Trung tâm xếp hạng đại học thế giới (CWUR) ngày 1/6 công bố kết quả xếp hạng năm 2026.
Các trường từ Mỹ áp đảo top 10 với 8 đại diện, trong đó Đại học Harvard vững vàng ở vị trí số 1, như năm ngoái. Hai vị trí còn lại trong nhóm này đều của Anh, gồm Đại học Cambridge và Oxford.
Châu Á chỉ có ba đại diện từ Nhật Bản và Hàn Quốc vào top 20, Đại học Tokyo có thứ hạng cao nhất – 13.
Trong top 30 trường hàng đầu, học phí với sinh viên quốc tế trải rộng từ 2.170 đến 91.600 USD (57 triệu – 2,4 tỷ đồng) mỗi năm. Thấp nhất là mức thu ở Đại học Tokyo, cao nhất là ngành Nha khoa ở Đại học McGill.
Dù không có đại diện nào trong top 30 năm nay, Trung Quốc có 360 trường được xếp hạng, nhiều nhất thế giới. 98% đại học của nước này tăng hạng, dẫn đầu là Đại học Thanh Hoa ở vị trí thứ 36. Mỹ có nhiều trường thứ nhì – 313 trường.
Trong khi đó, hai “ông lớn” về thu hút du học sinh là Canada và Australia sụt giảm. Theo CTV News, trong số 38 trường đại học được xếp hạng của Canada, chỉ Đại học Toronto không tụt hạng. Hơn một nửa số đại học của Australia giảm thứ hạng, gồm cả những trường danh tiếng như Đại học Sydney và Đại học Quốc gia Australia, theo AFR.
Năm nay, 6 cơ sở giáo dục của Việt Nam tiếp tục lọt top 10% thế giới, 4 trường thăng hạng.
Tin Gốc: Vnexpress

Trần Lê Hạnh Dung hiện học lớp 12G hệ chuyên tiếng Đức, trường THPT chuyên Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Học bổng mà em nhận được cách đây vài ngày do Bộ Ngoại giao Đức tài trợ, trao cho 116 học sinh, sinh viên trên toàn thế giới.
Theo các giáo viên chuyên Đức, học bổng nói trên chủ yếu dành cho nhóm sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ), số dành cho bậc cử nhân rất hiếm. Dung sẽ được đài thọ tất cả chi phí học tập và sinh hoạt trong thời gian học, hỗ trợ phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn, vé máy bay khứ hồi...
Để chạm tay vào suất học bổng này, nữ sinh đã trải qua một hành trình chuẩn bị chỉn chu, với 20 lần sửa thư động lực.
Dù học chuyên về ngôn ngữ, Hạnh Dung cho hay chọn theo đuổi ngành Kinh tế kỹ thuật tại Đức, vì thích học Toán và Vật lý. Em cũng muốn tìm hiểu cách kiến thức kỹ thuật được ứng dụng thực tế và gắn kết với các yếu tố kinh tế.
"Em nghĩ một kỹ sư không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải hiểu về kinh tế để tạo ra những sản phẩm có giá trị cho xã hội", Dung chia sẻ.
Trong thư động lực gửi hội đồng tuyển chọn, em mở đầu bằng ký ức về sở thích vẽ lại các loại máy giặt, máy rửa bát hay những dây chuyền hỗ trợ bố mẹ làm việc nhà. Nữ sinh nhìn nhận những nét vẽ ngây ngô ngày ấy là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự tò mò của em với thế giới kỹ thuật.
Để có được bản luận ưng ý nhất, Dung đã dành gần hai tháng nghiên cứu tiêu chí của DAAD. Em ghi chép ý tưởng vào sổ tay, viết đi viết lại hơn 20 lần để giải thích rõ vì sao mình chọn nước Đức và sẽ tận dụng cơ hội học tập này như thế nào. Dung tỉ mỉ đến mức kiểm tra kỹ lưỡng từ phông chữ đến cách đặt tên file trước khi nhấn nút gửi.
Ngoài ra, hồ sơ của nữ sinh còn có điểm trung bình ba năm đạt 9,7-9,8, chứng chỉ tiếng Đức C1 (DSD-II), IELTS 8.5. Em cũng từng giành giải nhất Olympic tiếng Đức của Đại học Quốc gia Hà Nội, giải nhì cuộc thi Grammatikzauber về giảng dạy ngữ pháp tiếng Đức.
