi bật là chương trình "e-residency", cho phép công dân toàn cầu, trong đó có người Việt Nam, có thể tham gia môi trường kinh doanh tại Estonia từ xa.
Ông Margus Tsahkna vui mừng khi Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển công nghệ và năng lượng xanh, đồng thời khẳng định Estonia sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình này. Ngoài ra, Estonia là thành viên EU và mong muốn đóng vai trò cầu nối giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường châu Âu, đồng thời coi Việt Nam là cửa ngõ vào khu vực.
Ông khẳng định Việt Nam đang trở thành ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Estonia, và hai bên sẽ hướng tới các hoạt động hợp tác cụ thể, lâu dài trong thời gian tới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp không chỉ xác lập mục tiêu, tầm nhìn chiến lược cho chặng đường phát triển tiếp theo, mà còn đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa lịch sử của đất nước khi bước vào kỷ nguyên mới, hướng tới các mốc son lịch sử trọng đại 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, MTTQ Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Qua đó, khẳng định vị trí, vai trò nòng cốt chính trị, thực sự là nơi phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, hiệp thương, phối hợp, thống nhất hành động, chung sức, đồng lòng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là nguồn lực nội sinh của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc tới vai trò, sứ mệnh của đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc. Để xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, biến ý chí, tư tưởng cách mạng của Đảng thành ý chí, tư tưởng, động lực để phát huy sức mạnh của nhân dân.
Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
Đó là nền gốc của đại đoàn kết”(1) và hơn hết, nhân dân với nền tảng là liên minh công - nông - trí thức, phải được tập hợp thành lực lượng có lãnh đạo, được tổ chức, liên kết chặt chẽ trong Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”(2).
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi giai đoạn cách mạng, đoàn kết luôn được xác định là giá trị cốt lõi, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là một chủ trương xuyên suốt của Đảng ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng. Trong từng giai đoạn cách mạng, cách thức tổ chức và phát huy tinh thần đại đoàn kết đều có sự kế thừa, sáng tạo để phù hợp với tiến trình và mục tiêu phát triển của đất nước.
Qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cấp, các ngành; sự chủ động, sáng tạo và tích cực của các tổ chức thành viên, MTTQ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm, nòng cốt chính trị trong việc củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó khẳng định vai trò cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Hoạt động của MTTQ Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, sáng tạo, linh hoạt, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thể hiện rõ phương châm hành động “Gần dân, hiểu dân, trọng dân, vì dân”.
Sức mạnh đại đoàn kết đó ngày càng được củng cố khi triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25.10.2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 60-NQ/ TW, ngày 12.4.2025, của Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên đã nghiêm túc quán triệt, chủ động, quyết liệt và linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống MTTQ Việt Nam đã đạt được kết quả quan trọng, rõ nét, đặc biệt là ở cấp Trung ương.
Quá trình sắp xếp không chỉ nhằm tinh gọn đầu mối, mà còn từng bước hoàn thiện mô hình tổ chức theo hướng vừa bảo đảm khả năng vận hành, hoạt động theo quy định của pháp luật và điều lệ của từng tổ chức chính trị - xã hội, bảo đảm quan hệ hợp tác với cơ quan nhà nước, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam, tổ chức xã hội khác, vừa bảo đảm sự thống nhất, liên thông trong toàn hệ thống MTTQ Việt Nam.
Việc không tổ chức cấp huyện và sắp xếp tổ chức cấp xã thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp đã từng bước giảm tầng nấc trung gian, nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả vận hành của bộ máy. Cùng với đó, việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ theo vị trí việc làm đã cơ bản khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm nguyên tắc “một việc, một đầu mối, một thời hạn, một kết quả”.
Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, gắn với tăng cường phân cấp, phân quyền cho cơ sở, đã góp phần đưa hoạt động của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng gần dân, sát cơ sở, phát huy hiệu quả vai trò đại diện, tập hợp, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bên cạnh đó góp phần nâng cao năng lực số, trình độ quản trị hiện đại của hệ thống MTTQ Việt Nam, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi số và công tác tuyên truyền, vận động quần chúng trong giai đoạn mới.
