Thông tin quy hoạch hai bên sông Hồng và nhiều dự án hạ tầng mới tại Hà Nội đang khiến không ít hộ gia đình rơi vào vấn đề đặc biệt. Nhà đất nằm trong diện thu hồi để phục vụ dự án công, khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay ngân hàng.
Trường hợp của anh Lê Hồng Hải (phố Hồng Hà, Hà Nội) phản ánh trên báo Vietnamnet cho biết, khu đất nhà anh nằm trong diện thu hồi, giải tỏa mặt bằng để thành phố xây dựng dự án. Tuy nhiên, hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được gia đình anh thế chấp cho khoản vay tại ngân hàng.
“Nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng chưa thực hiện xong, nay khu đất nằm trong diện giải tỏa. Không biết việc này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nghĩa vụ nợ với ngân hàng?”, anh Hải băn khoăn.
Hay như trường hợp của bà Nguyễn Thị Thu Hà, chủ một cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng tại phường Ba Đình cho biết, gia đình đang vay gần 3 tỷ đồng để mở rộng hoạt động kinh doanh. Được vay thế chấp bằng căn nhà nằm ở khu vực dự kiến giải tỏa.
“Tôi lo nhất là tiền đền không đủ để tất toán khoản vay. Nếu ngân hàng yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm thì gia đình gần như không còn gì để thế chấp”, bà Hà nói.
Theo như báo Vietnamnet thông tin thì Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch thế chấp được quy định tại Điều 317-327 của Bộ Luật Dân sự 2015. Ngoài ra, hệ thống quy định bồi thường của Luật Đất đai 2024 cũng đã quy định khi có quyết định thu hồi, mảnh đất đó lập tức không còn là tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, khoản nợ của khách hàng tại ngân hàng thì vẫn còn đó, đồng nghĩa với việc khách hàng không thể trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Ý kiến của chuyên gia pháp lý
Theo chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng, trường hợp tài sản bảo đảm là nhà đất thuộc diện giải tỏa, ngân hàng sẽ yêu cầu bên vay phải bổ sung, thay thế biện pháp bảo đảm khác tương xứng với nghĩa vụ nợ thay cho tài sản thế chấp đã bị ảnh hưởng giá trị hoặc không còn đủ điều kiện bảo đảm do thuộc diện thu hồi.
Nếu tài sản bảo đảm này bị Nhà nước thu hồi thì tiền bồi thường sẽ được dùng làm tài sản bảo đảm thay thế.
Nếu bên vay không bổ sung, thay thế được biện pháp bảo đảm thì ngân hàng sẽ kích hoạt việc thu nợ trước hạn.
Khi xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì bên vay vẫn phải trả tiếp phần còn thiếu cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi còn lại.
Trong trường hợp này, bên vay hầu như không có nhiều lựa chọn ngoài việc chuẩn bị phương án tài chính để đàm phán với ngân hàng. Thực tế các quy định này đều được các ngân hàng ghi rõ trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm là bất động sản. Đây là những vấn đề cơ bản mà gần như hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nào cũng đề cập đến.
Nói cách khác, toàn bộ số tiền đền bù giải tỏa của khách hàng sẽ không về tài khoản của khách hàng ngay mà sẽ nằm tại kho bạc. Số tiền này sẽ được ưu tiên trả nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận giữa 3 bên: Nhà nước (bên thu hồi đất), ngân hàng (bên cho vay và giữ tài sản bảo đảm) và chủ đất (bên vay vốn).
Trong trường hợp tiền đền bù thu hồi đất lớn hơn dư nợ tại ngân hàng thì mọi chuyện sẽ trở nên đơn giản. Kho bạc sẽ chuyển thẳng khoản tiền tương ứng với dư nợ còn lại cho ngân hàng để thực hiện nghiệp vụ giải chấp, phần còn lại sẽ được chuyển cho chủ đất theo phương thức giao tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Trong trường hợp tiền đền bù giải phóng mặt bằng do nhà nước trả thấp hơn dư nợ tại ngân hàng, ngân hàng sẽ phong tỏa và thu hồi toàn bộ số tiền đền bù đó.
Phần còn thiếu, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp. Điều này đồng nghĩa với việc nghĩa vụ nợ của khách hàng tại ngân hàng vẫn còn đó và họ sẽ phải có trách nhiệm thanh toán cả gốc lẫn lãi cho đến khi tất toán khoản vay.