Dung còn là Phó chủ tịch Câu lạc bộ tiếng Đức ở trường, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa như Hội chợ khoa học Julience, chương trình High School Help Kit - HSHK giúp các em học sinh cấp 2 thi vào lớp 10...
Với riêng tiếng Đức, Hạnh Dung cho hay lợi thế là được tiếp xúc từ sớm, hồi 2 tuổi, khi bố mẹ làm nghiên cứu sinh ở đất nước này. Cơ duyên này giúp nữ sinh hình thành khả năng phát âm khá tự nhiên. Sau khi trở về Việt Nam, Dung duy trì bằng cách tự học qua các tài liệu, phim tiếng Đức, cố gắng gắn với cuộc sống hàng ngày. Em cũng hay viết ra những suy nghĩ của mình, có động lực tra cứu những từ chưa biết.
"Em yếu nhất ở kỹ năng viết, vì đòi hỏi tư duy phản biện và khả năng quản lý thời gian rất khắt khe", Dung nói. Để cải thiện, nữ sinh đọc nhiều bài mẫu và đề thi để học cách diễn đạt, tích lũy vốn từ và cấu trúc câu. Với từ vựng, em luôn đặt từ trong ngữ cảnh cụ thể hoặc tự tưởng tượng ra một câu chuyện để ghi nhớ lâu hơn.
"Học ngôn ngữ không chỉ là học cách nói, mà còn là học về văn hóa và cách nhìn thế giới", em chia sẻ. "Chỉ cần đủ kiên trì, từng bước nhỏ cũng có thể đưa mình đến những giấc mơ rất lớn".
Theo cô Nguyễn Ngọc Lan, giáo viên chủ nhiệm lớp, Hạnh Dung là lớp phó học tập gương mẫu, có tính kỷ luật và khả năng tự lập cao.
"Dù phải cân bằng giữa việc học trên lớp, ôn thi các chứng chỉ quốc tế và chuẩn bị hồ sơ du học, Hạnh Dung vẫn luôn giữ được sự tập trung và tinh thần trách nhiệm", cô Lan nói.
Tháng 8 tới, Dung sẽ sang Đức học một năm dự bị trước khi chính thức bước vào chương trình đại học.
Tin Gốc: Vnexpress

Ông Nguyễn Văn Phong cho biết, toàn bộ bài thi của khoảng 151.000 thí sinh dự thi lớp 10 sẽ được vận chuyển về khu vực 1(TP.HCM cũ) để thực hiện các công đoạn chấm thi. TP huy động khoảng 3.000 cán bộ, giáo viên, nhân viên, tham gia quy trình chấm thi lớp 10.
Ngay sáng mai, 3.6, các cán bộ, giáo viên, nhân viên, được phân công sẽ thực hiện công đoạn làm phách đến hết ngày 4.6.
Việc chấm thi lớp 10 sẽ chính thức bắt đầu từ ngày 5.6 và hoàn tất vào ngày 9.6.
Cũng theo ông Phong, do 2 kỳ thi lớp 10 và thi tốt nghiệp THPT liền kề nhau nên TP huy động cán bộ, giáo viên tham gia 2 kỳ thi liên tục. Sau ngày 9.6, các cán bộ phải tiếp tục tham gia công tác phục vụ kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Như vậy sau khi kỳ thi tốt nghiệp THPT kết thúc thì Sở GD-ĐT sẽ thực hiện công tác ráp phách, lên điểm so dò điểm thi lớp 10. Công đoạn này dự kiến kéo dài từ 3-4 ngày và Sở GD-ĐT TP.HCM sẽ công bố kết quả thi lớp 10 ngay sau đó.
Báo Thanh Niên sẽ cập nhật về kết quả điểm thi lớp 10 của học sinh TP.HCM để phụ huynh học sinh tra cứu.
Kỳ thi lớp 10 TP.HCM năm 2026 là kỳ thi đầu tiên sau sáp nhập tỉnh thành. TP.HCM là địa phương có quy mô điểm thi, số lượng thí sinh dự thi đông nhất trên cả nước.