Với mong muốn phát huy vai trò nòng cốt chính trị trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, MTTQ Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên đã chủ động đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân để chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước lan tỏa mạnh mẽ tới cơ sở; góp phần củng cố, tăng cường đồng thuận xã hội, bồi đắp mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, phát huy quyền làm chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thông qua việc phát huy hiệu quả vai trò cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình; nâng cao chất lượng trang thông tin điện tử, mở rộng tương tác trên fanpage, Cổng Mặt trận số 24/7, hệ thống MTTQ Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở đã truyền tải kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân; tuyên truyền hiệu quả, kịp thời cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; khơi dậy khí thế trong nhân dân trước ngày lễ lớn của đất nước; đẩy mạnh truyền thông về các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, hoạt động giám sát và phản biện xã hội… để nhân dân hiểu rõ và đồng hành trong suốt tiến trình đổi mới của đất nước.
Song song với đó, hệ thống MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tập hợp ý kiến nhân dân, đặc biệt là trước và sau kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; phối hợp với cơ quan chức năng của chính quyền tổ chức hoạt động đánh giá sự hài lòng của người dân đối với hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Công tác vận động, đoàn kết đồng bào các dân tộc, tập hợp, đoàn kết các tôn giáo, đồng bào theo tôn giáo ngày càng được chú trọng, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào.
Thời gian qua, MTTQ Việt Nam các cấp tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong việc phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nổi bật là, hệ thống MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên các cấp đã tích cực tham gia quá trình xây dựng, lấy ý kiến nhân dân sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; phối hợp xây dựng, trình Quốc hội ban hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, luật Công đoàn, luật Thanh niên, luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở để kịp thời thể chế hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, quy định mới của Hiến pháp về vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Đồng thời, tích cực thực hiện và vận động nhân dân tham gia ý kiến xây dựng văn kiện đại hội đảng bộ các cấp và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với 527.764 ý kiến góp ý.
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội cũng được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Trong giai đoạn 2024 - 2026, MTTQ Việt Nam các cấp đã phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức hơn 2.300 cuộc giám sát; hơn 1.300 hội nghị phản biện, tham vấn ý kiến góp ý vào quyết sách của địa phương.
Ý kiến phản biện xã hội đa dạng, phong phú, sâu sắc, được cơ quan có thẩm quyền đánh giá cao và được xác định là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ trình ban hành chính sách và dự án luật. Ủy ban MTTQ Việt Nam ở địa phương đã tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân để kịp thời thông tin, trao đổi, giải quyết vấn đề người dân quan tâm, phản ánh, kiến nghị.
Một trong những dấu ấn nổi bật trong thời gian qua phải nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của hệ thống MTTQ Việt Nam khi tham gia tích cực vào công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình gắn với việc tham gia xây dựng Nhà nước, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Quốc hội, Chính phủ tiến hành tổng kết và sửa đổi, bổ sung luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; chủ trì xây dựng, trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền văn bản hướng dẫn công tác bầu cử.
Các hội nghị hiệp thương được hệ thống MTTQ Việt Nam các cấp từ Trung ương đến địa phương tổ chức nghiêm túc, dân chủ, phát huy trách nhiệm trong việc tham gia ý kiến đối với dự kiến về cơ cấu, thành phần, tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất và điều kiện tham gia của đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp.
Hoạt động kiểm tra, giám sát của MTTQ Việt Nam các cấp được triển khai kịp thời, nghiêm túc. Cùng với đó, MTTQ Việt Nam phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào công tác bầu cử để ngày 15.3.2026 thực sự là “Ngày hội của non sông” với hơn 76 triệu cử tri cả nước đi bầu cử (đạt 99,70%), đã bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội khóa XVI, 2.552 đại biểu HĐND cấp tỉnh, 72.440 đại biểu HĐND cấp xã.
Các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động lớn được MTTQ Việt Nam các cấp và tổ chức thành viên triển khai ngày càng thiết thực, sáng tạo, có chiều sâu, gắn với nhu cầu, lợi ích của nhân dân và yêu cầu phát triển của đất nước được nhân dân hưởng ứng rộng rãi.
Trong đó, nổi bật là việc hệ thống MTTQ Việt Nam từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức thành viên đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan tổ chức kêu gọi, vận động, quyết tâm phấn đấu về đích trước thời hạn phong trào thi đua “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025”.
