Triển lãm Sắc màu văn hóa diễn ra ngày 25/4 đến 19/6 do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phối hợp Bảo tàng Kính Hoa thực hiện. Trong 130 cổ vật ở triển lãm, có bốn nhóm hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia đầu tháng 2 gồm áo giáp, muôi, chuông và chậu đồng.
Bộ áo giáp đồng (ảnh) thuộc nền văn hóa Đông Sơn, niên đại khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên – thế kỷ 1 sau Công nguyên. Bảo vật gồm hai mảnh phiến chắn vùng cổ, gáy, bốn mảnh phiến chắn vai, 10 mảnh phiến chắn che thân. Theo hồ sơ của Cục Di sản Văn hóa, 16 hiện vật thống nhất về hình dáng, kích thước, hoa văn trang trí, vị trí lỗ buộc dây, cho thấy thuộc về cùng một bộ giáp phục.
Trên bề mặt các phiến giáp có hoa văn trung tâm là mặt người (có thể là thần hộ mệnh) và hình cóc, được thể hiện bằng kỹ thuật đúc chìm nổi hài hòa. Cóc là biểu tượng gắn liền tín ngưỡng cầu mưa, sinh sôi, mặt người gợi hình ảnh vị thần bảo hộ hoặc thủ lĩnh. Sự kết hợp này giúp bộ giáp đồng không chỉ là vũ khí phòng thân mà còn mang ý nghĩa biểu tượng quyền lực chính trị – tôn giáo.
Triển lãm Sắc màu văn hóa diễn ra ngày 25/4 đến 19/6 do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phối hợp Bảo tàng Kính Hoa thực hiện. Trong 130 cổ vật ở triển lãm, có bốn nhóm hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia đầu tháng 2 gồm áo giáp, muôi, chuông và chậu đồng.
Bộ áo giáp đồng (ảnh) thuộc nền văn hóa Đông Sơn, niên đại khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên – thế kỷ 1 sau Công nguyên. Bảo vật gồm hai mảnh phiến chắn vùng cổ, gáy, bốn mảnh phiến chắn vai, 10 mảnh phiến chắn che thân. Theo hồ sơ của Cục Di sản Văn hóa, 16 hiện vật thống nhất về hình dáng, kích thước, hoa văn trang trí, vị trí lỗ buộc dây, cho thấy thuộc về cùng một bộ giáp phục.
Trên bề mặt các phiến giáp có hoa văn trung tâm là mặt người (có thể là thần hộ mệnh) và hình cóc, được thể hiện bằng kỹ thuật đúc chìm nổi hài hòa. Cóc là biểu tượng gắn liền tín ngưỡng cầu mưa, sinh sôi, mặt người gợi hình ảnh vị thần bảo hộ hoặc thủ lĩnh. Sự kết hợp này giúp bộ giáp đồng không chỉ là vũ khí phòng thân mà còn mang ý nghĩa biểu tượng quyền lực chính trị – tôn giáo.
Muôi đồng dày 33 cm, đường kính miệng 9 cm, có cán dài hình chữ L, trang trí ba hoa văn hình học. Phần cuối cán gắn hình người đứng, đầu quấn khăn, đóng khố, hai tay bám vào khung, phía trên có hình hai cặp sừng thú. Đây là một trong bốn chiếc muôi đồng Đông Sơn có niên đại thế kỷ 2 sau Công nguyên – thế kỷ 1 trước Công nguyên.
Muôi đồng dày 33 cm, đường kính miệng 9 cm, có cán dài hình chữ L, trang trí ba hoa văn hình học. Phần cuối cán gắn hình người đứng, đầu quấn khăn, đóng khố, hai tay bám vào khung, phía trên có hình hai cặp sừng thú. Đây là một trong bốn chiếc muôi đồng Đông Sơn có niên đại thế kỷ 2 sau Công nguyên – thế kỷ 1 trước Công nguyên.
Chiếc muôi khác dài 31,5 cm, đường kính miệng 7,4 cm, cả bầu múc và cán đều có hoa văn. Gần cuối cán gắn tượng người ngồi co chân, hai cánh tay đặt trên đầu gối, lòng bàn tay ngửa.
Hồ sơ của Cục Di sản Văn hóa nhận định bảo vật phản ánh rõ nét trình độ đúc đồng bằng phương pháp sáp chảy của cư dân Đông Sơn. Không chỉ có giá trị về mặt kỹ nghệ, nghệ thuật, những chiếc muôi đồng Đông Sơn là nguồn tư liệu để nghiên cứu về đời sống vật chất, tinh thần của người Việt cổ.