Theo giới chuyên môn, đây là một vấn đề có thể tạo ra nhiều áp lực nợ xấu cho cả người vay và ngân hàng nếu không được xử lý linh hoạt.
Theo Th.s, luật sư Mai Chí Đức – Phó giám đốc Công ty luật Hoàng Duy và Cộng sự chia sẻ trên VTCnews, về thực tiễn xử lý tiền bồi thường, theo luật sư, thông thường cơ quan giải phóng mặt bằng sẽ rà soát tình trạng pháp lý của thửa đất, trong đó có thông tin đăng ký thế chấp tại ngân hàng. Trong nhiều trường hợp, cơ quan chức năng sẽ phối hợp với ngân hàng và người dân để xác định phương án thanh toán khoản bồi thường. Nếu có đăng ký giao dịch bảo đảm hợp pháp, ngân hàng có cơ sở pháp lý để yêu cầu ưu tiên xử lý khoản tiền bồi thường nhằm bảo đảm nghĩa vụ nợ. Thực tế có nơi tiền bồi thường được chuyển qua tài khoản phong tỏa hoặc thực hiện theo thỏa thuận ba bên giữa cơ quan bồi thường, ngân hàng và người dân nhằm tránh tranh chấp phát sinh về sau.
Người dân khi ký hợp đồng tín dụng cần đặc biệt lưu ý các điều khoản liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, nghĩa vụ bổ sung tài sản thế chấp, điều kiện thu hồi nợ trước hạn và quyền của ngân hàng khi tài sản bị giảm giá trị hoặc bị thu hồi. Nhiều tranh chấp hiện nay xuất phát từ việc khách hàng chỉ quan tâm đến khoản vay và lãi suất mà chưa đọc kỹ các điều khoản về xử lý rủi ro pháp lý đối với tài sản bảo đảm.
Cũng theo luật sư Đức, thực tế, các tranh chấp giữa ngân hàng và người vay trong trường hợp đất bị giải tỏa vẫn phát sinh tương đối nhiều. Dạng tranh chấp phổ biến gồm: Tranh chấp về quyền nhận tiền bồi thường; tranh chấp về việc ngân hàng có được ưu tiên thanh toán từ tiền đền bù hay không; tranh chấp về nghĩa vụ trả phần nợ còn thiếu sau khi đã xử lý tiền bồi thường; hoặc tranh chấp liên quan đến việc ngân hàng thu hồi nợ trước hạn. Một số trường hợp còn phát sinh khi người vay tự nhận tiền bồi thường nhưng không thanh toán cho ngân hàng dẫn đến kiện tụng kéo dài.
Do đó, ngay khi nhận được thông báo thu hồi đất, người dân nên chủ động thông báo cho ngân hàng để cùng làm việc về phương án xử lý khoản vay. Việc chủ động trao đổi sớm thường giúp các bên có cơ hội cơ cấu lại nợ, điều chỉnh thời hạn thanh toán hoặc thống nhất phương án dùng tiền bồi thường để tất toán một phần nghĩa vụ. Đồng thời, người dân cũng cần rà soát kỹ hồ sơ pháp lý, quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường và các thỏa thuận tín dụng để bảo vệ quyền lợi của mình.
Trong trường hợp ngân hàng và người vay không đạt được thỏa thuận về xử lý khoản nợ sau thu hồi đất, tranh chấp sẽ được giải quyết theo cơ chế dân sự thông qua thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền. Khi đó, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ hồ sơ tín dụng, hợp đồng thế chấp, giá trị bồi thường, nghĩa vụ còn lại của bên vay cũng như tính hợp pháp trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm để đưa ra phán quyết phù hợp với quy định pháp luật.
Tại dự án luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và luật Thuế giá trị gia tăng, Bộ Tài chính đề xuất nhiều nội dung đáng chú ý về ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.
Theo đó, sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh theo hướng không quy định cụ thể là 500 triệu đồng/năm tại luật mà giao Chính phủ quy định. Tinh thần theo hướng nâng ngưỡng này lên để tiếp tục hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp.
Ngoài ra, cần bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xác định doanh thu làm căn cứ miễn thuế.
Những đề xuất trên nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia. Nhìn từ góc độ so sánh tổng thể với một số quốc gia bên cạnh Việt Nam, có GDP bình quân đầu người và mức doanh thu miễn thuế tương ứng, theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh nên điều chỉnh lên tối thiểu 1 tỉ đồng/năm.
