Chia sẻ với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhận định, dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) không chỉ là việc sửa lại một đạo luật chuyên ngành, mà phải là cuộc tái định vị toàn diện vai trò của ngành dầu khí trong mô hình phát triển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong vài thập kỷ tới.
Theo ông, thay vì chỉ giải quyết khó khăn trước mắt, Luật sửa đổi phải kiến tạo một khuôn khổ pháp lý dài hạn để đưa ngành dầu khí – năng lượng Việt Nam trở thành một trụ cột của an ninh năng lượng, kinh tế biển và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.
Để làm được điều đó, Việt Nam buộc phải dũng cảm bước qua tư duy lối mòn về “quản lý tài nguyên dầu khí” để tiệm cận tư duy hiện đại: “quản trị và phát triển không gian dầu khí – năng lượng quốc gia” với 3 chuyển đổi căn bản: từ quản lý tài nguyên sang kiến tạo phát triển; từ dầu khí truyền thống sang công nghiệp – năng lượng tích hợp; và từ bảo đảm nguồn cung trước mắt sang xây dựng năng lực tự chủ năng lượng dài hạn.
Sự chuyển dịch triết lý sâu sắc nhất nằm ở việc thiết lập lại một luật chơi công bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư, dịch chuyển từ môi trường “xin phép và kiểm soát” sang “hợp tác và chia sẻ rủi ro”.
“Tôi kỳ vọng Luật sửa đổi sẽ tạo ra một thông điệp rõ ràng: Nhà nước và nhà đầu tư không chỉ chia sẻ lợi ích khi có dầu khí, mà phải có cơ chế hợp lý để chia sẻ rủi ro trong toàn bộ vòng đời dự án”, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam bày tỏ.
TS. Nguyễn Quốc Thập phân tích, hoạt động dầu khí có bản chất khắc nghiệt rất khác các ngành công nghiệp thông thường khi nhà đầu tư phải chấp nhận bỏ ra hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ USD trước khi biết chắc dự án có thành công hay không. Nếu Nhà nước chỉ tập trung vào tối đa hóa phần thu ngân sách lúc thắng lợi mà thiếu đi cơ chế chia sẻ hợp lý khi thất bại, các dòng vốn ngoại sẽ lập tức quay lưng. Sự thay đổi tư duy này chính là chiếc chìa khóa quyết định để biến các mỏ “không có hiệu quả kinh tế” thành các dự án “có khả năng đầu tư”.
Khắc phục bất cập của Luật Dầu khí 2022 khi xác định đối tượng ưu đãi dựa trên chỉ tiêu tỉ suất hoàn vốn nội tại (IRR) tiệm cận dưới 10% đầy cứng nhắc và dễ bị ảnh hưởng bởi giá dầu, dự thảo mới định nghĩa mỏ cận biên là những mỏ có hiệu quả đầu tư tiệm cận dưới ngưỡng tối thiểu trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật thông thường.
Đi kèm với đó là gói ưu đãi tài chính đột phá: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi chỉ 25%, thuế xuất khẩu dầu thô giảm còn 5%, và mức thu hồi chi phí tối đa lên tới 80% sản lượng khai thác hàng năm cho diện ưu đãi đặc biệt. Nhà thầu cũng được sử dụng toàn bộ phần dầu khí lãi để thu hồi chi phí sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế tài nguyên.
Đồng thời, đối với dự án nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR), dự thảo cho phép tăng thêm mức thu hồi chi phí tối đa 10% so với hợp đồng hiện hữu, kéo dài thời hạn hợp đồng thêm tối đa 5 năm, và cho phép ký kết hợp đồng mới trước khi hợp đồng cũ kết thúc, kế thừa từ bài học thành công thực tế của dự án JVPC tại Lô 15-2 mỏ Rạng Đông.
“Ưu đãi đầu tư không làm Nhà nước mất đi nguồn thu; ngược lại, trong nhiều trường hợp, nếu không có ưu đãi thì dự án không được triển khai và Nhà nước không có nguồn thu nào cả”, TS. Nguyễn Quốc Thập phân tích.
