Nguyên liệu sản xuất ra ván gỗ của MDF VRG Kiên Giang được chọn lọc từ các nguồn gỗ bạch đàn, tràm nước và keo lai. Những nguyên liệu này bảo đảm hợp pháp, có kiểm soát và thân thiện với môi trường, tạo nên các dòng sản phẩm phù hợp cho nhiều ứng dụng nội thất và vật liệu trang trí.
Năm 2013, Hội đồng Thành viên Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ban hành quyết định phê duyệt dự án nhà máy chế biến gỗ MDF Kiên Giang với tổng mức đầu tư hơn 1.360 tỉ đồng. Ngày 7.2.2014, dự án nhà máy gỗ công nghiệp hiện đại bậc nhất miền Tây này được khởi công xây dựng tại Khu công nghiệp Thạnh Lộc (nay thuộc xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang). Dù tới năm 2016 nhà máy mới được xây dựng xong nhưng ngay từ những ngày đầu triển khai dự án, Công ty CP gỗ MDF VRG Kiên Giang đã xác định chủ động nguồn nguyên liệu là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh lâu dài.
Năm 2014, công ty được UBND tỉnh Kiên Giang (cũ) giao tiếp nhận, quản lý và bảo vệ hơn 3.900 ha đất lâm nghiệp. Trong đó, gần 2.530 ha tại khu vực rừng Hòn Đất thuộc xã Hòn Đất và Bình Sơn (gồm hơn 1.080 ha rừng sản xuất và gần 1.450 ha rừng phòng hộ); cùng hơn 1.370 ha tại khu vực rừng phòng hộ An Minh thuộc xã Vân Khánh (tỉnh An Giang). Trên diện tích rừng tại Hòn Đất, công ty hiện đã triển khai giai đoạn 1 dự án trồng rừng nguyên liệu với giống tràm Úc có chu kỳ sinh trưởng ngắn, năng suất sinh khối đạt khoảng 120 tấn/ha. Từ năm 2021, công ty bắt đầu trồng thử nghiệm cây keo lai và đạt kết quả khả quan. Từ năm 2026, diện tích keo lai dự kiến sẽ được mở rộng lên khoảng 1/3 tổng diện tích rừng. Công ty cũng đang tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm các giống cây phù hợp cho ngành chế biến gỗ như bạch đàn cấy mô và tràm bông vàng. Ngoài mục đích kinh tế, những cánh rừng này có tác dụng bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống, ngăn chặn tình trạng đất trọc hóa và là “lá phổi xanh” để điều hòa không khí.
Điều đặc biệt, một phần lớn nguyên liệu được công ty tự trồng trên vùng đất nhiễm phèn nhôm vô cùng khắc nghiệt. Trên vùng đất này, khi nước rút, đất có màu xám xanh. Tôm cá nếu có sống được thì sinh trưởng cũng rất chậm. Việc trồng được những cánh rừng tràm, keo xanh tốt không chỉ là câu chuyện nguyên liệu mà còn là nỗ lực cải tạo và chinh phục một vùng đất khó.
Theo báo cáo của MDF VRG Kiên Giang, những cánh rừng trồng đã góp phần chủ động nguồn cung và phát triển bền vững chuỗi giá trị ngành gỗ. Với chu kỳ khai thác bình quân 5 năm, mỗi năm, công ty dự kiến đưa vào khai thác khoảng 580 ha rừng, đạt năng suất bình quân 145 m³/ha/chu kỳ 5 năm, tương đương khoảng 84.100 m3 gỗ nguyên liệu, chiếm sản lượng đáng kể về nguyên liệu tiêu thụ của nhà máy trong tương lai.
Tuy nhiên, để những cánh rừng trồng được lớn lên xanh tốt, suốt những năm qua, hàng chục cán bộ, công nhân viên của MDF VRG Kiên Giang đã phải đổ rất nhiều mồ hôi và tâm huyết. Đi dọc những con kênh gần lâm phần của công ty, dễ thấy một tháp canh cao hàng chục mét được dựng giữa rừng. Cùng với đó, mỗi ngày, hàng chục các nhân viên công ty phải thường trực tuần tra, sử dụng flycam để theo dõi những biến động trong rừng, phát hiện những nguy cơ cháy nổ. Ở vùng đất phương Nam mùa nắng kéo dài, công tác bảo vệ rừng luôn là thách thức lớn. Việc giữ được rừng không chỉ là bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, mà còn là bảo vệ nguồn nguyên liệu cho nhà máy, bảo vệ sinh kế của người dân và gìn giữ môi trường sinh thái cho cả một vùng.