"So với Trung Quốc, ngưỡng doanh thu miễn thuế nên cân nhắc là 1,5 tỉ đồng/năm; so với Malaysia và Thái Lan, các ngưỡng nên cân nhắc lần lượt là 1 tỉ đồng/năm và 750 triệu đồng/năm", ông Tuấn nói.
Về ngưỡng miễn thuế cho doanh nghiệp nhỏ, ông Tuấn cho rằng, nên bằng với ngưỡng của hộ kinh doanh.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm và xây dựng ngưỡng miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ tương tự.
Tuy nhiên, mấu chốt là sau khi nâng ngưỡng, cần áp dụng việc trừ ngưỡng này khi tính thuế thu nhập cá nhân với cả nhóm hộ kinh doanh có doanh thu năm từ trên 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất, thay vì chỉ áp dụng với nhóm hộ kinh doanh quy mô này nhưng tính thuế theo doanh thu (x) thuế suất.
Ông Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, lại đề xuất xác định ngưỡng miễn thuế đối với doanh nghiệp nhỏ trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng doanh thu/năm.
Theo ông, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hay các doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh có muốn thực hiện nghĩa vụ thuế hay không, mà là khả năng tuân thủ trong điều kiện năng lực quản trị còn hạn chế.
Đối với nhóm doanh nghiệp này, các chi phí liên quan đến kế toán, kê khai, hóa đơn… trong nhiều trường hợp đang trở thành gánh nặng đáng kể. Nếu ngưỡng miễn thuế được xác định ở mức quá thấp, chính sách sẽ khó đạt mục tiêu hỗ trợ thực chất.
Ở góc độ tiếp cận chính sách, ông Nam cho rằng, không nên nhìn thuế theo hướng "thu ngay từ đầu". Cách tiếp cận này có thể tạo ra một phần nguồn thu trước mắt, nhưng lại làm suy giảm khả năng hình thành nguồn thu bền vững trong tương lai.
Một doanh nghiệp không vượt qua được giai đoạn đầu sẽ khó có cơ hội trở thành đối tượng nộp thuế ổn định. Do đó, việc xác định ngưỡng miễn thuế trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng/năm không đơn thuần là ưu đãi, mà là lựa chọn chính sách mang tính nuôi dưỡng và đầu tư cho phát triển.
Về tương quan chính sách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, ông Nam nhấn mạnh, cần tránh tư duy cào bằng, mà phải thiết kế khoảng chênh lệch hợp lý để tạo động lực chuyển đổi.
Cụ thể, nếu ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh ở mức 3 tỉ đồng/năm thì ngưỡng đối với doanh nghiệp nhỏ cần tối thiểu khoảng 5 tỉ đồng/năm. Tương tự, nếu hộ kinh doanh ở mức 5 tỉ đồng/năm thì doanh nghiệp nhỏ cần ở mức khoảng 7 - 8 tỉ đồng/năm.
Nếu không tạo ra sự khác biệt đủ lớn về nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ không có động lực chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Khi đó, mục tiêu đưa khu vực kinh doanh phi chính thức vào khu vực chính thức sẽ khó đạt được trong thực tiễn.
Về khía cạnh để ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ bằng nhau, ông Được bày tỏ, không lo hộ kinh doanh ngại "lớn".
Vị này đề xuất, bên cạnh chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu như hiện hành, để tạo động lực cho hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi, cần có thêm chính sách nhóm doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỉ đồng/năm trở xuống đang tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất cũng được áp dụng trừ đi ngưỡng doanh thu miễn thuế trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Tiến Cường, Phó tổng biên tập Báo Công thương, cho biết sau gần một tháng triển khai (1.6), thị trường đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Tổng lượng tiêu thụ xăng sinh học đạt khoảng 850 triệu lít, trong đó xăng E10 chiếm khoảng 800 triệu lít, tương đương hơn 94,12% và xăng E5 khoảng 50 triệu lít (chiếm 5,88%). Điều này cho thấy sự đón nhận tích cực của thị trường đối với loại nhiên liệu mới này.