Tổng số học sinh đăng ký tham gia kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 là 151.269 em trong đó thí sinh đăng ký nguyện vọng vào lớp 10 chuyên, tích hợp và chương trình đặc thù là 11.354 em. Lớp chuyên tiếng Anh có số lượng đăng ký cao nhất với 3.342 thí sinh, tiếp theo là lớp chuyên toán với 2.072 thí sinh và chuyên ngữ văn với 1.368 thí sinh…
Thành phố có 1.515 thí sinh thuộc diện tuyển thẳng vào lớp 10 THPT theo quy định trong đó gồm 100 học sinh thuộc diện tuyển thẳng do đạt thành tích thể thao cấp quốc gia, 3 học sinh dân tộc thiểu số rất ít người và 1.412 học sinh khuyết tật.
Tin Gốc: Thanh Niên

Mới đây, tại buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định kỳ thi lớp 10 hiện nay "căng thẳng hơn cả thi đại học (ĐH)". Nhận định này phản ánh đúng thực trạng áp lực mà học sinh (HS), phụ huynh và xã hội đang phải đối mặt.
Bản chất tuyển sinh lớp 10 hiện nay là một cuộc "sàng lọc" bằng giải pháp hành chính khi nhiều địa phương thiếu trường lớp và giáo viên (GV). Để giảm số HS vào trường công, các địa phương buộc phải tổ chức thi tuyển với mức cạnh tranh rất cao. Điều này đi ngược mục tiêu phổ cập giáo dục trung học mà VN hướng tới vào năm 2035, tức mọi HS sau THCS đều có cơ hội tiếp tục học THPT, trung học nghề hoặc giáo dục thường xuyên.
Một HS đã hoàn thành giáo dục bắt buộc THCS phải được tiếp tục học tập bình thường. Thế nhưng tại Hà Nội hay TP.HCM, có nơi tỷ lệ chọi vào lớp 10 ở một số trường khá cao khiến có HS không vào được trường công không phải vì học yếu mà vì thiếu chỗ học.
Năm học 2026-2027, Hà Nội chỉ có khoảng 55% HS tốt nghiệp THCS được vào THPT công lập, giảm mạnh so với các năm trước. Theo số liệu HS đăng ký nguyện vọng 1 vào lớp 10 các trường THPT công lập năm học 2026-2027 do Sở GD-ĐT TP.HCM công bố, có khoảng 79,4% sẽ trúng tuyển vào trường công.
Điều đó cho thấy áp lực tuyển sinh lớp 10 vẫn đặc biệt gay gắt, phản ánh nghịch lý: chủ trương phổ cập đến hết lớp 12 đã rõ nhưng hạ tầng và đội ngũ GV vẫn chưa theo kịp.
Trong nhiều năm, VN tự hào về thành tựu phổ cập giáo dục THCS và hướng đến mục tiêu phổ cập giáo dục hết phổ thông. Nhưng ngay sau lớp 9, một cuộc cạnh tranh khốc liệt, dẫn đến mục tiêu phổ cập bị đứt gãy giữa chừng.
Ở bản chất sâu xa, tuyển sinh lớp 10 đại trà hiện nay không phải là đánh giá năng lực HS, mà là cơ chế phân bổ sự thiếu hụt nguồn lực giáo dục. Khi số lượng trường lớp công lập không đủ, kỳ thi trở thành "van điều tiết" để giảm áp lực cho hệ thống.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rất đáng chú ý khi nhấn mạnh: "Thi cử để đánh giá chất lượng dạy và học, không phải để loại các cháu ra khỏi trường học". Đây không chỉ là góc nhìn nhân văn, mà còn là tư duy giáo dục tiến bộ của nhiều quốc gia phát triển.
Ở phần lớn các nước có nền giáo dục tiên tiến, giáo dục THPT gần như đã được phổ cập. HS có thể khác nhau về định hướng con đường học tập, nghề nghiệp và chương trình học, nhưng đều không bị loại khỏi hệ thống giáo dục và đào tạo chỉ vì thiếu chỗ học.
Một mâu thuẫn khác nằm ở chủ trương phân luồng sau THCS. Về mục tiêu cũng như khoa học giáo dục, việc phân luồng là cần thiết. Một quốc gia hiện đại không thể chỉ đào tạo cử nhân ĐH hay kỹ sư mà cần cả công nhân kỹ thuật, kỹ sư thực hành, chuyên gia công nghệ, nhân lực dịch vụ và lao động sáng tạo.
