44 năm trước, ông Nguyễn Lợi (năm nay 72 tuổi, ở đặc khu Lý Sơn, Quảng Ngãi) vay tiền đóng tàu ra Hoàng Sa hành nghề lưới chuồn khơi. Cùng chí hướng với ông có 2 ngư dân ở gần nhà. 7 giờ rưỡi sáng một ngày giữa tháng 2 âm lịch năm đó, cả 3 tàu nổ máy rẽ sóng vươn khơi.
26 giờ sau, họ đến đảo Tri Tôn như dự định ban đầu. 3 tàu tách ra khoảng cách khá xa rồi buông lưới giữa biển khơi lộng gió. Giàn lưới dài chừng 18 cây số giăng tầng nổi vì cá chuồn bơi lượn gần mặt nước.
Bạn chài ăn vội bữa cơm rồi cùng nhau kéo lưới giữa trưa nắng chói chang. Cá mắc lưới nhiều vô kể. Tiếng cười nói rộn ràng làm vơi mỏi mệt. Họ giũ lưới, đưa cá vào muối mặn đến khi bóng đêm bao trùm trên biển rộng. Ánh đèn măng sông chiếu xuống nước lấp lóa.
“Lúc đó, biển Hoàng Sa cá nhiều lắm. Cả 3 tàu đều trúng cá. Vài năm sau chúng tôi trả hết nợ vay để đóng tàu trước đó”, ông Lợi nhớ lại.
Cùng ra Hoàng Sa đánh bắt cá chuồn ngày đó có ông Dương Minh Thạnh (năm nay 72 tuổi, ở đặc khu Lý Sơn). Những mẻ lưới dính đầy cá khiến bạn chài vô cùng vui sướng. Cá rời khỏi lưới là đưa vào hầm muối mặn bằng muối Sa Huỳnh.
Sau vài ngày buông lưới rồi kéo lưới, khoang đầy ắp cá, tàu quay mũi vào bờ. Đến cửa biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi), bạn chài chuyển cá lên bờ bán cho cơ sở thu mua của Nhà nước. Từ đó, cá chuồn muối được chuyển đến những làng quê và lên vùng núi xa xôi.
“Hồi đó bán cá xong là chúng tôi mua sắm những thứ cần thiết rồi ra biển đánh bắt. Cá nhiều nên mọi người phấn khởi, ráng sức làm việc để kiếm tiền lo cho gia đình”, ông Thạnh tâm sự.
Ông Đinh Văn Rít (67 tuổi, người Ca Dong, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Sơn Liên, nay thuộc xã Sơn Tây Thượng, tỉnh Quảng Ngãi) khá tường tận những câu chuyện của bản làng.
Thuở trước, người Ca Dong cuốc bộ hàng chục cây số đường rừng và lội qua sông, suối xuống huyện Sơn Hà (tỉnh Quảng Ngãi cũ để) trao đổi hàng hóa. Trong chiếc gùi sau lưng họ nặng trĩu sản vật miền rừng sau bao ngày làm lụng vất vả. Hàng hóa mang về gồm những vật dụng thiết yếu và cá muối, bởi từ biển lên Sơn Hà cả trăm cây số đường gập ghềnh nên không thể vận chuyển cá tươi. Thứ họ ưa thích là cá chuồn muối mặn chế biến những món ăn đậm đà hương vị, nhất là nấu với mít non.
“Bà con trên này nấu cá chuồn muối với mít non từ lâu lắm rồi. Bây giờ có đường dành cho ô tô chở cá tươi lên đến đây, nhưng bà con vẫn thích nấu cá chuồn muối với mít non”, ông Rít nói.
Mít non bám quanh thân cây cạnh nhà sàn hay trên nương rẫy lưng chừng núi. Người Ca Dong chặt cuống rồi gọt vỏ, bửa ra và cắt bỏ cùi bên trong, sau đó cắt thành thỏi nhỏ rồi rửa sạch, vớt ra rổ cho ráo nước.
