Theo công bố của Cục Hàng không Việt Nam, trong giai đoạn cao điểm từ nay đến 15.8 và từ 24.8 – 6.9, điều chỉnh tham số điều phối giờ cất/hạ cánh (slot) tại khu vực nhà ga đi nội địa lên 17 chuyến/giờ; khu vực đường cất, hạ cánh và dịch vụ điều hành bay vào các khung giờ từ 6 giờ đến 23 giờ 59 từ 42 chuyến/giờ lên 44 chuyến/giờ.
Trước đó, Cục Hàng không Việt Nam đã điều chỉnh tham số điều phối slot tại Cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất. Từ 15.6 – 6.9, điều chỉnh tham số điều phối đường cất hạ cánh, đường lăn và dịch vụ bảo đảm hoạt động bay lên 46 chuyến/giờ trong các khung giờ từ 6 – 23 giờ.
Cục trưởng Uông Việt Dũng cho biết, việc triển khai điều chỉnh tăng tham số điều phối slot tại hai Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất được Cục Hàng không Việt Nam triển khai theo hướng linh hoạt, hiệu quả, tiết kiệm qua việc rà soát năng lực khai thác thực tế, tối ưu hóa khung giờ cao điểm, góp phần nâng cao năng lực khai thác và duy trì chất lượng dịch vụ hành khách dịp cao điểm hè và dịp lễ Quốc khánh 2.9.
Từ đầu mùa hè đến nay, ngành hàng không ghi nhận lượng khách tăng mạnh, kéo theo tình trạng chuyến bay hủy/hoãn cũng tăng. Theo số liệu thống kê mới nhất của Cục Hàng không, tỷ lệ cất cánh đúng giờ toàn ngành trong tháng 6 đạt 75,7%, với 19.382 chuyến. Số chuyến chậm là 6.231, chiếm 24,3%, trong khi 78 chuyến bị hủy, tương đương 0,3%.
Nguyên nhân lớn nhất khiến chuyến bay bị chậm tiếp tục là tàu bay về muộn, với 3.711 chuyến, chiếm gần 60% tổng số chuyến trễ. Điều hành bay đứng thứ hai, chiếm 15%, tiếp đến là nguyên nhân từ hãng hàng không với hơn 11%.
Tin Gốc: Thanh Niên

Từ ngày 1.1.2026, hình thức thuế khoán được xóa bỏ, 100% hộ kinh doanh chuyển sang kê khai thuế. Tuy nhiên, mới đây, một số chuyên gia, hiệp hội đã đề nghị nghiên cứu cho thực hiện chính sách thuế khoán đối với hộ kinh doanh có mức doanh thu năm dưới 5 tỉ đồng.
Tại Công văn 5272 gửi Bộ trưởng Bộ Tài chính mới đây, Văn phòng Chính phủ nêu ý kiến của Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, nghiên cứu các kiến nghị.
Trả lời câu hỏi của Thanh Niên về vấn đề nêu trên tại họp báo thường kỳ quý 2 của Bộ Tài chính sáng 17.6, Phó cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn cho biết, việc bỏ thuế khoán, chuyển sang cơ chế hộ kinh doanh tự kê khai, tự xác định doanh thu để thực hiện nghĩa vụ thuế là nội dung được triển khai theo tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Chính phủ.
Điểm thay đổi lớn nhất hiện nay không nằm ở thuế suất mà ở phương thức quản lý. Trước đây, hộ kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống được miễn thuế, còn hiện nay ngưỡng doanh thu miễn thuế được nâng lên 1 tỉ đồng/năm.
Đối với nhóm hộ kinh doanh nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu, mức thuế suất cơ bản không thay đổi. Người nộp thuế sẽ tự xác định doanh thu theo tháng hoặc quý để kê khai.
"Trong quá trình triển khai, cơ quan thuế đã phối hợp với các nhà cung cấp giải pháp công nghệ để hỗ trợ tối đa hộ kinh doanh. Nhiều phần mềm quản lý bán hàng, hóa đơn điện tử, chữ ký số và các gói dịch vụ phù hợp với từng quy mô kinh doanh đã được cung cấp, trong đó có nhiều gói miễn phí trong giai đoạn đầu", ông Sơn nói.
Qua tổng kết bước đầu, khoảng 98% hộ kinh doanh thuộc diện kê khai đã thực hiện đúng và kịp thời. Cơ quan thuế thường xuyên theo dõi, hỗ trợ trực tiếp nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình chuyển đổi.
Lãnh đạo Cục Thuế đánh giá, việc áp dụng phương thức quản lý mới bước đầu mang lại nhiều tín hiệu tích cực, góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh. Việc kê khai doanh thu theo thực tế cũng giúp hạn chế tình trạng doanh thu thay đổi nhưng không được điều chỉnh kịp thời như trước đây, từ đó giảm nguy cơ thất thu thuế.
Thời gian tới, ngành thuế sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định tại nghị định, thông tư hướng dẫn và cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi hơn cho hộ kinh doanh.
Cơ quan thuế cũng sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ để mở rộng các công cụ hỗ trợ, giúp hộ kinh doanh dễ dàng thực hiện nghĩa vụ thuế.