Nhưng ở VN hiện nay, phân luồng chưa thực sự dựa trên sự tự nguyện và hấp dẫn nghề nghiệp. Nhiều HS vào giáo dục nghề nghiệp không phải vì yêu thích kỹ thuật hay có khả năng thực hành rõ ràng, mà vì không đậu trường THPT công lập hay không có điều kiện kinh tế để học trường tư thục. Đây là khác biệt lớn giữa VN và các nước tiên tiến, việc học các trường nghề là tự nguyện, đào tạo có chất lượng và học viên vẫn có nhiều cơ hội phát triển lâu dài.
Khi học nghề bị xem như "lựa chọn thứ hai", phân luồng sẽ khó thành công. Phụ huynh vẫn tìm mọi cách để con vào THPT rồi ĐH bởi bằng ĐH hiện vẫn có ưu thế rõ rệt trên thị trường lao động. Trong khi đó, nhiều ngành nghề kỹ thuật dù xã hội thiếu nhân lực nhưng thu nhập chưa tương xứng, cơ hội thăng tiến còn hạn chế và hình ảnh xã hội chưa đủ hấp dẫn.
Do đó, nếu không thay đổi cấu trúc thị trường lao động và nâng vị thế giáo dục nghề nghiệp, HS và phụ huynh chủ yếu cũng chỉ chọn con đường vào lớp 10 công lập.
Nghịch lý của giáo dục VN là càng kêu gọi giảm áp lực thì HS càng học thêm nhiều hơn. Kỳ thi lớp 10 khiến nhiều HS lớp 9 sống trong căng thẳng kéo dài, học thêm liên tục. Với nhiều gia đình, năm lớp 9 trở thành "năm bản lề" đầy áp lực.
Nguyên nhân bởi phía sau kỳ thi là nỗi lo rất thực tế: nếu không vào được trường công, chi phí học trường tư sẽ tăng cao hoặc HS phải đi học xa nhà, khó bảo đảm việc học lâu dài. Vì vậy, tuyển sinh lớp 10 hiện nay không chỉ là áp lực giáo dục mà còn là gánh nặng kinh tế đối với nhiều gia đình.
Muốn giảm áp lực thi lớp 10, không chỉ thay đổi đề thi hay quy chế tuyển sinh mà cần xem giáo dục phổ thông là quyền học tập phải được bảo đảm cho mọi HS. Tuy nhiên, giảm áp lực không đồng nghĩa buông lỏng chất lượng. Nhiều địa phương từng xét tuyển học bạ thay cho thi tuyển để giảm căng thẳng, nhưng cách làm này cũng bộc lộ hạn chế khi động lực học tập giảm, dễ phát sinh tiêu cực và chất lượng đầu vào THPT đi xuống. Thực tế đó khiến một số tỉnh như Đắk Lắk và Quảng Nam (cũ) phải khôi phục thi tuyển lớp 10 sau nhiều năm xét tuyển.
Vì vậy, giải pháp không phải bỏ thi hoàn toàn hay duy trì thi cử quá nặng nề, mà cần cơ chế đánh giá cân bằng hơn, kết hợp học bạ với đánh giá năng lực để vừa giảm áp lực vừa bảo đảm chất lượng thực chất.
Gốc rễ của áp lực tuyển sinh lớp 10 nằm ở 3 vấn đề lớn: thiếu trường lớp và GV, bất bình đẳng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, và thị trường lao động chưa hợp lý; vì vậy cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ.
Trước hết, VN cần thực sự hướng đến phổ cập THPT và tương đương bằng cách đầu tư mạnh cho trường lớp, đặc biệt ở các đô thị tăng dân số nhanh. Chính quyền phải chủ động dự báo quy mô HS, không để tình trạng thiếu trường kéo dài. Đồng thời phải thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa các trường để giảm tâm lý chạy đua vào trường top.
Đổi mới giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo và tạo cơ hội học lên cao hơn. Khi con đường nghề nghiệp đủ hấp dẫn, áp lực dồn vào THPT sẽ giảm tự nhiên.
Tin Gốc: Thanh Niên