Dạo quanh vườn nhà, họ ngắt vài quả ớt cùng ít rau ngò gai tươi tốt bên khe nước rồi rửa sạch. Cá chuồn muối cắt thành khúc ngắn, cho vào nồi nước sôi trên bếp lửa bập bùng. Lát sau, cho mít non vào nồi, hương thơm từ cá muối theo hơi nóng vờn quanh.
Khi mít đã nấu chín thì nêm gia vị vừa ăn, xắt ớt cùng ngò gai cho vào nồi rồi nhấc xuống khỏi bếp…
“Món cá chuồn muối nấu với mít non rất thơm ngon, ăn là ghiền luôn! Cá chuồn muối còn được đồng bào Ca Dong nướng rồi gỡ lấy thịt cho vào cối giã với sả và ớt xiêm, vắt ít nước chanh, trộn đều ăn với cơm cũng ngon lắm!”, ông Đồng Việt Hòa (51 tuổi, công tác tại UBND xã Sơn Tây Thượng) bộc bạch.
Khoảng 18h, khu bếp của quán hải sản rộng chừng 200 m2 trên đường Xóm Cồn bất ngờ bốc cháy. Một người có mặt tại quán cho biết anh đang ngồi ăn thì nghe tiếng nổ lớn phát ra từ phía bếp, sau đó khói và lửa bốc lên.
"Mọi người hô hoán nhau chạy ra ngoài, nhân viên cũng vội kéo bàn ghế, giấy tờ ra khỏi quán", người này nói.
Lửa liên tục bùng lên từng ngọn lớn, kéo dài từ tầng một lên tầng 2 khiến nhiều người phía ngoài hốt hoảng. Chỉ sau khoảng 5 phút, lửa lan rộng toàn bộ khu bếp, khói bốc cao.
Cảnh sát PCCC và Cứu nạn cứu hộ, Công an tỉnh Khánh Hòa điều nhiều xe chuyên dụng cùng hàng chục chiến sĩ đến hiện trường. Lính cứu hỏa chia nhiều mũi, kéo vòi rồng tiếp cận từ các hướng để khống chế đám cháy.
Đến 18h45, hỏa hoạn được dập tắt. Nhiều tài sản gần khu vực bếp bị thiêu rụi, không ghi nhận thương vong.
Theo chủ quán, thời điểm xảy ra cháy chưa phải lúc đông khách. "Có thể hệ thống gas tại bếp ga gặp sự cố, khiến lửa bùng phát mạnh", ông nói.
Dự án metro số 3, đoạn Nhổn - ga Hà Nội dài 12,5 km, có tổng mức đầu tư hơn 34.800 tỉ đồng.
Tuyến metro này có 8 ga trên cao và 4 ga ngầm; trong đó, đoạn trên cao Nhổn - Cầu Giấy dài 8,5 km đã khai thác thương mại hồi tháng 7.2024, đoạn đi ngầm Cầu Giấy - ga Hà Nội dài 4 km đang trong giai đoạn hoàn thiện.
Để thi công đoạn hầm ngầm này, Ban Quản lý đường sắt đô thị Hà Nội (MRB - chủ đầu tư) đã huy động 2 chiếc máy TBM (Tunnel Boring Machine) có chiều dài hơn 100 m, nặng khoảng 750 tấn. Sau hơn 14 tháng thi công, máy TBM2 đã hoàn thành khoan đoạn hầm ngầm từ tháng 4 vừa qua.
Trước đó, máy TBM1 đã hoàn thành thi công vào tháng 12.2025. Hiện, MRB phối hợp với các chuyên gia trong nước và quốc tế giám sát chặt chẽ quá trình tháo dỡ máy khoan hầm TBM.