Và thiên nhiên cũng không phải lúc nào cũng ưu ái những cánh rừng. Đơn cử như trong năm 2026, dù đã chuẩn bị sẵn quỹ đất và hạ tầng nhưng công ty vẫn chưa thể xuống giống trồng rừng như thông lệ. Ông Huỳnh Xuân Phong, Phó tổng giám đốc Công ty CP gỗ MDF VRG Kiên Giang, cho biết: “Thời điểm xuống giống lý tưởng nhất là vào khoảng tháng 6, tháng 7 khi bắt đầu có mưa. Tuy nhiên năm nay, dự báo có ảnh hưởng của hiện tượng El Nino gây ra hạn hán nên kế hoạch trồng rừng phải dời sang tháng 8, tháng 9 để đảm bảo tỷ lệ sống và sự phát triển ổn định cho cây con”.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thịnh, Chủ tịch HĐQT Công ty CP gỗ MDF VRG Kiên Giang, việc doanh nghiệp này được thành lập vào năm 2016 đã tạo ra bước ngoặt lớn cho sinh kế của những người dân ở vùng sông nước Kiên Giang cũ (nay là An Giang). Những cây tràm nước trước đây vốn chỉ dùng làm củi đun hoặc vứt bỏ thì nay đã trở thành hàng hóa vì là nguồn nguyên liệu làm ra sản phẩm gỗ MDF.
Còn theo ông Huỳnh Xuân Phong, Phó tổng giám đốc công ty, sự xuất hiện của nhà máy gỗ MDF hiện đại bậc nhất Đồng bằng sông Cửu Long đã định hướng và khuyến khích người dân tận dụng các khu đất “đầu thừa đuôi thẹo” trong vườn để trồng rừng vì họ biết chắc chắn sản phẩm làm ra sẽ có nơi tiêu thụ. Hoạt động thu mua của công ty không chỉ giúp phủ xanh đất trống mà còn tạo ra nhiều công ăn việc làm, giúp người dân có thêm thu nhập.
Dọc theo những dòng kênh ở khu vực các xã Hòn Đất, Bình Sơn, Vân Khánh, Thạnh Lộc (tỉnh An Giang), mỗi ngày có hàng trăm vỏ lãi, tàu chở gỗ tràm, gỗ keo tấp nập hướng về nhà máy MDF VRG Kiên Giang. Những thân cây gỗ xù xì 5-7 năm tuổi được đưa từ tàu lên xe và chở thẳng vào khu phân loại, sơ chế. Sau đó, thân cây sẽ được đưa vào máy băm dăm và nghiền thành sợi. Nguyên liệu sẽ được trộn keo và phụ gia, sấy, trải thảm, ép, cắt, làm nguội, chà nhám rồi mới được phân loại và đóng gói sản phẩm.
Thay vì trở thành chất đốt hay vật liệu thô, cây rừng đã được đưa vào dây chuyền trong nhà máy hiện đại, được chế biến sâu để trở thành sản phẩm có giá trị cao hơn. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, những thân cây hôm trước còn đang trong những cánh rừng nhiễm phèn, hôm sau đã thành những tấm ván gỗ công nghiệp (MDF, HDF, HMR…) phẳng phiu và đẹp mắt. Từ nhà máy, những tấm ván gỗ được vận chuyển về các công ty nội thất để trở thành sàn nhà, cửa hay giường tủ, đồ nội thất.
Từ vùng đất kênh rạch nhiễm phèn “tôm cá còn chê”, hơn 10 năm qua, MDF VRG Kiên Giang đã tạo nên một hành trình ấn tượng. Hành trình ấy không chỉ giúp phủ xanh vùng đất khắc nghiệt mà còn trở thành nền tảng cho khát vọng phát triển xanh và bền vững của một nhà máy gỗ công nghiệp hiện đại bậc nhất miền Tây.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra vào sáng nay (30/6), ông Takuya Sahashi - Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đã trình bày tham luận với nội dung "Vai trò của doanh nghiệp FDI trong phát triển công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa".
Ông Takuya Sahashi đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đồng tình với tầm nhìn cho rằng sự phát triển kinh tế của Việt Nam không nên chỉ dựa vào việc thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thông qua quá trình tham gia này, các công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại và các tiêu chuẩn quốc tế sẽ từng bước được lan tỏa vào khu vực doanh nghiệp trong nước, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ và nâng cao nền tảng công nghiệp nói chung.
Theo ông Takuya Sahashi, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp vào sự phát triển công nghiệp của Việt Nam trong hơn 3 thập kỷ qua. Nhật Bản đã đầu tư đáng kể vào các lĩnh vực sản xuất như thiết bị vận tải, điện tử và máy móc công nghiệp, tạo việc làm và hỗ trợ xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển các nhà cung ứng. Nhờ vậy, tỉ lệ nội địa hóa đã không ngừng được nâng lên theo thời gian.