Chiếc muôi khác dài 31,5 cm, đường kính miệng 7,4 cm, cả bầu múc và cán đều có hoa văn. Gần cuối cán gắn tượng người ngồi co chân, hai cánh tay đặt trên đầu gối, lòng bàn tay ngửa.
Hồ sơ của Cục Di sản Văn hóa nhận định bảo vật phản ánh rõ nét trình độ đúc đồng bằng phương pháp sáp chảy của cư dân Đông Sơn. Không chỉ có giá trị về mặt kỹ nghệ, nghệ thuật, những chiếc muôi đồng Đông Sơn là nguồn tư liệu để nghiên cứu về đời sống vật chất, tinh thần của người Việt cổ.
Chuông đồng cao 35 cm, dày 0,5 cm, thuộc bộ chuông đồng văn hóa Đông Sơn có từ thế kỷ 2 trước Công nguyên – thế kỷ 1 sau Công nguyên. Chuông hình nửa bầu dục, quai tạo dáng hình người cưỡi thú (trâu).
Chuông đồng cao 35 cm, dày 0,5 cm, thuộc bộ chuông đồng văn hóa Đông Sơn có từ thế kỷ 2 trước Công nguyên – thế kỷ 1 sau Công nguyên. Chuông hình nửa bầu dục, quai tạo dáng hình người cưỡi thú (trâu).
Chuông đồng cao 32,8 cm, dày 0,4 cm, hình nửa bầu dục, quai tạo dáng hình thú đứng trên thuyền. Nửa thân trên của hiện vật được trang trí đẹp mắt với vành răng cưa xen kẽ chấm nổi, vành bông lúa bao quanh hoa văn chữ X. Bên dưới là hoa văn bông lúa nằm ngang, ở giữa hai băng là hai cặp thú đuôi dài (cáo) đối đầu nhau.
Chuông đồng cao 32,8 cm, dày 0,4 cm, hình nửa bầu dục, quai tạo dáng hình thú đứng trên thuyền. Nửa thân trên của hiện vật được trang trí đẹp mắt với vành răng cưa xen kẽ chấm nổi, vành bông lúa bao quanh hoa văn chữ X. Bên dưới là hoa văn bông lúa nằm ngang, ở giữa hai băng là hai cặp thú đuôi dài (cáo) đối đầu nhau.
Chuông đồng cao 27,9 cm, dày 0,3 cm, hình nửa bầu dục, đầu chuông vuốt nhọn tạo thành hai chiếc sừng bẻ ra hai phía, ở dưới trổ thủng hai ô hình thang làm quai. Phần thân có bốn hình hươu đứng trên bốn ô chữ nhật, một mặt màu xám đen, mặt còn lại xanh rỉ đồng. Trong lòng hiện vật còn có một chuông khác đồng dạng, dính liền vào nhau.
Theo Cục Di sản Văn hóa, đây là những hiện vật thể hiện đỉnh cao của kỹ thuật đúc đồng và nghệ thuật trang trí của văn hóa Đông Sơn, đồng thời thể hiện bức tranh âm nhạc và nghi lễ của người Việt cổ. Những hoa văn hình hươu, thú đuôi dài, bông lúa, răng cưa, tia mặt trời phản ánh thế giới quan và đời sống tín ngưỡng của cư dân Đông Sơn.
Chuông đồng cao 27,9 cm, dày 0,3 cm, hình nửa bầu dục, đầu chuông vuốt nhọn tạo thành hai chiếc sừng bẻ ra hai phía, ở dưới trổ thủng hai ô hình thang làm quai. Phần thân có bốn hình hươu đứng trên bốn ô chữ nhật, một mặt màu xám đen, mặt còn lại xanh rỉ đồng. Trong lòng hiện vật còn có một chuông khác đồng dạng, dính liền vào nhau.
Theo Cục Di sản Văn hóa, đây là những hiện vật thể hiện đỉnh cao của kỹ thuật đúc đồng và nghệ thuật trang trí của văn hóa Đông Sơn, đồng thời thể hiện bức tranh âm nhạc và nghi lễ của người Việt cổ. Những hoa văn hình hươu, thú đuôi dài, bông lúa, răng cưa, tia mặt trời phản ánh thế giới quan và đời sống tín ngưỡng của cư dân Đông Sơn.
