Sáng nay (14.4), Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm của VND với USD ở mức 25.106 đồng như hôm qua. Điều này đã giữ giá USD tại các ngân hàng thương mại không thay đổi chiều bán ra. Cụ thể, Ngân hàng Vietcombank tăng 10 đồng khi mua chuyển khoản lên 26.141 đồng nhưng giữ nguyên chiều bán ra 26.361 đồng; Ngân hàng ACB cũng tăng 10 đồng ở chiều mua chuyển khoản, lên 26.160 đồng và bán ra đứng yên 26.361 đồng…
Trong khi đó, một số ngoại tệ khác diễn biến trái chiều USD. Chẳng hạn, giá euro tại Vietcombank tăng 236 đồng khi mua chuyển khoản lên 30.506 đồng, bán ra 31.793 đồng; bảng Anh tăng 328 đồng khi mua chuyển khoản 35.029 đồng, bán ra lên 36.150 đồng; yen Nhật cũng tăng 0,67 đồng khi mua chuyển khoản lên 161,34 đồng và bán ra 169,87 đồng…
Giá USD thế giới quay đầu giảm. Chỉ số USD-Index xuống 98,36 điểm, thấp hơn hôm qua 0,66 điểm. Sự đổ vỡ của các cuộc đàm phán tại Islamabad giữa Mỹ và Iran làm dấy lên lo ngại rằng cuộc chiến Iran sẽ kéo dài hơn dự kiến, dẫn đến giá dầu cao hơn và tiếp tục gây áp lực lên các nền kinh tế toàn cầu. Thế nhưng sau đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết: “Phía bên kia đã liên hệ với chúng tôi”. Tuyên bố của Tổng thống Mỹ đưa ra sau khi ông công bố phong tỏa eo biển Hormuz, trong bối cảnh các cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran vào cuối tuần kết thúc mà không đạt được thỏa thuận. Lệnh phong tỏa toàn bộ hoạt động hàng hải ra vào các cảng của Iran có hiệu lực từ ngày 13.4. Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ cho biết Mỹ sẽ không chặn các tàu sử dụng eo biển để đi đến các cảng không thuộc Iran. Những điều đó đã làm đồng bạc xanh giao dịch hạn chế hơn…
Ngược lại với đồng USD, thị trường chứng khoán Mỹ tăng cao. Đóng cửa phiên giao dịch ngày 13.4 (rạng sáng 14.4 giờ Việt Nam), chỉ số S&P 500 tăng 1,02% lên 6.886,24; Nasdaq Composite tăng 1,23% lên 23.183,74 và Dow Jones tăng 301,68 điểm lên 48.218,25…
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Cả nước có gần 30.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường trong tháng 4/2026

Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng nay (3/5), trong tháng 4, cả nước có gần 20.400 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 246.800 tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 91.000 lao động, giảm 7,1% về số doanh nghiệp, tăng 9,7% về vốn đăng ký và giảm 7,5% về số lao động so với tháng 3.
So với cùng kỳ năm trước, tăng 33,9% về số doanh nghiệp, tăng 84,6% về số vốn đăng ký và giảm 28,7% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 4 đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 18,1% so với tháng trước và tăng 37,9% so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 9.500 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 19,8% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng 4, có 8.863 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 75,2% so với tháng trước và tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2025; 5.388 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,5% và giảm 40,1%; có 3.473 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 9% và tăng 98,5%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 785.400 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 356.900 lao động, tăng 50,7% về số doanh nghiệp, tăng 60,1% về vốn đăng ký và tăng 0,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong bốn tháng năm 2026 đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng năm 2026 là gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh đó, 4 tháng qua, cả nước có 41.600 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 4 tháng năm 2026 lên hơn 119.400 doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 29.900 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, 4 tháng đầu năm 2026, có 827 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm trước; 18.900 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 56,6%; gần 58.100 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 48,7%.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Điều đáng chú ý là định giá của HSBC được xây dựng trên kịch bản tương đối thận trọng về giá vonfram, trong khi diễn biến thực tế của thị trường đang cao hơn đáng kể. Điều này đặt ra câu hỏi: liệu thị trường đã phản ánh đầy đủ tiềm năng tăng trưởng mới của MSR?
Không phải mọi mức định giá thấp đều là cơ hội. Nhưng khi một doanh nghiệp đã bắt đầu ghi nhận lợi nhuận kỷ lục, vận hành cải thiện rõ rệt và hưởng lợi từ chu kỳ ngành thuận lợi, việc thị trường chưa phản ánh đầy đủ các yếu tố này có thể tạo ra một khoảng chênh đáng chú ý. Masan High-Tech Materials hiện đang nằm trong trường hợp đó.
