Theo Tiến sĩ Valentine Millien, chuyên gia tiêu hóa tại Bệnh viện Houston Methodist, Mỹ, các nghiên cứu cho thấy những người mang điện thoại vào nhà vệ sinh thường dành nhiều thời gian hơn trên bồn cầu và có nguy cơ mắc bệnh trĩ cao hơn.
Tiến sĩ Melissa Hershman, trợ lý giáo sư y khoa thuộc khoa Tiêu hóa và Gan mật, ĐH Khoa học Y tế Oregon, Mỹ cho biết thời gian thích hợp để ngồi trong nhà vệ sinh không quá ba phút mỗi lần.
Trong khi đó, Leslie Waid, điều dưỡng chuyên khoa tiêu hóa tại trung tâm Y tế ĐH Pittsburgh, cho rằng khoảng 5-10 phút vẫn có thể chấp nhận được, nhưng lý tưởng nhất vẫn là hoàn thành việc đi vệ sinh trong khoảng 5 phút.
Nếu sau khoảng 5 phút vẫn không đi được, tốt nhất nên rời khỏi nhà vệ sinh và quay lại khi thực sự có cảm giác có nhu cầu.
Cố đi đại tiện làm tăng nguy cơ mắc bệnh trĩ, có thể gây nứt hậu môn – những vết rách ở niêm mạc ống hậu môn gây đau đớn. Ngoài ra, thói quen này còn có thể làm tổn thương và suy yếu các cơ sàn chậu.
Bên cạnh đó, tư thế ngồi cũng đóng vai trò quan trọng. Theo Leslie Waid, các dụng cụ kê chân có thể giúp cải thiện tư thế khi đại tiện.
Tiến sĩ Millien cho biết ở nhiều quốc gia châu Á và châu Phi, bồn cầu được thiết kế thấp sát mặt đất, buộc người sử dụng ở tư thế gần như ngồi xổm.
Tư thế này giúp giảm áp lực lên trực tràng và tận dụng trọng lực để phân được đào thải dễ dàng hơn.
Tin Gốc: Vnexpress

Gắn bó với Trường đại học Y Dược TP.HCM hơn nửa đời người, Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Đình Hối đã dành trọn tâm huyết để gieo tri thức cho biết bao thế hệ y bác sĩ và sinh viên y khoa.
Thầy miệt mài nghiên cứu và hiện thực hóa giấc mơ sau rất nhiều năm ấp ủ và trăn trở, đó là làm sao để trường đại học có một bệnh viện riêng của mình.
Hiện thực ấy chính là Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM thuộc Trường đại học Y Dược TP.HCM.
Đây là nơi để các thầy cô vừa giảng dạy, vừa khám chữa bệnh, vừa nghiên cứu khoa học, để từ đó người thầy giáo vừa là người thầy thuốc và cũng là nhà khoa học.
Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Đình Hối sinh ngày 2-1-1936 tại xã Tân Dân, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Tân Dân, tỉnh Thanh Hóa).
Lớn lên trong một gia đình trí thức giàu truyền thống hiếu học và nhân nghĩa, ông đã sớm hình thành lý tưởng cống hiến và định hình con đường phát triển bản thân thông qua tri thức.
Năm 1954, sau khi hòa bình được lập lại, ông xuất sắc trúng tuyển thủ khoa của cả hai trường đại học lớn lúc bấy giờ là Đại học Sư phạm và Đại học Y khoa Hà Nội.
Với ước nguyện chữa bệnh cứu người và chăm sóc sức khỏe cho gia đình, nhân dân, ông đã quyết định lựa chọn theo đuổi ngành y.
Năm 1960, sau khi tốt nghiệp bác sĩ, ông được giữ lại Trường đại học Y Hà Nội để công tác tại bộ môn giải phẫu học, trước khi chuyển sang bộ môn ngoại do giáo sư Tôn Thất Tùng chủ nhiệm.