Thông qua hoạt động, như tham gia rà soát, thống kê danh sách hộ gia đình thuộc diện được hỗ trợ; tổ chức kêu gọi, vận động tổ chức, cá nhân, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân chung tay ủng hộ, góp công, góp của giúp đỡ hộ gia đình; làm đầu mối tiếp nhận ủng hộ của tổ chức, cá nhân thông qua Quỹ “Vì người nghèo” các cấp; triển khai phân bổ, hỗ trợ đến hộ gia đình; thực hiện giám sát việc hỗ trợ bảo đảm công khai, minh mạch, đúng đối tượng đã góp phần cùng Chính phủ, các cấp, các ngành xóa 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát; huy động trên 24.700 tỉ đồng và hơn 2,7 triệu ngày công.
Công tác tổ chức vận động hỗ trợ đồng bào bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh cũng được tổ chức triển khai kịp thời với cách làm công khai, minh bạch, tạo môi trường, điều kiện để đông đảo người dân và tổ chức, cá nhân chung tay giúp đỡ cộng đồng.
Điều đó thể hiện qua sự vào cuộc tích cực của các tổ chức thành viên MTTQ Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở; cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cán bộ, công chức, người lao động; doanh nhân, văn nghệ sĩ, trí thức, đồng bào ta ở nước ngoài, đặc biệt là mỗi người dân Việt Nam ở mọi miền Tổ quốc khi hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
Mỗi người đã phát huy tinh thần tương thân tương ái, sự sẻ chia và góp thêm nguồn lực cùng Đảng, Nhà nước hỗ trợ đồng bào vùng lũ vượt qua thời điểm khó khăn; giúp bà con có thêm nguồn lực khắc phục hậu quả, sớm ổn định đời sống, tái thiết sản xuất và trở lại cuộc sống thường nhật.
Với trên 5.300 tỉ đồng hỗ trợ đồng bào các tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 năm 2024; trên 4.200 tỉ đồng ủng hộ bào chịu ảnh hưởng bởi cơn bão số 10 và hỗ trợ đồng bào bị lũ lụt miền Trung trong năm 2025 là minh chứng rõ nét cho tinh thần đại đoàn kết và sự tin tưởng mà nhân dân gửi trao cho MTTQ Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn định hướng chiến lược về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới, đó là: “Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”(3).
Đồng thời, yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt chính trị của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, năng lực sáng tạo của nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(4).
Quán triệt sâu sắc tinh thần Đại hội XIV của Đảng và hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốcMTTQ Việt Nam lần thứ XI (nhiệm kỳ 2026 - 2031), MTTQ Việt Nam phát huy mạnh mẽ vai trò nòng cốt chính trị trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; được cụ thể hóa bằng định hướng mang tính chiến lược, đồng bộ và khả thi; trọng tâm là nâng cao năng lực tham gia quản trị xã hội, góp phần hoàn thiện và vận hành hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Để hiện thực hóa yêu cầu đó, MTTQ Việt Nam tập trung triển khai thực hiện một số định hướng, nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, MTTQ Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hành động nhằm vận động sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Thực hiện nhất quán phương châm “khi dân cần Mặt trận có, khi dân khó Mặt trận sẵn sàng tham gia”, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân.
Chủ động, kịp thời hơn trong việc nắm bắt, tổng hợp và phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đổi mới công tác vận động, tập hợp, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, người theo tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức tuyên truyền, lấy mục tiêu tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong toàn dân để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Tập trung triển khai Đề án “Chuyển đổi số MTTQ Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035” trong hệ thống MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên các cấp. Đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội với cơ sở dữ liệu quốc gia và bộ, ngành liên quan, bảo đảm đồng bộ, liên thông.
Xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung, phục vụ dự báo, tham mưu, hoạch định chủ trương, chính sách. Bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; ban hành quy chế bảo mật, an toàn thông tin trong sử dụng và khai thác nền tảng số.
Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội theo hướng đi vào vấn đề lớn, gắn với lợi ích thiết thực của nhân dân theo tinh thần “rõ việc - rõ trách nhiệm - rõ hiệu quả”.
Thực hiện hiệu quả “Tháng nghe dân nói” do MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức ở tất cả xã, phường, đặc khu trên cả nước, coi đây là kênh đối thoại thường xuyên giữa Đảng, chính quyền với nhân dân.
Phát huy vai trò của nhân dân tham gia công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, nhất là đối với nội dung, lĩnh vực tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân.