Theo ông Nguyễn Khắc HIếu - Phó trưởng phòng Quản lý năng lượng (Sở Công thương TP.HCM): Toàn thành phố hiện có 12 thương nhân đầu mối sản xuất và kinh doanh xăng dầu, trong đó có 2 thương nhân tham gia phối trộn; 65 thương nhân phân phối và 1.176 cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Trung bình mỗi ngày, TP.HCM tiêu thụ khoảng là 13.000 m³ xăng dầu các loại, tương đương gần 20% tổng sản lượng cả nước. "Kết quả sau một tháng triển khai cho thấy, nguồn cung trên địa bàn thành phố ổn định, không ghi nhận tình trạng thiếu hàng hay phản ánh tiêu cực liên quan đến chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, nhận thức của người tiêu dùng đối với xăng E10 cũng được nâng cao".
Một trong 2 doanh nghiệp đầu mối đi đầu trong việc tham gia phối trộn và phân phối xăng E10 từ sớm, ông Lê Trung Hưng, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dầu Việt Nam - CTCP (PVOil) thông tin, trong quá trình triển khai, doanh nghiệp chưa ghi nhận phản ánh tiêu cực nào liên quan đến chất lượng xăng E10. "Cùng với sự đồng hành của cơ quan quản lý và các cơ quan truyền thông, người tiêu dùng đã tiếp cận đầy đủ hơn các thông tin khoa học, từ đó tạo niềm tin đối với chủ trương phát triển nhiên liệu sinh học", ông Hưng nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Thành Nam, Phó cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) nhận định: Việc triển khai lộ trình sử dụng xăng E10 theo Thông tư 50/2025 của Bộ Công thương cơ bản diễn ra đúng tiến độ. Đặc biệt, nguồn cung ethanol nhiên liệu, xăng nền và xăng E10 được các doanh nghiệp chuẩn bị đầy đủ; hệ thống phân phối hoạt động ổn định, không xảy ra tình trạng gián đoạn hay thiếu hụt nguồn hàng. Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết 29, việc công bố giá cơ sở xăng E10 do Bộ Công thương thực hiện, đã tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh và mở rộng mạng lưới cung ứng.
Tuy vậy, ông Nam cũng nhìn nhận quá trình triển khai loại nhiên liệu sinh học này còn một số thách thức như nguồn ethanol sản xuất trong nước chưa đáp ứng hoàn toàn nhu cầu lâu dài; một số cơ sở pha chế, phối trộn vẫn đang tiếp tục hoàn thiện đầu tư; một bộ phận người tiêu dùng băn khoăn về khả năng tương thích của xăng E10 với các loại xe đời cũ và đa số thông tin chưa được kiểm chứng.
Từ đó, ông Nam khẳng định, trong thời gian tới, Bộ Công thương sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến cung - cầu, tăng cường kiểm tra chất lượng, kiểm tra giám sát theo định kỳ và đột xuất; phối hợp với các doanh nghiệp sản xuất ô tô, xe máy công bố đầy đủ danh mục phương tiện tương thích và đẩy mạnh truyền thông để người dân tiếp cận thông tin chính xác.
Sáng 28/5, CTCP Vimeco tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026. Tính đến 8h25, công ty ghi nhận 17 cổ đông tham dự trực tiếp và nhận ủy quyền, đại diện cho hơn 70 triệu cổ phiếu, tương ứng 70,23% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Theo danh sách chốt quyền, đại hội triệu tập 1.655 cổ đông, đại diện hơn 100 triệu cổ phiếu có quyền biểu quyết.
Chia sẻ tại đại hội, Vimeco ghi nhận kết quả kinh doanh đi lùi trong năm 2025 khi doanh thu và lợi nhuận đều không đạt kế hoạch đề ra, trong bối cảnh hoạt động xây lắp chịu áp lực cạnh tranh, biến động chi phí đầu vào và áp lực dòng tiền.
Cụ thể, doanh thu thuần hợp nhất năm 2025 đạt 816,98 tỷ đồng, tương đương 70,41% kế hoạch năm và giảm gần 27% so với năm 2024. Công ty lỗ trước thuế 6,8 tỷ đồng và lỗ sau thuế 9,65 tỷ đồng, trong khi năm trước vẫn ghi nhận lợi nhuận dương.
Tại công ty mẹ, doanh thu thuần đạt 810,19 tỷ đồng, hoàn thành hơn 70% kế hoạch. Lợi nhuận trước thuế âm 7,35 tỷ đồng và lỗ sau thuế 10,2 tỷ đồng.