Chậu trống đồng cao 20 cm, đường kính miệng 41 cm, đường kính đáy 28,5 cm, niên đại thế kỷ 1 trước Công nguyên – thế kỷ 1 sau Công nguyên.
Hiện vật có miệng loe rộng, thân thuôn dần xuống đáy, trong lòng không trang trí. Phía ngoài, ở chính giữa đáy chậu là hình mặt trời hay ngôi sao tám cánh, xen giữa các cánh là hoa văn lông công cách điệu. Thân chậu gồm một băng hoa văn chủ đạo, chia thành bốn ô hình chữ nhật nằm ngang, hai ô có hình người dắt bò đứng trên thuyền, hai ô chỉ có hình một con bò đứng độc lập.
Bảo vật kết hợp giữa trống đồng – loại nhạc khí tiêu biểu với chậu đồng – đồ đựng sinh hoạt của cư dân Đông Sơn. Hoa văn trang trí trên hiện vật góp phần cung cấp cái nhìn sinh động về đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Việt cổ.
Chậu trống đồng cao 20 cm, đường kính miệng 41 cm, đường kính đáy 28,5 cm, niên đại thế kỷ 1 trước Công nguyên – thế kỷ 1 sau Công nguyên.
Hiện vật có miệng loe rộng, thân thuôn dần xuống đáy, trong lòng không trang trí. Phía ngoài, ở chính giữa đáy chậu là hình mặt trời hay ngôi sao tám cánh, xen giữa các cánh là hoa văn lông công cách điệu. Thân chậu gồm một băng hoa văn chủ đạo, chia thành bốn ô hình chữ nhật nằm ngang, hai ô có hình người dắt bò đứng trên thuyền, hai ô chỉ có hình một con bò đứng độc lập.
Bảo vật kết hợp giữa trống đồng – loại nhạc khí tiêu biểu với chậu đồng – đồ đựng sinh hoạt của cư dân Đông Sơn. Hoa văn trang trí trên hiện vật góp phần cung cấp cái nhìn sinh động về đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Việt cổ.
Không gian trưng bày được sắp xếp theo ba khu vực: văn minh Đông Sơn, văn minh Đại Việt, văn minh Chăm Pa. Tại sự kiện, người xem được tìm về quá khứ với nhiều hiện vật từ thời Lý, Lê sơ, Lê Trung Hưng.
Bảo tàng Kính Hoa hiện ở Hà Nội, được cấp phép hoạt động hồi tháng 11/2024, nhà sưu tập Nguyễn Văn Kính làm giám đốc. Đơn vị có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, giáo dục, giới thiệu các tài liệu, hiện vật, hình ảnh liên quan văn hóa Đông Sơn và của dân tộc nói chung.
Không gian trưng bày được sắp xếp theo ba khu vực: văn minh Đông Sơn, văn minh Đại Việt, văn minh Chăm Pa. Tại sự kiện, người xem được tìm về quá khứ với nhiều hiện vật từ thời Lý, Lê sơ, Lê Trung Hưng.
Bảo tàng Kính Hoa hiện ở Hà Nội, được cấp phép hoạt động hồi tháng 11/2024, nhà sưu tập Nguyễn Văn Kính làm giám đốc. Đơn vị có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, giáo dục, giới thiệu các tài liệu, hiện vật, hình ảnh liên quan văn hóa Đông Sơn và của dân tộc nói chung.
Trên trang cá nhân hôm 25/5, Đường Kế Toàn, trợ lý quay phim Tây du ký phần hai, tiết lộ loạt hình hậu trường mà ông lưu giữ. Trong ảnh, đạo diễn Dương Khiết chỉ dẫn bốn diễn viên đóng thầy trò Đường Tăng.
Tác phẩm bấm máy năm 1998, bổ sung nội dung cho bản quay năm 1982, vẫn do Dương Khiết đạo diễn. Dàn diễn viên chủ chốt gồm Lục Tiểu Linh Đồng (vai Tôn Ngộ Không), Trì Trọng Thụy (vai Đường Tăng), Thôi Cảnh Phú (Trư Bát Giới) và Lưu Đại Cương (Sa Tăng).
Trên trang cá nhân hôm 25/5, Đường Kế Toàn, trợ lý quay phim Tây du ký phần hai, tiết lộ loạt hình hậu trường mà ông lưu giữ. Trong ảnh, đạo diễn Dương Khiết chỉ dẫn bốn diễn viên đóng thầy trò Đường Tăng.