Chính vì vậy, tư duy chính sách cần chuyển đổi triệt để từ việc “Nhà nước thu được bao nhiêu phần trăm?” sang “Làm thế nào để tối đa hóa tổng giá trị tài nguyên thu được cho quốc gia?”.
Hơn thế, một đạo luật hoàn thiện phải giúp Việt Nam chiến thắng trong cuộc đua giành dòng vốn ngoại với những đối thủ như Guyana, Brazil hay các nước láng giềng Malaysia, Indonesia dựa trên việc so sánh tổng hòa giữa tiềm năng tài nguyên, điều khoản tài chính, rủi ro địa chất, ổn định pháp lý và thời gian phê duyệt.
Đó là lý do TS. Nguyễn Quốc Thập đúc kết rằng thước đo thành công cuối cùng của Luật sửa đổi không nằm ở số lượng điều khoản mới trên giấy, mà phải được chứng minh sau 5 đến 10 năm nữa bằng những hợp đồng dầu khí mới, nhiều giếng khoan thực tế được dựng lên, trữ lượng mới được phát hiện và sản lượng dầu khí thực tế được đưa lên mặt đất.
“Kỳ vọng lớn nhất của tôi là Luật Dầu khí sửa đổi sẽ làm thay đổi bài toán kinh tế của ngành: biến những khu vực hiện nay nhà đầu tư không muốn vào thành nơi đáng để thăm dò; biến những phát hiện chưa thương mại thành mỏ có thể phát triển; và biến phần tài nguyên còn nằm dưới lòng đất thành nguồn năng lượng, nguồn thu và sức mạnh kinh tế thực sự của đất nước”, ông nói.
Một trong những nội dung được nhiều ý kiến góp ý tại dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) là việc làm rõ vai trò của cơ quan đại diện nước chủ nhà trong hoạt động dầu khí.
Theo dự thảo, Điều 56 và Điều 57 chưa quy định cụ thể vai trò thay mặt nước chủ nhà của Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), đồng thời Điều 60 cũng chưa có quy định chuyển tiếp để xử lý các nghĩa vụ mà Tập đoàn đã thực hiện thay nước chủ nhà trước đây.
Trao đổi tại hội thảo góp ý dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) do Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp.HCM phối hợp với Petrovietnam tổ chức ngày 24/6 tại Tp.HCM, ông Lê Ngọc Sơn – Chủ tịch HĐTV Petrovietnam cho biết, nhiều năm qua, tập đoàn đã thực hiện vai trò đại diện nước chủ nhà với tư cách là một bên ký kết hợp đồng dầu khí, thực hiện quyền và nghĩa vụ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước theo ủy quyền của Nhà nước. Tuy nhiên, nội hàm công việc này vẫn chưa được quy định đầy đủ trong luật.
Theo ông Sơn, việc xác lập rõ tư cách pháp lý của cơ quan đại diện nước chủ nhà có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc kiện tụng quốc tế. Khi được luật quy định rõ, cơ quan đại diện nước chủ nhà sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quyền, nghĩa vụ và tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh, qua đó giảm thiểu rủi ro pháp lý cho Nhà nước.
Để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, ông Lê Ngọc Sơn đề xuất sử dụng khái niệm “cơ quan đại diện nước chủ nhà” thay vì quy định trực tiếp tên Petrovietnam trong Luật. Cách tiếp cận này sẽ tạo dư địa để Chính phủ chủ động điều chỉnh cơ quan thực hiện khi cần thiết mà không phải sửa đổi luật.
Bên cạnh đó, Petrovietnam cũng kiến nghị bổ sung quy định chuyển tiếp tại Điều 60 nhằm xử lý các nghĩa vụ của nước chủ nhà trong các hợp đồng dầu khí đã ký kết, đồng thời cho phép áp dụng cơ chế sử dụng nguồn thu từ phần dầu, khí của nước chủ nhà để thực hiện một số nghĩa vụ tài chính liên quan, bảo đảm tính liên tục trong triển khai các dự án.