Đẩy mạnh thể chế hóa vai trò của MTTQ Việt Nam tham gia từ sớm, ngay từ khâu xây dựng chính sách trong việc đề xuất chủ trương, chính sách nhằm tập hợp, phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, tham gia phản biện xã hội đối với việc soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời tăng cường, theo dõi, giám sát việc thực hiện kiến nghị đến cùng, bảo đảm ý kiến giám sát, phản biện thực chất.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của nhân dân trên Cổng Mặt trận số 24/7; phát huy vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, nhất là nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.
Tăng cường thể chế hóa và thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo hướng cụ thể, có thể đo lường, nhất là trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân.
Bên cạnh đó, mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện, gắn với công khai, minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội và giám sát thực chất. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế chủ đạo, động lực của đổi mới phát triển, đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở cơ sở thông qua việc phát triển nền tảng số để người dân tham gia góp ý, phản ánh và theo dõi một cách thuận tiện, minh bạch.
Đồng thời, bảo đảm thực hiện dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, tuân thủ pháp luật; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện lợi dụng quyền tự do dân chủ gây chia rẽ khối đại đoàn kết, gây mất ổn định xã hội...
Thứ ba, đổi mới phương thức phát động các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động với sự tham gia và thực hiện của toàn dân, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Nghiên cứu để phát động và định hướng cuộc vận động, phong trào thi đua phát triển theo ba trụ cột “xanh - số - sáng tạo”, gắn với thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trung tâm, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là động lực chính.
Phát động và triển khai Phong trào thi đua “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh, sạch, đẹp” nhằm tạo chuyển biến tích cực trong xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu tăng trưởng 2 con số theo tinh thần Nghị quyết XIV của Đảng.
Tiếp tục triển khai hiệu quả và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong tình hình mới.
Đồng thời, các tổ chức thành viên chủ động, sáng tạo phát động và tổ chức triển khai phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động để khơi dậy niềm tự hào, khát vọng cống hiến, tinh thần lao động, sáng tạo trong các tầng lớp nhân dân.
MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên cũng cần tổ chức triển khai sâu rộng và sáng tạo phong trào “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; đa dạng hóa nguồn lực huy động từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho Quỹ “Vì người nghèo” và chương trình an sinh xã hội. Phát động, kêu gọi phong trào giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh đồng bào dân tộc thiểu số ở xã khu vực biên giới.
Cùng với đó cần chú trọng giải pháp chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ kháng chiến cũ, vùng chiến lược, vùng có đông đồng bào theo tôn giáo; tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng nhân tố tích cực; phát triển đa dạng mô hình có hiệu quả.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo mô hình tổ chức mới, ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, hướng mạnh về cơ sở.
Tăng cường, phát huy vai trò trung tâm của MTTQ Việt Nam trong hiệp thương dân chủ, phối hợp thống nhất hành động giữa các thành viên; thực hiện nghiêm túc vai trò, trách nhiệm chủ trì hiệp thương của Ủy ban MTTQ Việt Nam và trách nhiệm chủ động phối hợp hành động của các tổ chức thành viên trong hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động với yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”.
Thực hiện kỷ cương, minh bạch trong quá trình thực thi, thi đua thiết thực, kiểm tra đến cùng việc thực hiện áp dụng công thức “3 dễ - 3 rõ - 3 đo”: Dễ hiểu - dễ nhớ - dễ làm; rõ mục tiêu - rõ trách nhiệm - rõ thời hạn; đo đầu vào - đo đầu ra - đo tác động.
Cán bộ MTTQ Việt Nam và các đoàn thể phải giữ vai trò nòng cốt, bảo đảm vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân của MTTQ Việt Nam, giữ “3 gần”: gần dân - gần cơ sở - gần không gian số; “5 phải”: phải lắng nghe - phải đối thoại - phải làm mẫu - phải chịu trách nhiệm - phải báo cáo kết quả; “4 không”: không hình thức - không né tránh - không đùn đẩy - không làm sai chức năng.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với thời cơ, thách thức và vận hội mới mang tính lịch sử. Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, với vị trí, vai trò và sứ mệnh của mình, MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, niềm tin, khát vọng cống hiến; quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn lực lượng vũ trang thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.244
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.119
(3), (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 120 - 121, 125
*Tiêu đề bài viết do Thanh Niên đặt
Tin Gốc: Thanh Niên