Trao đổi về phương xử lý "robot" đào hầm, đại diện MRB cho biết, theo thông lệ và quy định của hợp đồng, TBM là thiết bị thi công thuộc sở hữu và trách nhiệm của nhà thầu.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, việc tháo dỡ, di chuyển ra khỏi công trường và các phương án tiếp theo như tái sử dụng, chuyển nhượng, thanh lý hoặc tái chế thiết bị sẽ do nhà thầu chủ động đánh giá, quyết định.
Theo MRB, 2 máy TBM1 và TBM2 được đầu tư riêng cho công tác thi công đoạn hầm metro Nhổn - ga Hà Nội, trên cơ sở các yêu cầu kỹ thuật, điều kiện địa chất và thiết kế cụ thể của dự án. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc 2 máy này sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở metro số 3 sẽ không thể sử dụng cho các dự án khác.
"Việc tái sử dụng máy TBM là có thể, với điều kiện thiết bị này phải được kiểm tra, đánh giá tổng thể. Nếu cần thiết sẽ thực hiện cải hoán để đáp ứng kỹ thuật, chất lượng, an toàn và độ tin cậy trong dự án mới", đại diện MRB nhấn mạnh.
MRB cho biết thêm, việc tái sử dụng 2 "robot" phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, có thể kể đến mức độ hao mòn và tuổi thọ của thiết bị sau quá trình thi công, đặc biệt là đầu cắt và các hệ thống cơ điện chính; sự phù hợp giữa điều kiện địa chất - thủy văn của các dự án.
Cạnh đó là các yếu tố về yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn kiểm soát lún, biến dạng của từng tuyến; cũng như hiệu quả kinh tế tổng thể giữa phương án cải tạo, vận chuyển, lắp dựng lại so với đầu tư thiết bị mới.
Theo thông lệ triển khai các dự án, TBM là thiết bị do nhà thầu quản lý và đề xuất phương án sử dụng. Trên cơ sở đánh giá kỹ thuật và kinh tế cụ thể, nhà thầu sẽ xem xét khả năng tiếp tục sử dụng hoặc đầu tư mới. Riêng chủ đầu tư sẽ xem xét, đánh giá và chỉ chấp thuận khi phương án đề xuất đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của dự án cũng như các điều kiện hợp đồng liên quan.
"Do đó, không thể khẳng định một cách tuyệt đối về việc TBM1 và TBM2 có được tái sử dụng hay không", đại diện MRB cho hay.
Khoảng 17h ngày 11/5, lực lượng tìm kiếm xã Bắc Quang tìm thấy ông Phàn Tràn Tá, trú thôn Việt Tân 2, tại khu vực rừng cách nơi mất liên lạc khoảng 10 km.
Theo chính quyền địa phương, vị trí phát hiện ông Tá nằm ở cánh rừng thuộc một thôn khác, ngoài phạm vi tìm kiếm ban đầu. Khi được tìm thấy, ông còn tỉnh táo nhưng sức khỏe suy kiệt sau nhiều ngày mắc kẹt trong rừng. Lực lượng cứu hộ đã cho ông ăn bánh, uống sữa trước khi đưa xuống núi.
Ông Tá cho biết hôm 8/5, trong lúc vào rừng tìm cây thuốc nam, con chó đi cùng bị lạc nên ông đi tìm rồi mất phương hướng.
Trước đó khoảng 7h ngày 8/5, ông vào khu vực tiểu khu 285 thuộc rừng phòng hộ ở các thôn Việt Tân 2 và Thượng Mỹ rồi mất liên lạc với gia đình.
Sau khi nhận tin báo, UBND xã Bắc Quang thành lập tổ chỉ huy tìm kiếm cứu hộ tại hiện trường, huy động khoảng 300 người gồm công an, cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, quân sự, dân quân tự vệ cùng người dân địa phương tham gia tìm kiếm.
Khu vực rừng phòng hộ nơi ông Tá mất tích có địa hình đồi núi dốc, nhiều khe suối, thảm thực vật dày và nhiều đường mòn nhỏ khiến công tác tìm kiếm gặp nhiều khó khăn.