Theo Luật sư Trương Thanh Đức – Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cũng cho rằng, thay vì tập trung quá nhiều thẩm quyền ở cấp Chính phủ, nhiều nội dung khi sửa Luật Dầu khí có thể được giao cho Bộ Công Thương và Petrovietnam chủ động quyết định.
Các nội dung như kế hoạch lựa chọn nhà thầu, nội dung hợp đồng dầu khí, kế hoạch phát triển mỏ, báo cáo tài nguyên và trữ lượng… nếu được phân cấp hợp lý sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, nâng cao tính chủ động của cơ quan quản lý và doanh nghiệp, đồng thời giảm chi phí cơ hội cho nhà đầu tư.
Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, trong một lĩnh vực có tính cạnh tranh quốc tế cao như dầu khí, tốc độ ra quyết định và khả năng phản ứng với thị trường là những yếu tố quan trọng. Một quy trình phê duyệt kéo dài có thể khiến cơ hội đầu tư dịch chuyển sang các quốc gia khác có môi trường pháp lý thuận lợi hơn.
Ngày 26/5, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã dự và chỉ đạo Hội nghị về công tác quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Tại hội nghị, ông Lương Hải Sinh – Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) cho biết thị trường đang tiếp tục được tái cấu trúc theo hướng chuyên sâu, trong đó HoSE tập trung phát triển thị trường cổ phiếu, còn HNX định hướng phát triển thị trường phái sinh và các sản phẩm mới.
Cùng với việc nâng cấp hệ thống chỉ số, VNX đang nghiên cứu triển khai thêm các sản phẩm và thị trường mới như thị trường carbon, thị trường khởi nghiệp sáng tạo và các sản phẩm tài chính hiện đại. Qua đó, góp phần đa dạng hóa hàng hóa và nâng cao sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Sơn - Chủ tịch Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), đơn vị đang chủ động phối hợp triển khai các giải pháp kỹ thuật phục vụ mục tiêu nâng hạng thị trường theo tiêu chí của FTSE Russell và MSCI; đồng thời chuẩn bị đưa vào vận hành mô hình bù trừ đối tác trung tâm (CCP) nhằm nâng cao mức độ an toàn, minh bạch và hiệu quả vận hành của thị trường.
Trong khi đó, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính nhận định dư địa phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất lớn, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn.
Dẫn số liệu tại hội nghị, ông Vũ Hồng Phương - Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp Nhà nước cho biết, nhu cầu vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp Nhà nước trong 5 năm tới dự kiến khoảng 2,8 triệu tỷ đồng. Đây được xem là dư địa lớn để thúc đẩy huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, qua đó giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế.
Trong khi đó, ông Bùi Anh Tuấn - Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể cho biết, hiện cả nước có khoảng 7.300 doanh nghiệp có vốn trên 30 tỷ đồng - mức điều kiện ban đầu để xem xét niêm yết chứng khoán; trong đó khoảng 3.300 công ty cổ phần có tiềm năng tham gia thị trường chứng khoán.
Theo ông Bùi Anh Tuấn, thời gian tới đơn vị sẽ phối hợp với UBCKNN triển khai các giải pháp theo Nghị quyết 08 nhằm hỗ trợ gần 3.000 doanh nghiệp đủ điều kiện công ty đại chúng tham gia thị trường chứng khoán. Các chính sách hỗ trợ dự kiến bao gồm hỗ trợ chi phí niêm yết lần đầu, tư vấn hoàn thiện hồ sơ và triển khai các chương trình hỗ trợ chuyên sâu cho doanh nghiệp chuẩn bị lên sàn.
Kết luận Hội nghị, bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng thị trường chứng khoán vẫn còn nhiều tồn tại cần tiếp tục khắc phục, đặc biệt là chất lượng quản trị doanh nghiệp niêm yết, chất lượng hàng hóa trên thị trường và hiệu quả giám sát.