Để triển khai thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 10, ông Takuya Sahashi cho rằng vẫn còn một số thách thức cần vượt qua. Đó là năng lực kỹ thuật và chất lượng của các nhà cung ứng trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Các ngành công nghiệp thượng nguồn, bao gồm ngành vật liệu và linh kiện then chốt vẫn còn kém phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc kéo dài vào nhập khẩu.
Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận do thủ tục phức tạp hoặc chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp… Việc giải quyết những vấn đề này có ý nghĩa thiết yếu trong việc tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, ông Takuya Sahashi nhấn mạnh một số khuyến nghị trọng tâm, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10. Trong đó nhấn mạnh cần sự hỗ trợ có trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao thay vì chỉ chú trọng đến số lượng; cần xác định các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng phát triển cao và dành cho họ các chính sách hỗ trợ có trọng tâm.
Việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp FDI có thể giúp hình thành và phát triển các nhà cung ứng nòng cốt, có năng lực cạnh tranh.
Đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin. Việc hoàn thiện các cơ chế nhằm nhận diện và giới thiệu các nhà cung ứng trong nước có năng lực là hết sức quan trọng. Mở rộng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, các triển lãm và nền tảng kết nối doanh nghiệp thông qua sự phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các liên kết chặt chẽ hơn.
Cùng với đó là phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn. Việc phát triển có chiến lược các ngành vật liệu và linh kiện là yếu tố thiết yếu nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao và công nghệ cao.
Ông Takuya Sahashi cũng khuyến nghị cần nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế đơn giản hơn, linh hoạt hơn và dễ tiếp cận hơn để doanh nghiệp có thể sử dụng khi cần thiết.
Cuối cùng, việc tăng cường đào tạo nghề, thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng như nâng cao kỹ năng thực hành là hết sức cần thiết để tăng cường năng lực tiếp nhận và hấp thụ công nghệ chuyển giao.
Việc tạo dựng mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam thông qua việc nâng cao năng suất, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và phát triển một cơ cấu công nghiệp có khả năng chống chịu tốt hơn và tự chủ hơn. Đồng thời, điều này cũng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
Từ các tuyến cao tốc ven biển đã vận hành hiệu quả đến những trục Đông - Tây đang được thúc đẩy đầu tư, hạ tầng giao thông đang trở thành "đòn bẩy" chiến lược cho toàn khu vực.
Thuế TP.HCM đã xây dựng và triển khai hệ thống website và mini app (HCMTax) với mục tiêu đảm bảo 100% hộ kinh doanh được tiếp cận thông tin và nhận được sự hỗ trợ từ cơ quan thuế trên môi trường trực tuyến. Hệ thống này tăng cường hỗ trợ hộ kinh doanh chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện kê khai, nộp thuế theo đúng quy định; đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và dịch vụ thuế điện tử trong toàn bộ các nghiệp vụ quản lý thuế, đồng thời thực hiện nhóm giải pháp tiện ích hỗ trợ người nộp thuế trên môi trường trực tuyến.
Bên cạnh đó, với mục đích hỗ trợ người dân tích cực sử dụng hóa đơn điện tử khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ, Thuế TP.HCM đã tích hợp tính năng "Cung cấp thông tin xuất hóa đơn" trên hệ thống HCMTax. Tính năng cung cấp các thông tin cơ bản của người dân như mã số thuế, email, địa chỉ để bên bán hàng, cung cấp dịch vụ có thể xuất hóa đơn cho người mua hàng, sử dụng dịch vụ. Chức năng cũng hỗ trợ việc mã hóa các thông tin này dưới dạng mã QRCode để thuận tiện việc truyền tải thông tin. Khi thực hiện quét mã QRCode này, hệ thống sẽ nhận được dữ liệu dạng chuỗi ký tự.
Để việc hỗ trợ người dân được thiết thực và hiệu quả hơn, Thuế TP.HCM đề nghị các tổ chức cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử; hệ thống máy tính tiền phối hợp thực hiện bổ sung tính năng đọc mã QRCode từ hệ thống HCMTax trên các sản phẩm giải pháp hóa đơn điện tử; máy tính tiền của đơn vị. Qua đó, dữ liệu của người mua hàng, sử dụng dịch vụ sẽ được bổ sung đầy đủ lên hệ thống giải pháp hóa đơn điện tử của các đơn vị nhanh chóng, chính xác hơn.