Tại đây, ông đã có 10 năm đảm nhiệm vai trò Trưởng phiên trực tại Bệnh viện Việt Đức và 8 năm làm bác sĩ tham vấn. Dưới sự dẫn dắt trực tiếp của giáo sư Tôn Thất Tùng, bác sĩ Nguyễn Đình Hối không chỉ hoàn thiện tư duy chuyên môn sắc bén mà còn thấm nhuần sâu sắc triết lý hành nghề cao đẹp.
Ông được giới chuyên môn đương thời ghi nhận là một trong những học trò xuất sắc của giáo sư Tôn Thất Tùng, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, sự nghiêm cẩn trong giảng dạy và lòng tận tâm với từng người bệnh.
Năm 1981, theo lời mời của giáo sư Trương Công Trung - Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược TP.HCM lúc bấy giờ, giáo sư Nguyễn Đình Hối chuyển công tác vào TP.HCM. Tại đây, hành trình kiến tạo một di sản y học bền vững của ông chính thức bắt đầu.
Với năng lực chuyên môn và uy tín cao, giáo sư Nguyễn Đình Hối lần lượt đảm nhiệm các trọng trách: giảng viên bộ môn ngoại, sau đó là Trưởng khoa y và tiếp đến là Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược TP.HCM (1993 - 2007).
Những đóng góp to lớn của ông đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của nhà trường, để lại nhiều thế hệ y bác sĩ ưu tú và một tấm gương sáng ngời về y đức lẫn y đạo cho các thế hệ mai sau.
Song song với công tác lãnh đạo Trường đại học Y Dược TP.HCM, thầy miệt mài nghiên cứu, biên soạn giáo trình, công bố công trình, định hình chuẩn mực học thuật, tạo nên kho tàng di sản y học làm nền tảng vững chắc để trường nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển đội ngũ và nuôi dưỡng văn hóa học thuật.
Đã có hàng trăm bác sĩ nội trú; bác sĩ chuyên khoa I; bác sĩ chuyên khoa II; thạc sĩ; tiến sĩ được thầy đào tạo.
Bên cạnh công tác quản lý, giáo sư Nguyễn Đình Hối đã để lại một di sản học thuật quý báu cho y học nước nhà.
Ông là tác giả của 6 sách chuyên khảo, chủ biên 10 tập "Bài giảng Bệnh học Ngoại khoa", bộ "Bách khoa thư bệnh học" và tham gia soạn thảo các cuốn từ điển ngoại khoa Anh - Pháp - Việt và từ điển y học Anh - Pháp - Việt.
Ở vai trò nhà nghiên cứu, ông đã chủ nhiệm nhiều đề tài khoa học lớn từ cấp thành phố, cấp Bộ cho đến cấp Nhà nước, cùng hơn 70 công trình chuyên ngành giá trị.
Hướng về cộng đồng, ông còn sáng lập Câu lạc bộ Sức khỏe và Đời sống, mang những kiến thức y học phổ thông đến gần hơn với người dân.
Trên cương vị Hiệu trưởng, giáo sư Nguyễn Đình Hối đã hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, đưa Trường đại học Y Dược TP.HCM bứt phá mạnh mẽ.
Từ quy mô ba khoa ban đầu, ông mở rộng thành cơ sở đào tạo hoàn chỉnh lên thành bảy khoa với bảy chuyên ngành y tế; đặt nền móng cho mô hình đại học đa ngành, đa trung tâm và tiên phong chuẩn hóa năng lực sư phạm y học cho ngành y tế phía Nam.
Điểm sáng ngoạn mục nhất trong sự nghiệp quản trị của thầy chính là mô hình Trường - Viện đầu tiên tại Việt Nam.
Được sự ủy nhiệm từ giáo sư Trương Công Trung, ông trực tiếp dấn thân vào một hành trình chưa có tiền lệ: xây dựng bệnh viện hoàn toàn không dùng ngân sách nhà nước.
Vừa là Hiệu trưởng, vừa là Giám đốc đầu tiên, ông đã chèo lái đưa Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM phát triển vượt bậc, trở thành điểm tựa y tế tin cậy của hàng triệu người dân.
