Với trẻ bị vẹo cột sống vô căn, trẻ không làm sai gì cả, nhưng vẫn phải chịu đựng sự lệch vai, lưng cong, có thể bị bạn bè trêu chọc, tự ti, hoặc hạn chế một số hoạt động. Đó chính là một dạng bất công mà nhiều trẻ phải đối mặt.
Chúng ta cần biết rõ nguyên nhân vẹo cột sống:
– Bẩm sinh: Mất nửa đốt sống, xẹp đốt sống.
– Mắc phải: U xơ thần kinh, di chứng bại liệt, di chứng lao cột sống, bệnh cơ – thần kinh…
– Vô căn: Chiếm tỉ lệ cao nhất từ 80-85%.
Một hình ảnh cho thấy cột sống bị cong vẹo
Trẻ bị vẹo cột sống (đặc biệt là vẹo cột sống vô căn) rất cần sự công bằng từ gia đình, nhà trường và xã hội.
Bệnh không phải do lỗi của trẻ (không phải vì ngồi sai tư thế hay lười vận động), mà chủ yếu là yếu tố di truyền và phát triển trong giai đoạn tăng trưởng.
Trẻ không “kém cỏi” hay “lười biếng”, chỉ là cơ thể đang gặp vấn đề cần được hỗ trợ kịp thời và bình đẳng như những đứa trẻ khác.
Tâm lý và tự ti:
Nhiều trẻ cảm thấy xấu hổ vì vai lệch, lưng gù, xương sườn nhô, dáng người không cân đối. Chúng dễ bị bạn bè trêu chọc, chế giễu hoặc bị loại khỏi các hoạt động thể thao, dẫn đến stress, trầm cảm, ngại giao tiếp.
Nếu không được đối xử công bằng, trẻ sẽ càng khép mình, ảnh hưởng đến việc học và phát triển nhân cách.
Hạn chế vận động và sinh hoạt:
Trẻ có thể đau mỏi lưng, khó thở khi cong nặng, hoặc bị hạn chế tham gia chạy nhảy, thể dục. Nếu trường học hoặc gia đình không thông cảm, ví dụ bắt buộc tham gia đầy đủ các môn thể thao như trẻ khỏe mạnh, trẻ sẽ cảm thấy bất công và mệt mỏi hơn.
Ảnh hưởng lâu dài:
Nếu không được hỗ trợ sớm, bệnh tiến triển nặng có thể gây biến dạng lồng ngực, ảnh hưởng đến tim phổi, chiều cao và chất lượng cuộc sống sau này. Nhiều trẻ ở Việt Nam đến bệnh viện khi đã vẹo 60-80 độ vì cha mẹ và trường học chưa chú ý đúng mức.
Từ gia đình:
Cần được tư vấn cách phát hiện sớm và điều trị kịp thời từ bác sĩ chuyên khoa. Hỗ trợ tâm lý: lắng nghe con, khích lệ con rằng “con không có lỗi”, bệnh có thể kiểm soát tốt nếu can thiệp sớm.
Tránh so sánh con với bạn bè hoặc trách móc con. Giúp con duy trì tư thế đúng, tập luyện đều đặn, ăn uống đủ dinh dưỡng (canxi, vitamin D) và theo dõi định kỳ.
Đồng hành cùng con trong quá trình đeo nẹp (có thể phải đeo 1623 giờ/ngày) – đây là giai đoạn trẻ rất cần sự động viên.
Từ nhà trường:
Giáo viên và bạn bè hiểu biết về bệnh, không trêu chọc, không ép buộc trẻ tham gia hoạt động gây khó khăn cho cột sống.
Cho phép trẻ ngồi bàn ghế phù hợp, nghỉ ngơi khi mỏi lưng, hoặc tham gia các hoạt động thay thế (bơi lội, yoga nhẹ nhàng rất tốt cho trẻ vẹo cột sống). Tổ chức sàng lọc vẹo cột sống định kỳ ở trường (nhiều nước làm vậy để phát hiện sớm).
Tiếp cận điều trị công bằng, bảo hiểm y tế chi trả một phần khám, nẹp, vật lý trị liệu và phẫu thuật. Hỗ trợ tâm lý và giáo dục sức khỏe cộng đồng để giảm kỳ thị với trẻ khuyết tật hình thể.
Các chương trình khám sàng lọc miễn phí hoặc hỗ trợ chi phí cho trẻ em khó khăn, đôi khi có từ bệnh viện hoặc tổ chức từ thiện. Theo dõi góc Cobb, đeo nẹp nếu cần, tập vật lý trị liệu theo phương pháp Schroth hoặc bài tập chuyên biệt.
Bệnh nhân Đ.T.N. (52 tuổi, quê Bắc Ninh) vốn có sức khỏe ổn định. Gần đây bà N. có triệu chứng đau đầu, chóng mặt và đau vai gáy nên đã đến phòng khám tư để tiêm thuốc hỗ trợ (1 mũi/ngày, kéo dài 5-6 ngày).