Tác phẩm bấm máy năm 1998, bổ sung nội dung cho bản quay năm 1982, vẫn do Dương Khiết đạo diễn. Dàn diễn viên chủ chốt gồm Lục Tiểu Linh Đồng (vai Tôn Ngộ Không), Trì Trọng Thụy (vai Đường Tăng), Thôi Cảnh Phú (Trư Bát Giới) và Lưu Đại Cương (Sa Tăng).
Đoàn phim ghi hình ngoại cảnh ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Theo Đường Kế Toàn, phần hai quay trong gần một năm. Để kịp tiến độ chiếu đúng dịp Tết âm lịch, êkíp luôn trong trạng thái chạy đua với thời gian. Ông cho rằng đây là một trong những lý do khiến phần hai còn nhiều thiếu sót và điểm gây tiếc nuối. Trong khi phần một quay trong 6 năm, đoàn phim có đủ thời gian để sửa và cải thiện.
Đoàn phim ghi hình ngoại cảnh ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Theo Đường Kế Toàn, phần hai quay trong gần một năm. Để kịp tiến độ chiếu đúng dịp Tết âm lịch, êkíp luôn trong trạng thái chạy đua với thời gian. Ông cho rằng đây là một trong những lý do khiến phần hai còn nhiều thiếu sót và điểm gây tiếc nuối. Trong khi phần một quay trong 6 năm, đoàn phim có đủ thời gian để sửa và cải thiện.
Nhân viên trường quay nâng Trì Trọng Thụy (Đường Tăng) trên vải xanh, sau đó dùng kỹ xảo tạo hiệu ứng nhân vật rơi xuống.
Nhân viên trường quay nâng Trì Trọng Thụy (Đường Tăng) trên vải xanh, sau đó dùng kỹ xảo tạo hiệu ứng nhân vật rơi xuống.
Cảnh Trư Bát Giới và Sa Tăng đấu yêu quái. Tác phẩm xoay quanh hành trình thầy trò Đường Tăng vượt qua kiếp nạn, kiên định con đường thỉnh kinh Phật.
Cảnh Trư Bát Giới và Sa Tăng đấu yêu quái. Tác phẩm xoay quanh hành trình thầy trò Đường Tăng vượt qua kiếp nạn, kiên định con đường thỉnh kinh Phật.
Nhân viên trong phòng hóa trang.
Nhân viên trong phòng hóa trang.
Diễn viên được gắn lông tóc, tạo mũi giả.
Diễn viên được gắn lông tóc, tạo mũi giả.
Nhiều khán giả nhận xét bức hình hậu trường thú vị vì góc chụp đầu ngựa che đầu Trư Bát Giới.
Đạo diễn Dương Khiết (giữa) chỉ đạo hai phần phim, bà qua đời năm 2017. Theo Mtime, Tây du ký giúp Dương Khiết thành huyền thoại làng truyền hình Trung Quốc. Đây là tác phẩm đầu tiên trong Tứ đại danh tác được đưa lên màn ảnh nhỏ, là tác phẩm được phát lại nhiều lần nhất trong lịch sử truyền hình Trung Quốc.
Nhiều khán giả nhận xét bức hình hậu trường thú vị vì góc chụp đầu ngựa che đầu Trư Bát Giới.
Đạo diễn Dương Khiết (giữa) chỉ đạo hai phần phim, bà qua đời năm 2017. Theo Mtime, Tây du ký giúp Dương Khiết thành huyền thoại làng truyền hình Trung Quốc. Đây là tác phẩm đầu tiên trong Tứ đại danh tác được đưa lên màn ảnh nhỏ, là tác phẩm được phát lại nhiều lần nhất trong lịch sử truyền hình Trung Quốc.
Đạo diễn từng nói quay Tây du ký là trải nghiệm nhiều đau khổ. Công việc quá nhiều khiến bà không có thời gian ngẫm nghĩ, nhìn nhận lại các sự việc. Bà cho rằng có thể mình đắc tội với người khác vì phê bình, đánh giá không chính xác. Đạo diễn còn nuối tiếc vì không thể quay Tây du ký đẹp hơn.
Theo Sina, thời gian cho thấy dù kỹ xảo hạn chế, Tây du ký vẫn có sức sống mãnh liệt, là giấc mơ ngây thơ, bay bổng của hàng triệu tâm hồn.