Cho đến hôm nay, bức ảnh tư liệu trong lễ khởi công năm 2006 vẫn là một biểu tượng vô giá. Hình ảnh người thầy đáng kính trong bộ mũ bảo hộ, tay cầm xẻng thực hiện nghi thức khởi công... đã kết tinh trọn vẹn cho tinh thần dấn thân, dám nghĩ, dám làm.
Đó không chỉ là một công trình, mà là khát vọng đưa tri thức trên trang sách bước vào thực tiễn, gắn liền với sứ mệnh bảo vệ sự sống cho cộng đồng.
Với gia đình, giáo sư Nguyễn Đình Hối không chỉ là người con hiếu thuận, mà còn là người chồng ấm áp và người cha mẫu mực. Ông sống nghĩa tình, yêu thương anh chị em, chăm lo cho đàn cháu.
Ngày nay, con trai ông - Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hoàng Bắc - nguyên Phó hiệu trưởng phụ trách Trường đại học Y Dược TP.HCM, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - đang tiếp nối hành trình dẫn dắt bệnh viện phát triển theo đúng triết lý mà người cha, người thầy đã khởi dựng và trọn đời xây đắp.
Trong công việc, ông luôn tôn sư trọng đạo, cởi mở chia sẻ và dành sự tin cậy tuyệt đối cho các đồng sự. Chính niềm tin ấy đã gắn kết tập thể, trở thành động lực để mọi người cùng cống hiến.
Với các thế hệ học trò, ông là người dẫn đường tận tụy, luôn nghiêm cẩn nhưng đầy bao dung.
Những bài học của ông không chỉ nằm trên giảng đường, mà đã trở thành kim chỉ nam cho bao thế hệ y bác sĩ với lời răn dạy sâu sắc: "Học kỹ thuật mổ ba đến năm năm là có thể thành thạo, nhưng học để không mổ mà bệnh nhân vẫn khỏe... là phải học cả cuộc đời".
Ông luôn dạy: "Y đức không phải là lời nói suông, y đức thể hiện trong cách đối nhân xử thế, điều trị toàn diện người bệnh chứ không phải điều trị bệnh".
Chỉ khi đặt mình vào vị trí của người bệnh, kiên nhẫn lắng nghe và thấu hiểu những gì họ đang trải qua, chúng ta mới thấm nhuần lời dạy "Lương y phải như từ mẫu".
Tất cả những di sản tinh thần vô giá ấy sẽ sống mãi, là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ mai sau vững bước trên hành trình: giỏi y thuật, vững y lý và sáng y đức.
Mãi mãi ghi nhớ và biết ơn Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Đình Hối - người để lại di sản của tri thức, quản trị và lòng nhân ái. Cuộc đời của ông sẽ mãi là tấm gương cho các thế hệ thầy giáo, thầy thuốc và nhà khoa học Việt Nam noi theo.
Chân dung về một nhà lãnh đạo trí tuệ, một nhà quản trị lỗi lạc, một nhà khoa học uyên bác, một người thầy, một người cha gần gũi và thân thương sẽ luôn hiện hữu và trở thành kim chỉ nam trên hành trình giỏi y thuật, vững y lý, sáng y đức cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP NGND - GS.TS.BS NGUYỄN ĐÌNH HỐI
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Năm 2007, nhiếp ảnh gia người Đan Mạch Peter Funch khởi động dự án ảnh về nhân viên văn phòng New York. Trong suốt 9 năm liên tục, Funch đứng chụp tại ngã tư góc phố 42 và Vanderbilt, ngay ngoài nhà ga Grand Central ở trung tâm thành phố. Mỗi ngày, từ 8h30 đến 9h30 sáng, ông dùng máy ảnh kỹ thuật số gắn ống tele để chụp lại dòng người di chuyển trên phố.
Hàng trăm nghìn người đã lọt vào ống kính của Funch. Họ có nhiều trạng thái khác nhau nhưng đều có nét đặc trưng buổi sáng của dân công sở: người ngáp dài, người ôm cặp xách tay cầm cốc cà phê chạy theo chuyến tàu, một số người khác mỉm cười.