Sau khi dừng tiêm 2 ngày, bệnh nhân bắt đầu sốt, mệt mỏi và xuất hiện vùng sưng tấy tại vị trí tiêm ở mu bàn tay trái. Chỉ trong vòng 24 giờ, tổn thương tiến triển cực nhanh thành các bọng nước hoại tử màu đen kích thước 5x6cm. Bệnh nhân mệt lả, sốt cao liên tục và được chuyển tuyến cấp cứu trong tình trạng suy đa cơ quan.
Tại thời điểm nhập khoa cấp cứu Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương (Hà Nội), bệnh nhân mệt nhiều, đang phải duy trì thuốc vận mạch liều tương đối cao, khoảng 0,7 mcg/kg/phút, cho thấy tình trạng sốc vẫn còn nặng. Tại mu bàn tay trái có tổn thương phỏng nước hoại tử màu đen kích thước khoảng 5x6cm, xung quanh sưng nề, viêm tấy và đau nhiều.
Chỉ trong vòng 48 giờ, tình trạng viêm tấy từ vùng hoại tử đã lan tỏa nhanh chóng, phù nề toàn bộ bàn tay và lan lên đến cẳng tay. Đây là dấu hiệu của nhiễm trùng tiến triển nhanh, có nguy cơ lan rộng nếu không được kiểm soát kịp thời.
Các xét nghiệm cho thấy bệnh nhân đã rơi vào tình trạng suy đa cơ quan gồm phổi, gan, thận và tim mạch.
Bác sĩ Nguyễn Đức Minh, khoa cấp cứu, cho biết kết quả xét nghiệm vi sinh đã xác định thủ phạm là vi khuẩn Serratia marcescens. Đây là loại vi khuẩn Gram âm cơ hội, thường tồn tại trong môi trường (nước, đất) và có khả năng gây nhiễm trùng huyết, viêm mô tế bào rất nặng nếu xâm nhập được vào máu.
Sau 2 ngày hồi sức tích cực bằng kháng sinh phổ rộng, bù dịch và thuốc vận mạch, bệnh nhân đã có dấu hiệu đáp ứng bước đầu, liều thuốc vận mạch đang được giảm dần.
Phân tích về nguồn lây, bác sĩ Minh nhận định mặc dù triệu chứng xuất hiện tại vị trí tiêm nhưng không có đủ cơ sở để quy kết trực tiếp do mũi tiêm. Thực tế, vị trí tiêm tạo ra một tổn thương da nhỏ - một "cánh cửa" mở cho vi khuẩn. Nếu trong quá trình sinh hoạt, vùng da này tiếp xúc với nước bẩn, bụi bẩn hoặc thực phẩm sống, vi khuẩn Serratia marcescens có thể xâm nhập và gây bệnh.
Khác với các nhiễm khuẩn thông thường do tụ cầu thường gây mưng mủ khu trú, các vi khuẩn Gram âm từ môi trường như Serratia marcescens thường gây hoại tử da, tiến triển rất nhanh và sớm dẫn đến sốc.
Với những trường hợp tổn thương hoại tử lan rộng như trên, việc điều trị không chỉ dừng lại ở hồi sức và kháng sinh mà cần phối hợp can thiệp ngoại khoa. Người bệnh có thể phải cắt lọc mô hoại tử nhiều lần nhằm kiểm soát nhiễm trùng, ngăn viêm tấy lan tỏa và bảo tồn tối đa chức năng bàn tay.
Để tránh những biến chứng đe dọa tính mạng, bác sĩ Minh khuyến cáo, khi thực hiện các thủ thuật như tiêm, truyền, cần đảm bảo vô khuẩn trong quá trình thực hiện và đặc biệt là chăm sóc vị trí tiêm sau khi về nhà.
Người dân cần giữ vùng da này sạch, khô, tránh tiếp xúc với nguồn nước không sạch hoặc đất cát cho đến khi vết kim khép miệng hoàn toàn. Nếu thấy vết tiêm sưng, đau, đổi màu da hoặc kèm theo sốt hoặc mệt mỏi, cần đến cơ sở y tế ngay để được thăm khám và xử trí kịp thời.
Chiều 18-4, thông tin ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa Diễn Châu, Nghệ An cho biết bệnh viện này đang tiếp nhận, điều trị cho hơn 20 bệnh nhân có biểu hiện nghi ngộ độc thực phẩm sau khi ăn bánh mì mua tại một tiệm bánh trên địa bàn.
Theo thông tin ban đầu, từ sáng 17 đến sáng 18-4, các bệnh nhân nhập viện rải rác, sau đó tăng nhanh vào buổi tối. Hầu hết đều có triệu chứng như nôn ói, đau bụng, tiêu chảy, một số trường hợp sốt cao.