Theo Bộ trưởng, mức độ đáp ứng các tiêu chí quản trị doanh nghiệp theo chuẩn ASEAN của nhiều doanh nghiệp niêm yết còn thấp, trong khi Việt Nam hiện vẫn nằm trong nhóm cuối khu vực về chất lượng quản trị doanh nghiệp.
Từ thực tế đó, Bộ trưởng yêu cầu tăng cường công khai các bộ tiêu chí quản trị theo chuẩn ASEAN và OECD; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, hướng dẫn doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa thông tin và trách nhiệm với nhà đầu tư.
Về định hướng thời gian tới, Bộ trưởng yêu cầu toàn ngành tiếp tục ưu tiên duy trì thị trường hoạt động an toàn, minh bạch và ổn định; giữ vững kết quả nâng hạng, đồng thời củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Bộ trưởng cũng yêu cầu UBCKNN tiếp tục nghiên cứu, rà soát các giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và thanh khoản của thị trường nhưng vẫn phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa và tính minh bạch.
Đối với công tác giám sát thị trường, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn yêu cầu tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị trong Bộ Tài chính, đặc biệt giữa cơ quan chứng khoán và cơ quan thuế nhằm phục vụ giám sát theo thời gian thực và cảnh báo sớm các dấu hiệu bất thường trên thị trường.
Quỹ bảo lãnh tín dụng đầu tư (CGIF), quỹ tín thác của Ngân hàng Phát triển châu Á, đã bảo lãnh đợt phát hành trái phiếu đầu tiên của Công ty Cổ phần Đầu tư SCommerce – trái phiếu có lãi suất cố định trả dần kỳ hạn 7 năm trị giá 580 tỉ đồng (tương đương 22,3 triệu USD). Trái phiếu được phát hành với lãi suất coupon 6,70%/năm. Giao dịch này đánh dấu trái phiếu được CGIF bảo lãnh trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam, đồng thời là lần phát hành trái phiếu đầu tiên của SCommerce – một cột mốc quan trọng trong chiến lược tài chính của công ty. Kỳ hạn 7 năm cung cấp cho SCommerce nguồn vốn ổn định, dài hạn, phù hợp hơn với dòng tiền dự án trong khi vẫn duy trì thanh khoản cho nhu cầu vốn lưu động.
Nguồn vốn từ trái phiếu sẽ được dùng để xây dựng một trung tâm phân loại hàng hóa tại khu vực phía Nam Việt Nam, mở rộng cơ sở hạ tầng logistics của SCommerce và hỗ trợ ngành thương mại điện tử và kinh tế số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại Việt Nam. Maybank Investment Bank ("Maybank") đóng vai trò là Đơn vị thu xếp duy nhất cho giao dịch này.
Là một tổ chức đa phương tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, CGIF tiến hành thẩm định kỹ lưỡng đối với các tổ chức phát hành tiềm năng – bao gồm đánh giá tài chính, rà soát quản trị doanh nghiệp và kiểm toán Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) nhiều vòng theo khung Tiêu chuẩn thực hiện của ADB, bao gồm điều kiện lao động, quản lý rủi ro môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên và sức khỏe – an toàn cộng đồng.
Đối với một công ty logistics hoạt động với quy mô như SCommerce, với hàng nghìn nhân viên kho bãi, hàng chục nghìn nhân viên giao hàng trên toàn quốc, và mạng lưới trải rộng hơn 1.000 bưu cục và hơn 100 kho hàng tại 34 tỉnh thành – việc đáp ứng các tiêu chuẩn này đặt ra những thách thức mà hầu hết các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam chưa từng phải đối mặt. Mô hình lao động phân tán, kết hợp giữa nhân viên chính thức, nhà thầu và lao động thời vụ, đòi hỏi các tiêu chuẩn an toàn lao động ở mọi cấp độ phải được áp dụng nhất quán. Chuỗi vận hành trải dài trên khắp các khu vực địa lý yêu cầu việc quản lý rủi ro không còn giới hạn trong phạm vi nội bộ công ty mà mở rộng đến hàng trăm đối tác và nhà thầu phụ. Lực lượng lao động hoạt động hàng ngày tại các trung tâm phân loại và trên đường phố đòi hỏi cơ chế khiếu nại minh bạch, dễ tiếp cận và được giám sát độc lập .