Dù đã ghi nhận bước ngoặt lợi nhuận và bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, MSR vẫn đang được thị trường định giá thấp hơn đáng kể so với nhiều doanh nghiệp cùng ngành quốc tế.
Theo mô hình định giá của HSBC, MSR được định giá khoảng 54,8 nghìn tỉ đồng (~ 2 tỉ USD). Trong khi đó, tại mức giá hiện tại, vốn hóa thị trường của doanh nghiệp chỉ quanh 45 nghìn tỉ đồng, tương đương khoảng 1,7 tỉ USD. Điều này đồng nghĩa MSR vẫn còn khoảng chênh lệch đáng kể so với định giá mà một tổ chức tài chính quốc tế đưa ra.
Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan ngành, khoảng cách này vẫn còn khá lớn. Hiện nhiều doanh nghiệp vật liệu công nghệ cao và đất hiếm trên thế giới đang được thị trường định giá cao hơn đáng kể.
Ở góc độ hoạt động, MSR không phải là doanh nghiệp quy mô nhỏ. Doanh thu 12 tháng gần nhất đạt khoảng 282 triệu USD, tiệm cận nhóm dẫn đầu.
Đáng chú ý, bước sang năm 2026, MSR đã ghi nhận bước ngoặt rõ nét về lợi nhuận. Quý 1/2026, doanh nghiệp đạt doanh thu gần 3.000 tỉ đồng, tăng 114,9% so với cùng kỳ và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 537 tỉ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay, đảo chiều mạnh so với cùng kỳ năm trước. Biên EBITDA mở rộng lên 35,1%, phản ánh sự cải thiện đồng thời về giá hàng hóa và hiệu quả vận hành.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp cùng ngành vẫn chưa tạo ra lợi nhuận ổn định nhưng lại đang giao dịch ở mức định giá cao hơn đáng kể nhờ kỳ vọng tăng trưởng dài hạn liên quan đến vật liệu chiến lược, AI và chuỗi cung ứng ngoài Trung Quốc.
Khoảng cách này không chỉ đến từ yếu tố nội tại, mà còn từ cấu trúc thị trường vốn. MSR hiện vẫn niêm yết trên UPCoM, nền tảng hạn chế khả năng tiếp cận của nhiều dòng vốn tổ chức. Lộ trình chuyển niêm yết sang HOSE, cùng với quá trình giảm đòn bẩy tài chính và cải thiện minh bạch, có thể là những yếu tố giúp thu hẹp khoảng cách định giá theo thời gian.
Trước khi bước vào chu kỳ giá thuận lợi, MSR đã có sự cải thiện rõ rệt về hiệu quả vận hành. Năm 2025, trong bối cảnh giá APT bình quân ở mức thấp, doanh nghiệp vẫn ghi nhận EBITDA đạt hơn 2.100 tỉ đồng, tăng hơn 40% so với cùng kỳ, và dòng tiền tự do chuyển sang dương.
Sự cải thiện này đến từ các yếu tố nội tại như nâng cao tỷ lệ thu hồi khoáng sản và tối ưu chi phí. Trong ngành khai khoáng, nơi chi phí mang tính cố định cao, những cải thiện về hiệu suất có thể chuyển hóa trực tiếp thành biên lợi nhuận.
Điểm quan trọng là các thay đổi này diễn ra trước khi giá vonfram tăng mạnh, cho thấy nền tảng vận hành đã được cải thiện độc lập với chu kỳ giá và tạo tiền đề cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.
Song song với cải thiện nội tại, thị trường vonfram toàn cầu đang có những thay đổi mang tính cấu trúc. Trung Quốc, nguồn cung lớn nhất thế giới, đang chuyển từ vai trò xuất khẩu sang ưu tiên tiêu dùng nội địa và kiểm soát tài nguyên chiến lược. Điều này làm giảm nguồn cung ra thị trường quốc tế, trong khi nhu cầu từ bán dẫn, AI, quốc phòng và công nghiệp công nghệ cao tiếp tục tăng.
Nhờ đó, các nhà cung cấp ngoài Trung Quốc trở nên quan trọng hơn. Với mỏ Núi Pháo và chuỗi giá trị tích hợp từ khai thác đến chế biến, MSR là một trong số ít doanh nghiệp có khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định ngoài Trung Quốc. Lợi thế này mang tính dài hạn, đặc biệt khi thế giới ngày càng chú trọng an ninh chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược.
Triển vọng năm 2026 cho thấy tăng trưởng của MSR không chỉ đến từ giá hàng hóa. Công suất xử lý dự kiến phục hồi từ quý 2 và tăng mạnh hơn từ quý 3/2026 sau khi điều chỉnh giấy phép khai thác, qua đó sản lượng cả năm được kỳ vọng vượt mức năm 2025.