Trong quá trình phân loại ảnh, Funch phát hiện nhiều người xuất hiện lặp lại trong khung hình của mình hai, ba, thậm chí 10 lần. Khoảng cách giữa những bức ảnh này dao động từ hai ngày liên tiếp cho đến vài năm sau.
"Dân văn phòng New York duy trì nếp sinh hoạt cố định suốt 10 năm. Chuỗi ảnh lột tả sự trùng khớp từ khuôn mặt, cử chỉ đến trang phục của một người ở những thời điểm tách biệt", Funch nói với Fast Co. Design. "Điều đó khiến tôi tự hỏi trong cuộc đời chúng ta sống hàng nghìn ngày khác nhau hay chỉ là một ngày được lặp lại hàng nghìn lần".
Trong bộ ảnh "những gương mặt trùng lặp" của Funch có một phụ nữ nhắm mắt, sải bước chân xuất hiện hai lần trong hai bộ áo voan và áo len khác nhau. Ở một bức ảnh khác, người đàn ông mặc vest, tay phải cầm điện thoại xuất hiện hai lần với hai chiếc áo sơ mi khác màu. Funch cũng chụp được những người lặp lại y nguyên điệu bộ khoanh tay, hút thuốc hay mỉm cười qua nhiều năm. Đặc biệt, có hai người đàn ông luôn đi cùng nhau với điệu bộ di chuyển giống hệt nhau ở các thời điểm khác biệt; hay nhóm ba nữ nhân viên y tế đi cùng nhau, trong đó luôn có một người nhìn vào điện thoại, người kia cúi mặt.
"Điều đó khiến tôi tự hỏi trong cuộc đời chúng ta sống hàng nghìn ngày khác nhau hay chỉ là một ngày được lặp lại hàng nghìn lần", Funch nói.
Năm 2018, Funch xuất bản sách ảnh 42nd and Vanderbilt chứa 123 cặp chân dung, cho thấy nếp sinh hoạt cố định của những người lao động tại New York. Do dự án được thực hiện tại không gian công cộng, tác giả không vi phạm các quy định về quyền riêng tư. Phần lớn các nhân vật không biết mình được chụp cho đến khi dự án công bố.
Dự án này gợi nhớ đến bộ ảnh Many Are Called của Walker Evans thực hiện giai đoạn 1938-1941. Thời điểm đó, Evans từng giấu máy ảnh trong áo khoác, chụp hành khách trên tàu điện ngầm để ghi lại biểu cảm tự nhiên của họ.
"Họ rũ bỏ lớp ngụy trang, lộ rõ vẻ trầm tư dưới hầm tàu điện", Evans kể.
Tin Gốc: Vnexpress

Câu chuyện ấy không lạ, thậm chí ngày càng phổ biến trong nhịp sống hiện đại - nơi người trẻ tất bật với công việc, còn người già lặng lẽ học cách sống không phiền ai.
Từ lâu, câu “trẻ cậy cha, già cậy con” như một quy luật tự nhiên của đời sống gia đình Việt. Trẻ nhỏ cần sự chở che, người già cần điểm tựa. Nhưng quy luật ấy đang chịu nhiều thách thức khi xã hội chuyển động nhanh hơn, khi mỗi cá nhân phải chạy đua với cơm áo, với áp lực nghề nghiệp và cả những kỳ vọng thành công.
Trong guồng quay ấy, thời gian dành cho cha mẹ già - thứ tưởng như hiển nhiên - lại trở thành điều xa xỉ.
Không khó bắt gặp những gia đình con cái sống xa nhà, thậm chí ở nước ngoài. Khoảng cách địa lý kéo theo khoảng cách chăm sóc. Những cuộc gọi vội vã thay cho những bữa cơm chung. Những khoản tiền gửi về thay cho sự hiện diện.
Vật chất có thể đủ đầy hơn, nhưng sự cô đơn của người già lại khó đo đếm. Họ không thiếu tiền, nhưng thiếu người trò chuyện. Không thiếu thuốc men, nhưng thiếu cảm giác được quan tâm.