SCommerce đã triển khai một nỗ lực có hệ thống, kéo dài nhiều năm để giải quyết từng thách thức này, xây dựng Hệ thống Quản lý môi trường và xã hội (ESMS) toàn diện với tám khung quản trị liên kết chặt chẽ: từ cam kết chính sách và nhận diện rủi ro, đến xây dựng năng lực tổ chức, quy trình ứng phó khẩn cấp, tham vấn các bên liên quan, và cơ chế khiếu nại minh bạch dành cho cả người lao động lẫn cộng đồng xung quanh các cơ sở vận hành. Mỗi khung không chỉ được xây dựng như một bài tập tuân thủ, mà còn như một hệ thống chặt chẽ với các chỉ số đo lường được, trách nhiệm được xác định rõ ràng và được ban lãnh đạo đánh giá hàng năm. Kết quả là một bộ hồ sơ tuân thủ toàn diện, thể hiện không chỉ cam kết mà còn cả năng lực vận hành, đây là yếu tố then chốt để một tổ chức như CGIF quyết định có cấp bảo lãnh hay không.
Bà Noriko Nasu, Giám đốc Điều hành của CGIF, phát biểu: "Chúng tôi vui mừng được hỗ trợ đợt phát hành trái phiếu đầu tiên của SCommerce, đánh dấu trái phiếu được CGIF bảo lãnh đầu tiên trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam. Giao dịch này cho phép SCommerce – một tổ chức phát hành lần đầu – tiếp cận nguồn tài chính dài hạn bằng đồng nội tệ với kỳ hạn 7 năm, phù hợp với dòng tiền của dự án đầu tư trung tâm phân loại. Đợt phát hành nhấn mạnh cam kết liên tục của CGIF trong việc thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân tại Việt Nam, mở rộng đa dạng ngành nghề trên thị trường trái phiếu nội tệ, và giúp các tổ chức phát hành lần đầu tiếp cận nguồn vốn dài hạn hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng chiến lược của họ."
Nguồn vốn từ trái phiếu sẽ tài trợ cho việc xây dựng một trung tâm phân loại hiện đại tại Tân Kim, tỉnh Tây Ninh – một trung tâm trọng yếu nằm ở cửa ngõ khu vực phía nam Việt Nam, với lễ khởi công dự kiến vào tháng 8 năm 2026. Trung tâm phân loại này sẽ đóng vai trò là điểm neo phía Nam trong mạng lưới logistics toàn quốc của SCommerce, mở rộng đáng kể năng lực vận hành để đáp ứng nhu cầu của nền thương mại điện tử và kinh tế số đang tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam.
Khoản đầu tư này tiếp nối thành công của GHN Express trong việc đưa vào vận hành một trung tâm phân loại tự động quy mô lớn tại tỉnh Hưng Yên vào đầu năm 2026, thiết lập tiêu chuẩn mới về công nghệ logistics tại miền Bắc Việt Nam. Trung tâm phân loại Tân Kim mang cùng trình độ tự động hóa tiên tiến và xuất sắc vận hành vào khu vực phía nam hoàn thiện một hành lang logistics năng lực cao trải dài khắp đất nước, định vị SCommerce là lớp hạ tầng không thể thiếu của nền kinh tế số Việt Nam.