Đạo diễn từng nói quay Tây du ký là trải nghiệm nhiều đau khổ. Công việc quá nhiều khiến bà không có thời gian ngẫm nghĩ, nhìn nhận lại các sự việc. Bà cho rằng có thể mình đắc tội với người khác vì phê bình, đánh giá không chính xác. Đạo diễn còn nuối tiếc vì không thể quay Tây du ký đẹp hơn.
Theo Sina, thời gian cho thấy dù kỹ xảo hạn chế, Tây du ký vẫn có sức sống mãnh liệt, là giấc mơ ngây thơ, bay bổng của hàng triệu tâm hồn.
Hơn 40 năm theo đuổi nghệ thuật, tên tuổi của Lục Tiểu Linh Đồng gắn liền với vai Tôn Ngộ Không trong Tây du ký (bản 1986). Theo China News, phim không chỉ gây tiếng vang ở Trung Quốc mà còn phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, đến nay đã được chiếu hơn 4.000 lần ở trong lẫn ngoài nước, trở thành một tác phẩm kinh điển khó vượt qua.
Hình tượng Tôn Ngộ Không do Lục Tiểu Linh Đồng thể hiện cũng trở thành biểu tượng màn ảnh trong lòng hàng triệu triệu khán giả. Sau tác phẩm kinh điển này, ông từng đảm nhận nhiều vai diễn khác nhau song độ nổi tiếng lẫn sức ảnh hưởng không tài nào sánh được với hình tượng "Tề Thiên Đại Thánh". Trong cuộc trò chuyện được China News đăng tải mới đây, diễn viên 67 tuổi không phủ nhận điều này, ngược lại ông nói rằng mình có lẽ là diễn viên hạnh phúc nhất Trung Quốc, thậm chí là trên toàn thế giới.
Lục Tiểu Linh Đồng tự hào: "Nhiều khi đặt chân đến một nơi nào đó, tôi hỏi khán giả rằng có ai chưa từng xem phiên bản Tây du ký của Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) sản xuất mà tôi tham gia diễn xuất không? Gần như không có ai giơ tay. Một diễn viên có thể đạt đến mức độ như vậy thật là hạnh phúc".
Nghệ sĩ U.70 cũng cho biết phiên bản Tôn Ngộ Không này được công chúng công nhận không phải vì cá nhân ông giỏi đến mức nào mà nhờ nền tảng hầu hí và nghệ thuật truyền thống Trung Quốc. "Chúng tôi thường nói rằng, với tư cách là một diễn viên, khi đóng cùng một nhân vật, bạn phải làm được những điều người khác không làm được, làm tốt hơn người khác, làm khéo léo hơn người khác, làm xuất sắc hơn người khác và làm điều gì đó hoàn toàn khác biệt so với người khác", ông chia sẻ. Diễn viên cho rằng điều khó nhất chính là đạt đến "cảnh giới hóa thân".
Lục Tiểu Linh Đồng cũng cho rằng Tây du ký bản 1986 được làm tốt nhờ nỗ lực chung của toàn bộ ê-kíp hàng nghìn người. Thời điểm đó, thù lao của đạo diễn Dương Khiết lẫn dàn diễn viên, nhân viên sản xuất đều rất thấp. "Tôi quay 25 tập phim trong 6 năm, cát sê chưa đến 2.000 tệ nhưng lại vô cùng mãn nguyện", nam diễn viên nhắc lại.
Về việc Tây du ký (1986) duy trì sức hút suốt 40 năm qua, Lục Tiểu Linh Đồng cho rằng nguyên nhân nằm ở việc nắm bắt được cốt lõi của văn hóa trên thống. "Từ cốt truyện, nhân vật đến việc chuyển thể kịch bản, đạo diễn Dương Khiết tuân theo phương châm: trung thành với nguyên tác, thận trọng khi đổi mới". Quan niệm chuyển thể này thể hiện rõ trong nội dung phim. Theo lời nam diễn viên chính, phiên bản Tây du ký này không hoàn toàn sao chép nguyên tác. Ông cho biết phim đã lược bỏ những chi tiết không phù hợp với trẻ em, đồng thời diễn giải tinh tế hơn những đoạn tương đối đơn giản trong tiểu thuyết gốc.
Một ví dụ điển hình là tập ở Nữ nhi quốc, Lục Tiểu Linh Đồng cho biết đạo diễn Dương Khiết đã tự viết lời bài thoại và thêm nhiều phân đoạn thiên về diễn xuất nội tâm. Dù có đổi mới, nhưng chính tập này lại trở thành một kinh điển được khán giả chấp nhận rộng rãi. Nói cách khác, chuyển thể phim ảnh cần có chừng mực - logic nhưng vẫn tạo được bất ngờ. Chính vì vậy, qua sự chọn lọc của nhiều thế hệ khán giả, sau nhiều năm nhìn lại, Tây du ký bản (1986) vẫn là một tác phẩm kinh điển, không hề lỗi thời.