Ở chiều ngược lại, cũng cần nhìn nhận công bằng rằng người trẻ hôm nay không hề vô tâm. Họ đang gánh trên vai nhiều áp lực hơn thế hệ trước: chi phí sinh hoạt tăng cao, cạnh tranh nghề nghiệp khốc liệt, trách nhiệm với gia đình nhỏ của chính mình.
Có những người con muốn ở gần cha mẹ, nhưng công việc không cho phép. Có những người muốn dành thời gian, nhưng quỹ thời gian lại quá hạn hẹp. Giữa hai chữ “hiếu” và “sống”, họ nhiều khi phải lựa chọn trong day dứt.
Vấn đề vì thế không thể giải quyết bằng việc quy trách nhiệm cho một phía. Điều cần thiết hơn là tìm ra cách để người già không bị bỏ lại phía sau, ngay cả khi con cái không thể ở bên thường xuyên.
Trước hết, chính người cao tuổi cũng cần được trao cơ hội để “tự chủ” nhiều hơn trong đời sống. Sự phụ thuộc hoàn toàn vào con cái, trong bối cảnh xã hội thay đổi, có thể khiến họ dễ rơi vào trạng thái bị động và tổn thương.
Những mô hình câu lạc bộ người cao tuổi, các hoạt động cộng đồng, lớp học kỹ năng, thậm chí là việc tiếp cận công nghệ - như sử dụng điện thoại thông minh, mạng xã hội - có thể giúp họ mở rộng thế giới của mình. Khi có bạn bè, có hoạt động, có kết nối, cảm giác cô đơn sẽ giảm đi đáng kể.
Bên cạnh đó, hệ thống an sinh xã hội cần đóng vai trò mạnh mẽ hơn. Dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, trung tâm dưỡng lão, y tế cộng đồng… không nên bị nhìn nhận như “giải pháp cuối cùng” hay “biểu hiện của sự bất hiếu”, mà cần được xem là một phần tất yếu của xã hội hiện đại.
Ở nhiều quốc gia, việc người già sống tại các cơ sở chăm sóc chuyên nghiệp là lựa chọn bình thường, thậm chí tích cực, vì họ được chăm sóc tốt hơn và có môi trường giao lưu phù hợp.
Tuy nhiên, dù xã hội có phát triển đến đâu, vai trò của gia đình vẫn không thể thay thế. Một cuộc gọi hỏi thăm, một chuyến về thăm nhà, một bữa cơm sum họp - những điều tưởng nhỏ bé ấy lại có giá trị tinh thần rất lớn đối với người già.
Sự quan tâm không nhất thiết phải là những điều lớn lao, mà nằm ở sự đều đặn và chân thành. Đôi khi, chỉ cần người già cảm nhận mình vẫn là một phần quan trọng trong cuộc sống của con cái, họ đã thấy đủ ấm lòng.
Câu hỏi “người già nương vào đâu khi con bận rộn?” vì thế không có một đáp án duy nhất. Đó phải là sự kết hợp của nhiều yếu tố: sự thích nghi của chính người cao tuổi, sự hỗ trợ của xã hội, và trên hết là sự kết nối bền chặt trong gia đình. Khi mỗi yếu tố đều được quan tâm đúng mức, người già sẽ không còn cảm thấy bị bỏ rơi, dù con cái không thể lúc nào cũng ở bên.
Xã hội hiện đại có thể thay đổi nhiều giá trị, nhưng nhu cầu được yêu thương và quan tâm của con người thì không đổi. Người trẻ hôm nay rồi cũng sẽ già đi. Cách họ đối xử với cha mẹ hôm nay, phần nào sẽ là cách họ được đối xử trong tương lai. Đó không phải là sự "trả giá”, mà là một vòng tuần hoàn của tình cảm và trách nhiệm.
Để rồi, một ngày nào đó, câu hỏi “già cậy ai?” sẽ không còn là nỗi lo canh cánh, mà trở thành một lời nhắc nhẹ nhàng rằng: mỗi người dù ở độ tuổi nào đều xứng đáng có một điểm tựa - không chỉ từ gia đình, mà từ cả một xã hội biết quan tâm và sẻ chia.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