Ban lãnh đạo cho biết doanh thu suy giảm chủ yếu do hoạt động xây lắp đi xuống, tiến độ triển khai và nghiệm thu tại một số dự án chưa đạt kỳ vọng.
Đồng thời, biên lợi nhuận tiếp tục chịu áp lực từ cạnh tranh trong ngành xây dựng và chi phí đầu vào biến động.
Theo báo cáo của Ban Kiểm soát, hoạt động xây lắp - lĩnh vực cốt lõi của doanh nghiệp ghi nhận doanh thu hợp nhất năm 2025 đạt 459,6 tỷ đồng, giảm 362,2 tỷ đồng so với năm trước. Lợi nhuận gộp từ mảng này chỉ còn 5,4 tỷ đồng, giảm 47,3 tỷ đồng so với năm 2024.
Ở chiều ngược lại, mảng vật liệu xây dựng và dịch vụ ghi nhận kết quả tích cực hơn. Doanh thu vật liệu xây dựng đạt 308,7 tỷ đồng, tăng 48,4 tỷ đồng; lợi nhuận gộp đạt 45,4 tỷ đồng, tăng 26 tỷ đồng so với cùng kỳ.
Mảng dịch vụ hợp nhất, gồm giáo dục, cho thuê văn phòng và sửa chữa thiết bị, ghi nhận doanh thu 41,5 tỷ đồng và lợi nhuận gộp 20,2 tỷ đồng, lần lượt tăng 19% và 55% so với năm trước.
Ngoài ra, năm 2025 doanh nghiệp ghi nhận gần 9,8 tỷ đồng lợi nhuận khác, chủ yếu đến từ thanh lý tài sản.
Dù vậy, áp lực tài chính vẫn ở mức lớn khi chi phí quản lý doanh nghiệp hợp nhất tăng lên 51,2 tỷ đồng, chủ yếu do trích lập dự phòng phải thu khó đòi hơn 10 tỷ đồng. Chi phí tài chính duy trì ở mức gần 40 tỷ đồng, tương đương khoảng 4,9% doanh thu.
Tính đến cuối năm 2025, tổng dư nợ vay và nợ thuê tài chính hợp nhất của Vimeco ở mức 547,3 tỷ đồng, chiếm khoảng 47% tổng nguồn vốn.
Các khoản phải thu và hàng tồn kho dù giảm hơn 255 tỷ đồng so với đầu năm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, tiếp tục gây áp lực lên dòng tiền và chi phí lãi vay.
Trong bối cảnh kết quả kinh doanh suy giảm, HĐQT dự kiến trình cổ đông phương án không phân phối lợi nhuận sau thuế năm 2025. Theo báo cáo, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế đến cuối năm còn khoảng 4,4 tỷ đồng sau khi ghi nhận khoản lỗ hơn 10,19 tỷ đồng tại công ty mẹ trong năm qua.
Bước sang năm 2026, Vimeco đặt mục tiêu phục hồi kết quả kinh doanh với doanh thu hợp nhất 1.042 tỷ đồng, tăng khoảng 225 tỷ đồng so với thực hiện năm trước.
Lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 8,1 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế khoảng 3,5 tỷ đồng.
Đối với công ty mẹ, kế hoạch doanh thu năm 2026 là 1.035 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 7,5 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 3 tỷ đồng.
Ban điều hành cho biết trong năm nay doanh nghiệp sẽ tập trung củng cố nền tảng tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động xây lắp và kiểm soát rủi ro dòng tiền. Công ty sẽ ưu tiên các dự án có nguồn vốn rõ ràng, điều kiện thanh toán an toàn và phù hợp năng lực thi công, thay vì chạy theo sản lượng.
Song song đó, Vimeco dự kiến đẩy mạnh nghiệm thu, thanh quyết toán và thu hồi công nợ nhằm cải thiện dòng tiền, đồng thời tiếp tục rà soát hiệu quả các trạm, thiết bị và danh mục đầu tư để cơ cấu lại nguồn lực.
Đáng chú ý, tại đại hội lần này, công ty cũng trình cổ đông thông qua công tác nhân sự. Theo đó, ông Vũ Minh Hoàng và ông Bùi Văn Thiềng xin từ nhiệm vị trí thành viên HĐQT; ông Vũ Văn Mạnh và bà Trần Thị Kim Oanh xin miễn nhiệm vị trí thành viên Ban Kiểm soát.