Lục Tiểu Linh Đồng (tên thật: Chương Kim Lai) sinh năm 1959 tại Thượng Hải (Trung Quốc) trong gia đình có 4 đời theo truyền thống biểu diễn hầu hí (kịch khỉ), gắn với vai Tôn Ngộ Không. Sau Tây du ký bản CCTV, nghệ sĩ còn đóng nhiều bộ phim khác nhau: Lần theo dấu vết 309, 1939, Nghĩa hải phong vân, Liên thành quyết, Bảy nàng tiên... nhưng không vượt qua cái bóng của tác phẩm năm xưa.
Ở tuổi U.70, Lục Tiểu Linh Đồng tích cực tham gia các hoạt động nghệ thuật, giải trí, chú trọng các dự án tôn vinh văn hóa, nghệ thuật dân gian. Đặc biệt, đặt nhiều tâm huyết trong việc tôn vinh "văn hóa Tây Du Ký", "tinh thần Tây Du Ký", quảng bá nghệ thuật hầu hí. Ông kết hôn với nghệ sĩ Vu Hồng năm 1988, chung sống hạnh phúc đến nay. Hai người có một con gái là Chương Đồng Đồng (sinh năm 1990).
Theo The Value, mức giá được ghi nhận trong phiên của Art Basel Hong Kong, diễn ra cuối tháng 3. Trước đây, kỷ lục thuộc về bức họa Bouquet de Fleurs của Marc Chagall với khoảng 11 tỷ won (hơn 192 tỷ đồng).
Tác phẩm Nothing about it mang dấu ấn đặc trưng của Yoshitomo Nara, là bức tranh khổ lớn hiếm hoi trong sự nghiệp của ông. Ông khắc họa cô bé với phần đầu quá khổ, đôi mắt to, không có biểu cảm. Nếu những sáng tác của ông từ những năm 1990 thường mô tả nhân vật với vẻ ngoài dễ thương nhưng gai góc, nổi loạn thì Nothing about it cho thấy khía cạnh mềm mại, trưởng thành hơn. Tokyo Weekender nhận định bức vẽ thể hiện ''cảm giác cô đơn trong thế giới hiện đại''.
Yoshitomo Nara, 66 tuổi, sinh tại tỉnh Aomori, Nhật Bản. Từ nhỏ, danh họa vốn sống trầm mặc, thích nhìn bầu trời, nói chuyện với chó mèo hoặc tâm sự với cây. Ông thường lảng tránh người khác, hay viết và vẽ linh tinh lên sách vở. Nara tốt nghiệp Đại học Fine Arts and Music Aichi ở Nhật, sau đó học ngành hội họa tại Kunstakademie Düsseldorf, Đức. 12 năm ở châu Âu, ấn tượng sâu đậm nhất của họa sĩ là nỗi cô độc.
Bước ngoặt lớn đối với Nara là trận động đất và sóng thần năm 2011 ở Nhật Bản. Thảm kịch xảy ra gần quê hương danh họa, khiến ông bị ảnh hưởng tâm lý, phải dừng vẽ vài tháng. Khi quay lại xưởng, phong cách sáng tác của ông đã thay đổi. Những biểu cảm sắc sảo trước đây của các bé gái chuyển sang trầm tư, điềm tĩnh hơn.
Nhân vật trong tranh Yoshitomo Nara như phản ánh các giai đoạn cuộc đời và ký ức của ông. Trả lời tạp chí Design Anthology, ông nói: "Tôi khát khao trở nên tốt đẹp trong mắt người khác, nhưng cũng luôn rụt rè, không dám được sống là chính mình. Vì thế, tôi biểu lộ điều đó trong tranh''.
Loạt tác phẩm cô bé đầu to, gương mặt bầu bĩnh, lúc phụng phịu, khi lạnh lùng của danh họa luôn được các nhà sưu tầm săn đón, có nhiều tranh đạt triệu USD. Trong đó, bức Knife Behind Back (2000) được Sotheby's Hong Kong gõ búa 24,9 triệu USD (598 tỷ đồng) hồi tháng 10/2019, giúp ông trở thành nghệ sĩ Nhật Bản đắt giá nhất.