Theo kế hoạch công bố tại Đại hội đồng cổ đông 2026, MSR xây dựng kịch bản năm dựa trên giả định giá APT khá thận trọng, chỉ khoảng 1.164 - 1.246 USD/mtu. Tuy nhiên, thực tế giá APT ngoài Trung Quốc đầu tháng 5 dao động trong khoảng 3.000 USD/mtu. Với giả định thận trọng đó, doanh nghiệp vẫn đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất từ 16.000 - 20.300 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số từ 1.700 - 2.500 tỉ đồng trong năm 2026.
Đáng chú ý, theo kế hoạch của Ban lãnh đạo, nếu duy trì được mặt bằng giá APT trên khoảng 1.500 USD/mtu, MSR có thể giảm tỷ lệ Nợ ròng/EBITDA từ khoảng 3,5 lần xuống còn 1,7 lần trong năm 2026, và 0,1 lần vào cuối năm 2027. Điều này không chỉ giúp giảm áp lực lãi vay mà còn mở ra khả năng cải thiện mạnh dòng tiền tự do và khả năng chi trả cổ tức trong dài hạn.
Ở cấp độ Tập đoàn, MSR cũng được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng hỗ trợ quá trình giảm đòn bẩy tài chính của Masan, khi dòng tiền hoạt động ngày càng cải thiện.
Câu chuyện của MSR đang dần chuyển dịch từ một doanh nghiệp phụ thuộc vào chu kỳ hàng hóa sang một nền tảng vật liệu công nghệ cao với hiệu quả vận hành cải thiện, cấu trúc tài chính lành mạnh hơn và vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Khi các yếu tố về lợi nhuận, dòng tiền, đòn bẩy và thị trường vốn dần rõ ràng hơn, mức định giá của MSR có thể được điều chỉnh để phản ánh đầy đủ hơn nền tảng kinh doanh và triển vọng dài hạn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ngân hàng liên tục biến động và chưa ổn định, thị trường bất động sản bước vào giai đoạn trầm lắng rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp thừa nhận đây là thời điểm "khó bán hàng nhất trong nhiều năm" khi cả cung và cầu đều chịu áp lực từ chi phí vốn gia tăng.
Thực tế cho thấy, việc tiếp cận tín dụng để phát triển dự án hiện không hề dễ dàng. Trao đổi với phóng viên, ông Võ Quốc Đức – Giám đốc Ban Tài chính Kế toán Công ty CP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc Nova (Novaland) cho biết lãi suất cho vay từ đầu năm 2026 tăng mạnh, phổ biến ở mức 20–30% thậm chí cao hơn ở một số lĩnh vực. Diễn biến này tác động trực tiếp đến toàn thị trường bất động sản.
Theo ông Đức, lãi vay tăng khiến chi phí tài chính đội lên, bào mòn lợi nhuận doanh nghiệp. Đáng chú ý nhiều dự án đã ký hợp đồng tín dụng từ năm 2025 với thời gian triển khai kéo dài 5–6 năm và giai đoạn giải ngân dự kiến 2–3 năm nhưng sang năm 2026 lại bị ngân hàng giải ngân cầm chừng, chỉ đạt khoảng 10–20% hoặc chưa được bố trí hạn mức tín dụng".
Trong khi đó, tiến độ bán hàng và kế hoạch bàn giao nhà đã được xác định từ trước. Việc siết room tín dụng vào thời điểm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xây dựng, thanh toán cho nhà thầu và buộc doanh nghiệp phải đàm phán lại với các bên liên quan. Hệ quả là kế hoạch nhận nhà, bàn giao nhà của khách hàng cũng bị điều chỉnh.
Ở phía người mua, áp lực tài chính ngày càng rõ nét. Nhiều khách hàng đã ký hợp đồng và thanh toán theo tiến độ xây dựng dựa trên mặt bằng lãi suất trước năm 2025. Tuy nhiên, khi lãi vay tăng cao khả năng tiếp cận vốn bị thu hẹp, thậm chí mất kênh vay khiến năng lực chi trả suy giảm.
"Chỉ cần một biến động nhỏ về lãi suất cũng có thể khiến một dự án từng được đánh giá khả thi trở nên rủi ro.
Khi người mua không đủ khả năng tiếp tục thanh toán nếu chủ đầu tư không đủ tiềm lực tài chính sẽ dễ rơi vào nợ xấu. Việc siết room tín dụng không chỉ ảnh hưởng riêng lẻ mà còn tạo hiệu ứng dây chuyền lên toàn thị trường", ông Đức nhấn mạnh.
Khó khăn càng chồng chất đối với các dự án mới. Dù đã được đánh giá khả thi và làm việc sơ bộ với ngân hàng, nhiều dự án vẫn khó tiếp cận hạn mức tín dụng trong năm nay.