"Khi có những đề xuất thực sự giúp tạo thuận lợi hơn cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, cơ quan thuế ghi nhận, sẽ tiếp tục nghiên cứu, tham mưu Bộ Tài chính và các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định", ông Mai Sơn khẳng định.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 22/5, dưới sự chỉ đạo của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), Tạp chí Tiếp thị & Gia đình đã tổ chức tọa đàm với chủ đề: "Truy xuất nguồn gốc – Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng".
Phát biểu khai mạc Tọa đàm, ông Trần Hữu Linh - Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, vấn đề truy xuất nguồn gốc hiện mang tính thời sự cao trong bối cảnh pháp luật ngày càng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về minh bạch nguồn gốc hàng hóa, cùng với sức ép hội nhập kinh tế trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả, hàng nhái cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải ứng dụng công nghệ vào hoạt động truy xuất nguồn gốc.
Ông cho biết xu hướng quản lý hiện nay cũng đang chuyển dần từ "hậu kiểm" sang "tiền kiểm", đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động minh bạch thông tin ngay từ đầu trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Đại diện Bộ Công Thương nhấn mạnh, truy xuất nguồn gốc là khái niệm được nhắc đến rất nhiều thời gian qua, tuy nhiên nếu không có cách hiểu và định nghĩa thống nhất thì rất dễ triển khai theo phong trào, không đạt đúng mục tiêu thực chất.
"Trước đây từng có giai đoạn nhiều doanh nghiệp chạy theo trào lưu làm tem chống hàng giả và cho rằng như vậy là đã chống được hàng giả. Với truy xuất nguồn gốc cũng cần nhìn nhận lại bản chất vấn đề để hiểu đúng và làm đúng", ông Linh nêu quan điểm.
Ông Hoàng Vững - Tổng biên tập Tạp chí Tiếp thị & Gia đình cho rằng, truy xuất nguồn gốc không phải là câu chuyện mới khi vấn đề này đã được nhắc đến và triển khai trong nhiều năm qua. Thực tế, nhiều doanh nghiệp hiện nay đã áp dụng các giải pháp truy xuất nguồn gốc từ vài năm trước, với hàng triệu sản phẩm được đưa ra thị trường.
"Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, truy xuất nguồn gốc đang trở thành một từ khóa đặc biệt nóng", ông Vững nhấn mạnh.
Theo ông, hiện có ít nhất hai thông tư đang được Bộ xem xét ban hành trong thời gian tới, gồm Thông tư quy định về truy xuất nguồn gốc và Thông tư ban hành danh mục hàng hóa có nguy cơ cao, nguy cơ trung bình. Đây là các văn bản nhằm cụ thể hóa việc triển khai Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007) và Nghị định số 37 quy định chi tiết một số điều, biện pháp tổ chức thực hiện luật.
Đáng chú ý, theo định hướng của các quy định mới, những mặt hàng thuộc nhóm rủi ro cao dự kiến sẽ bắt buộc thực hiện truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, Nhà nước cũng khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm, hàng hóa khác nhằm nâng cao tính minh bạch, bảo đảm chất lượng và tăng cường niềm tin của người tiêu dùng.
Từ câu chuyện chống hàng giả, bảo vệ thương hiệu đến nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng yêu cầu minh bạch của thị trường, nhiều doanh nghiệp cho rằng truy xuất nguồn gốc đang chuyển từ nhu cầu tự nguyện sang yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Quốc An - Phó Tổng Giám đốc Công ty Super Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cho biết doanh nghiệp đã triển khai hệ thống mã QR cho sản phẩm từ năm 2021. Với một thương hiệu có hơn 60 năm phát triển và mỗi năm cung ứng hàng triệu tấn phân bón ra thị trường, việc ứng dụng truy xuất nguồn gốc trước hết nhằm bảo vệ thương hiệu trước tình trạng hàng giả, hàng nhái.
"Động lực lớn nhất xuất phát từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp trong việc bảo vệ thương hiệu và kiểm soát hàng hóa. Là thương hiệu lớn, sản phẩm của chúng tôi bị làm giả rất nhiều", ông An nói.
Theo ông, truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý thị trường hiệu quả hơn mà còn hỗ trợ người tiêu dùng nhận diện sản phẩm chính hãng, qua đó bảo vệ quyền lợi của người nông dân và giữ gìn uy tín doanh nghiệp.
Ở lĩnh vực năng lượng, ông Trịnh Quốc Dân - đại diện Gas South cho biết doanh nghiệp bắt đầu triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc từ năm 2020 trong bối cảnh phải quản lý gần 4 triệu bình gas lưu thông trên thị trường từ Nghệ An đến Cà Mau. Ban đầu, việc triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu về sổ theo dõi điện tử theo quy định của pháp luật, nhưng sau đó đã trở thành công cụ quản trị quan trọng.
"Truy xuất nguồn gốc không chỉ để đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước mà còn là nhu cầu tự thân của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, giảm rủi ro và minh bạch hóa thị trường", ông Dân nhấn mạnh.