Ông Lương Duy Hoài, Tổng giám đốc SCommerce, phát biểu: "Đợt phát hành trái phiếu này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong hành trình tăng trưởng của SCommerce. Với sự bảo lãnh của CGIF, chúng tôi có thể tiếp cận nguồn tài chính dài hạn bằng đồng nội tệ, không chỉ tối ưu hóa cấu trúc vốn mà còn đặt nền tảng vững chắc cho đầu tư sâu hơn vào cơ sở hạ tầng logistics. Trung tâm phân loại Tân Kim tại khu vực phía nam là sự phản ánh cụ thể tầm nhìn của SCommerce: xây dựng một hệ sinh thái logistics công nghệ cao có khả năng theo kịp tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử của Việt Nam trong thập kỷ tới".
Bên cạnh giao dịch này, SCommerce công bố việc tái định vị thương hiệu chiến lược toàn diện cho mảng logistics B2B thành Giao Hàng Nặng, phục vụ khách hàng doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp, với toàn bộ dịch vụ và đầu tư công nghệ tập trung vào vận chuyển hàng nặng B2B.
Về mặt vận hành, Giao Hàng Nặng đã đạt tỷ lệ hàng hư hỏng dưới 1% và tỷ lệ giao hàng đúng hạn trên 98%, được hậu thuẫn bởi hệ thống giám sát kho hàng bằng AI trên toàn bộ mạng lưới cơ sở. Định tuyến đội xe và điều phối được quản lý thông qua các công cụ tối ưu hóa độc quyền được xây dựng riêng cho điều kiện đường bộ và môi trường pháp lý của Việt Nam – cung cấp độ chính xác lập kế hoạch mà các giải pháp thông thường không thể đáp ứng ở quy mô lớn. Tài xế được trang bị hệ thống dẫn đường chặng cuối do nội bộ xây dựng, được thiết kế sát với thực tế đường phố và hạ tầng đô thị tại Việt Nam, trong khi nền tảng thông minh vận hành được hỗ trợ bởi AI cung cấp cho mọi thành viên trong nhóm quyền truy cập tức thời vào dữ liệu thời gian thực trên toàn chuỗi logistics.
Ngày 13.5, tại hội nghị triển khai thực hiện chỉ thị số 45 của UBND TP.HCM về tháo gỡ vướng mắc dự án và quản lý đầu tư, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội bất động sản TP.HCM (HoREA) cho hay, thành phố đang nỗ lực tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài, trong đó có các dự án của doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI.
Vì thế, đây là cơ hội và thời cơ thuận lợi cuối cùng để các doanh nghiệp đăng ký dự án của mình vào chương trình tháo gỡ. Nếu chậm hoặc báo cáo sót sẽ bỏ lỡ cơ hội của chính mình.
Theo người đứng đầu HoREA, TP.HCM có 838 dự án tồn dọng, kéo dài, gồm dự án đầu tư công, đầu tư tư nhân, khu đất là tài sản công. Trong đó có 277 dự án của tư nhân và FDI. Để tháo gỡ cho các dự án này, đích thân Chủ tịch TP.HCM là tổ trưởng và họp hàng tuần.
Chính vì vậy, 417 dự án đã hoàn thành tháo gỡ tất cả các vướng mắc; còn lại 421 dự án, công trình, khu đất cơ bản tháo gỡ hoặc đang thực hiện tháo gỡ theo chỉ đạo.
Ông Lê Hoàng Châu cũng lưu ý, trường hợp doanh nghiệp chưa có tên dự án trong danh mục 838 dự án thì đề nghị các doanh nghiệp báo cáo đề xuất bổ sung để được các cấp có thẩm quyền xem xét xử lý trong đợt này.
Ngoài ra, doanh nghiệp có các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài tại các địa phương khác cũng có thể liên hệ báo cáo cho Sở Tài chính địa phương để được tổng hợp, xem xét xử lý.
Trong khi đó, Sở Tài chính cũng đề nghị nội dung báo cáo nêu rõ tên dự án, chủ đầu tư, tổng mức đầu tư, diện tích sử dụng đất, tiến độ thực tế, khó khăn vướng mắc, cơ quan đang thụ lý và kiến nghị cụ thể.