"Ngay cả các dự án đã được cấp room cũng chưa thể giải ngân theo kế hoạch, trong khi những dự án đang chuẩn bị triển khai chỉ được giải ngân một phần nhỏ so với cam kết ban đầu. Tình hình này ảnh hưởng nhiều đến các dự án đã và sắp triển khai của doanh nghiệp", ông Đức nói.
Đại diện Novaland cho rằng, đối với doanh nghiệp bất động sản, thị trường tài chính và hạn mức tín dụng đóng vai trò then chốt. Việc siết room đột ngột không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn tác động đến các dự án nhà ở, đặc biệt là phân khúc đáp ứng nhu cầu thực của người dân.
Từ thực tế đó, doanh nghiệp kiến nghị các ngân hàng xem xét điều chỉnh mặt bằng lãi suất theo hướng giảm dần để hỗ trợ người mua nhà. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế điều hành room tín dụng linh hoạt hơn.
Nếu trước đây hạn mức tín dụng được phân bổ theo năm thì việc chuyển sang phân bổ theo quý với thời gian ngắn đang khiến cả ngân hàng, doanh nghiệp và người mua nhà rơi vào thế bị động.
Không chỉ phân khúc nhà ở thương mại, nhà ở xã hội vốn được kỳ vọng là điểm sáng cũng đang gặp vướng mắc về vốn. Ông Lê Hữu Nghĩa – Giám đốc Công ty Lê Thành cho biết doanh nghiệp hiện có dự án quy mô khoảng 2.000 tỷ đồng đã hoàn thành phần móng nhưng buộc phải tạm dừng do không tiếp cận được vốn vay.
Theo ông Nghĩa, dù thuộc diện được hưởng gói tín dụng ưu đãi 145.000 tỷ đồng của Chính phủ, doanh nghiệp vẫn bị ngân hàng từ chối cho vay với lãi suất 6,1%/năm. Nguyên nhân là chi phí huy động vốn của ngân hàng đang ở mức cao nếu cho vay với lãi suất ưu đãi sẽ không đảm bảo hiệu quả tài chính.
Ngay cả khi doanh nghiệp đề nghị vay theo lãi suất thương mại, ngân hàng cũng không chấp thuận do lo ngại rủi ro pháp lý khi cho vay không đúng đối tượng. Điều này khiến doanh nghiệp rơi vào thế "tiến thoái lưỡng nan" khi dự án đã triển khai nhưng không thể tiếp tục.
Từ thực tiễn này có thể thấy ngay cả những phân khúc được ưu tiên về chính sách cũng chưa thể tiếp cận nguồn vốn một cách thuận lợi cho thấy những điểm nghẽn trong cơ chế triển khai vẫn chưa được tháo gỡ.
Ở góc độ chuyên gia, TS. Nguyễn Duy Phương – Giám đốc đầu tư tài chính DG Capital nhận định, điểm yếu cốt lõi của doanh nghiệp bất động sản vẫn là sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.
Trong khi đó, chu kỳ thắt chặt và nới lỏng tín dụng có xu hướng lặp lại sau mỗi 4–5 năm khiến thị trường luôn đối mặt với rủi ro mang tính chu kỳ.
Theo ông, áp lực hiện tại chưa đến mức khủng hoảng nhưng đã bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần tái cấu trúc nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hướng tới các kênh huy động dài hạn hơn.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là kênh trái phiếu doanh nghiệp, không chỉ cho lĩnh vực bất động sản mà cho toàn bộ nền kinh tế. Đa dạng hóa nguồn vốn được xem là giải pháp then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro và tạo nền tảng ổn định cho thị trường trong dài hạn.
Đồng quan điểm, TS. Đinh Thế Hiển cho rằng để phát triển bền vững doanh nghiệp bất động sản cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn sang các nguồn vốn trung và dài hạn.
Theo đó hoạt động đầu tư cần quay về đúng bản chất, dựa trên dòng vốn dài hạn, minh bạch và ổn định hơn. Chỉ khi tách bạch được vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng với nhu cầu đầu tư dài hạn, thị trường mới có thể thoát khỏi vòng xoáy "giải cứu" và vận hành theo giá trị thực.
Ở góc độ chính sách, các chuyên gia cho rằng cần có cách điều hành tín dụng linh hoạt hơn thay vì áp dụng cơ chế cứng nhắc. Việc định hướng dòng vốn vào các phân khúc đáp ứng nhu cầu thực như nhà ở, bất động sản công nghiệp hay logistics sẽ góp phần giúp thị trường phát triển cân bằng, hạn chế rủi ro lệch pha cung – cầu.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