Bệnh nhân nhập viện từ 4 tuổi đến 85 tuổi, ngụ ở các xã cũ của huyện Diễn Châu như: Diễn Ngọc, Diễn Hoa, Diễn Thọ, Diễn Bích…
Theo bác sĩ Hoàng Thị Thanh Loan - Trưởng khoa truyền nhiễm Bệnh viện Đa khoa Diễn Châu, bệnh viện đang điều trị cho 25 bệnh nhân ngộ độc thực phẩm.
Trong số các bệnh nhân, có khoảng 20 người có ăn bánh mì tại tiệm bánh Q. ở xã Diễn Châu.
5 trường hợp còn lại có ăn các thực phẩm khác như bánh ngọt, xoài, dứa, ốc xào… nên chưa thể khẳng định nguyên nhân cụ thể.
Sức khỏe một số người đã ổn định nhưng vẫn cần tiếp tục giám sát do triệu chứng tiêu hóa còn nặng.
Cơ quan chức năng đã kiểm tra cơ sở kinh doanh nghi liên quan, đồng thời lấy mẫu thực phẩm và bệnh phẩm để xét nghiệm, xác định nguyên nhân.
Đau lưng dưới hay đau thắt lưng là tình trạng đau xuất hiện ở vùng từ dưới bờ xương sườn đến mông. Triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng, diễn ra trong thời gian ngắn (cấp tính), trung bình (bán cấp) hoặc kéo dài (mạn tính) và có thể ảnh hưởng đến bất kỳ ai. Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp gây đau lưng dưới.
Gãy xương thường xảy ra do té ngã, tai nạn, chấn thương hoặc vận động lặp đi lặp lại. Một số bệnh như tiêu xương hoặc nứt đốt sống (spondylolysis) làm tăng nguy cơ gãy xương.
Viêm khớp
Viêm khớp, đặc biệt do thoái hóa, thường gặp ở người trên 50 tuổi. Thoái hóa khớp là một nguyên nhân điển hình gây đau lưng dưới. Viêm khớp cột sống có thể gây hẹp ống sống, làm chèn ép tủy sống cũng là nguyên nhân gây ra cơn đau.
Vấn đề về đĩa đệm
Đĩa đệm đóng vai trò như lớp đệm giữa các đốt sống. Khi đĩa đệm bị rách (thoát vị) hoặc phồng lên, chúng có thể chèn ép dây thần kinh và gây đau lưng dưới dai dẳng.
Bệnh thận
Đôi khi đau lưng có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn, liên quan đến bệnh thận, chẳng hạn như sỏi thận. Đau lưng do bệnh thận, trái ngược với đau cơ hoặc khớp thông thường, thường nằm ở vùng đau sâu, âm ỉ, ở phần trên lưng ngay dưới khung xương sườn ở cả hai bên cột sống.
Một điểm khác biệt là loại đau lưng này thường không thay đổi theo tư thế, trong khi đau cơ xương khớp thường giảm hoặc trở nên khó chịu hơn khi thay đổi tư thế hoặc hoạt động thể chất.
Ung thư
Trong một số trường hợp ít gặp, đây có thể là dấu hiệu của ung thư. Các bệnh như ung thư bàng quang, ung thư cột sống hoặc ung thư phổi đều có thể gây đau lưng. Điều đáng lo ngại là khi cơn đau kéo dài, có xu hướng tăng dần hoặc đi kèm triệu chứng bất thường khác.
Đau lưng do ung thư thường xuất hiện muộn (như ung thư bàng quang) hoặc có thể là dấu hiệu sớm (như ung thư cột sống). Khi đau không rõ nguyên nhân hoặc ngày càng nặng, người bệnh cần đi khám để được chẩn đoán kịp thời.
Đau lưng có thể xảy ra ở mọi người, kể cả trẻ em, thanh thiếu niên và trở nên phổ biến hơn khi tuổi tác tăng lên. Các yếu tố nguy cơ bao gồm ít vận động, thừa cân, bệnh lý nền, nâng vật sai cách và các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu. Hút thuốc lá cũng có thể làm tình trạng đau lưng nặng hơn.
Để giảm đau lưng dưới, bạn có thể nghỉ ngơi hợp lý, tập các động tác yoga như tư thế em bé, kết hợp chườm nóng - lạnh. Ngoài ra, vật lý trị liệu, thuốc giảm đau, massage hoặc nắn chỉnh cột sống cũng có thể giúp cải thiện triệu chứng.
Bệnh có thể phòng ngừa và kiểm soát bằng cách tập thể dục thường xuyên, duy trì cân nặng hợp lý và giữ tư thế đúng. Nếu triệu chứng trở nên nghiêm trọng hoặc kéo dài, cần can thiệp y tế kịp thời vì trì hoãn điều trị có thể khiến tình trạng xấu đi.