Nhờ số hóa dữ liệu toàn bộ vòng đời sản phẩm, doanh nghiệp có thể theo dõi chính xác từng bình gas đang ở đâu và trong tình trạng nào.
Trong khi đó, ông Phan Văn Tâm - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, cho rằng truy xuất nguồn gốc thực chất không phải khái niệm mới, song hiện nay là thời điểm chín muồi để triển khai rộng rãi nhờ sự phổ cập của điện thoại thông minh và các nền tảng số.
"Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững và bảo vệ thương hiệu thì bắt buộc phải triển khai truy xuất nguồn gốc", ông Tâm nhận định.
Dưới góc độ công nghệ, ông Phạm Văn Quân - Chủ tịch CTCP Công nghệ Checkee, lưu ý rằng truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là dán mã QR lên sản phẩm. Theo ông, phía sau mỗi mã truy xuất phải là một hệ thống dữ liệu được kết nối xuyên suốt từ sản xuất, vận chuyển đến phân phối.
"Lợi ích lớn nhất của truy xuất nguồn gốc là giúp bảo vệ doanh nghiệp trong bối cảnh hàng giả, hàng nhái và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phức tạp", ông Quân cho biết, đồng thời khẳng định công nghệ xác thực số đang trở thành công cụ quan trọng để bảo vệ thương hiệu và củng cố niềm tin của người tiêu dùng.
Bổ sung góc nhìn từ cơ quan quản lý, ông Trần Hữu Linh cho rằng sự phát triển của công nghệ đang tạo ra bước tiến đáng kể trong công tác xác thực hàng hóa và chống hàng giả. Nếu như trước đây thị trường chủ yếu sử dụng tem chống giả thì hiện nay các giải pháp như tem điện tử và mã QR đã mang lại hiệu quả cao hơn trong việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc sản phẩm.
Theo ông Linh, thực tế cho thấy các loại tem chống giả truyền thống vẫn có thể bị sao chép, làm giả với thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý lẫn người tiêu dùng trong quá trình nhận diện hàng thật, hàng giả. Trong khi đó, các công cụ truy xuất nguồn gốc ứng dụng công nghệ số cho phép lực lượng chức năng kiểm tra nhanh thông tin sản phẩm ngay tại hiện trường thông qua điện thoại thông minh.
"Chỉ cần quét mã là có thể tiếp cận ngay các dữ liệu về nguồn gốc, xuất xứ và quá trình lưu thông của hàng hóa, qua đó bước đầu nhận diện được những dấu hiệu bất thường của sản phẩm", ông Linh cho biết.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
ĐHĐCĐ LPBank: Dự lãi gần 15.000 tỷ đồng 2026, chi 9.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt

Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 của Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (HoSE: LPB) diễn ra sáng 28/4 tại Khách sạn Pullman Ninh Bình.
Theo ông Nguyễn Văn Ngọc - Trưởng ban Kiểm tra tư cách cổ đông, tính đến 9h đại hội ghi nhận có 119 cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền, đại diện 66,32% số cổ phần có quyền biểu quyết, đủ điều kiện tiến hành đại hội.
Một trong những nội dung đáng chú ý được trình tại đại hội là kế hoạch gia nhập Trung tâm tài chính quốc tế (VIFC).
Theo đó, HĐQT đề xuất thành lập một ngân hàng TNHH một thành viên do LPBank sở hữu 100% vốn điều lệ để hoạt động tại đây. Pháp nhân này dự kiến tập trung vào các mảng dịch vụ tài chính quốc tế, quản lý tài sản, tư vấn đầu tư và quản lý tài sản số. Nếu được thông qua, LPBank sẽ tham gia cùng một số ngân hàng khác trong việc mở pháp nhân tại VIFC.
Song song, ngân hàng trình phương án phân phối lợi nhuận năm 2025 với kế hoạch chi trả cổ tức bằng tiền mặt tỉ lệ 30%, tương ứng khoảng 9.000 tỷ đồng, trên cơ sở lợi nhuận trước thuế đạt hơn 14.268 tỷ đồng.
Về kế hoạch kinh doanh, LPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 14.982 tỷ đồng, tăng khoảng 5% so với năm trước. Tổng tài sản dự kiến đạt 615.600 tỷ đồng, trong khi dư nợ tín dụng thị trường một ước tăng 11,7% lên 437.581 tỷ đồng.
Kết quả kinh doanh quý I/2026 cho thấy ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế 2.826 tỷ đồng. Thu nhập lãi thuần đạt 3.878 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ. Một số nguồn thu ngoài lãi tăng mạnh như kinh doanh ngoại hối đạt 397 tỷ đồng, tăng 252%, và hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư đạt gần 76 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng đáng kể, lên 774 tỷ đồng, gấp khoảng 4 lần cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối quý I, tổng tài sản của ngân hàng đạt 580.859 tỷ đồng, giảm 4% so với đầu năm; tiền gửi khách hàng đạt 345.760 tỷ đồng, tăng hơn 2%; dư nợ cho vay đạt 403.026 tỷ đồng, tăng gần 3%.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

