Khi mới ra trường, tôi làm việc trong một công ty nhà nước. Tôi làm việc tích cực tới mức mới làm ba tháng nhưng đã được xét danh hiệu Lao động tiên tiến sáu tháng. Đã có lúc, tôi mong mình sẽ làm việc đến tuổi nghỉ hưu để đảm bảo cuộc sống về già.
Ngoài giờ làm ở công ty, tôi còn làm thêm công việc tay trái bên ngoài. Thành quả là tôi đã tự mua được nhà sau 10 năm đi làm mà không cần nhờ bất cứ sự giúp đỡ nào, không mang nợ. Đó cũng là thời điểm tôi quyết định rời khỏi công ty nhà nước, để ra làm thuê cho các công ty tư nhân với hy vọng cải thiện thu nhập.
7 năm sau, tôi mua được căn nhà thứ hai với giá trị gần 15 lần ngôi nhà đầu tiên và vẫn không phải vay mượn đồng nào. Khi tôi bước sang tuổi 40, cuộc sống vật chất đã dần ổn định. Tôi làm việc ở vị trí quản lý cấp trung, và bắt đầu đặt mục tiêu sẽ về hưu khi mỗi tháng hai vợ chồng có tổng thu nhập thụ động khoảng 20 triệu. Con số đó với chúng tôi và vừa đủ để duy trì cuộc sống tuổi già một cách thoải mái.
Khi tôi 60 tuổi, tính ra nếu nghỉ hưu, thu nhập mỗi tháng của tôi đã gấp nhiều lần mong muốn của mình trước đây. Nhưng tôi vẫn không thể nghỉ hoàn toàn vì người chủ muốn vẫn giữ tôi ở lại. Phải mãi tới khi gần chạm ngưỡng tuổi 70, tôi mới quyết định nghỉ hẳn, từ chối mọi lời mời. Tôi dự kiến làm thủ tục hoàn thuế thu nhập năm ngoái và chính thức chấm dứt sự nghiệp đi làm của mình tại đây.
>> Đắn đo bỏ việc lương 40 triệu để nghỉ hưu sớm ở tuổi 47
Nhưng rồi, một người quen lại tìm đến, ngỏ ý muốn tôi ngồi vào vị trí cố vấn cho công ty của họ. Với sự thuyết phục quá nhiệt tình, cuối cùng tôi lại nể nang và đặt bút ký vào hợp đồng làm việc bán thời gian, không ràng buộc về việc phải đến công ty, với mức thu nhập do tôi chủ động đề nghị (không dựa vào số giờ làm việc mà căn cứ vào số lần đến làm việc). Với hình thức này, tôi không quá bận rộn, không bị ràng buộc thời gian, mà vẫn có khoảng nghỉ ngơi đủ nhiều để đưa vợ đi du lịch theo kế hoạch. Tôi dự tính sẽ làm công việc này trong hai năm rồi nghỉ.
Thế nên, theo tôi, việc nghỉ hưu sớm hay làm quá tuổi về hưu không có lựa chọn nào là hoàn hảo tuyệt đối. Nó tùy thuộc vào sức khỏe, năng lực, điều kiện kinh tế và mong muốn của mỗi người. Với những người chọn nghỉ hưu sớm, nếu họ đã có sự chuẩn bị kinh tế vững chắc bằng cách sử dụng tài chính thông minh, có tích lũy tài sản để đảm bảo cuộc sống thì lựa chọn dừng lại cũng tốt, xem như tạo cơ hội cho lớp trẻ phấn đấu.
Nhưng nói vậy không có nghĩa là những người làm việc quá tuổi là sai lầm. Đôi khi, họ giống tôi, làm việc không phải vì mưu sinh mà là vì được yêu cầu, vì sự nể nang và vì họ vẫn rất có giá trị cho nhu cầu công việc. Họ không làm việc vì chưa ai có thể thay thế, nên đừng nghĩ họ chiếm mất cơ hội của lớp trẻ.
Giờ đây, khi xã hội phát triển, nhiều thành phần kinh tế mở ra, tùy vào khả năng của mình, mỗi người có thể tự quyết định cuộc sống của mình dễ dàng hơn. Tuy nhiên, để có được sự chủ động đó, không có con đường nào khác ngoài việc phải nỗ lực, tích lũy và chuẩn bị từ rất sớm.
Gần đây, thông tin về việc Hà Nội tiếp tục là địa phương có chi phí sinh hoạt đắt đỏ nhất cả nước trở thành chủ đề bàn tán xôn xao. Nhiều người than thở rằng với mức thu nhập trung bình, việc trụ lại Thủ đô là một cuộc chiến khốc liệt. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ một người đang trực tiếp "thắt lưng buộc bụng" giữa lòng Hà Nội, tôi tin rằng đắt hay rẻ, sống ổn hay không, phần lớn nằm ở sự tính toán và kỷ luật của chính mình.
Vợ chồng tôi có tổng thu nhập mỗi tháng là 40 triệu đồng - một con số không quá thấp ở mảnh đất này. Thế nhưng, trái với suy nghĩ của nhiều người, chúng tôi chọn lối sống tối giản đến mức tối đa. Tổng chi phí sinh hoạt mỗi tháng của hai vợ chồng chỉ rơi vào khoảng 12 triệu đồng, nghĩa là chúng tôi tiết kiệm được tới 28 triệu đồng mỗi tháng.
Mỗi tháng, tôi chỉ giới hạn chi tiêu trong đúng 3 triệu đồng cho việc đi chợ, tương đương không quá 100.000 đồng mỗi ngày cho hai người. Để làm được điều này, tôi từ bỏ thói quen đi siêu thị vì dễ bị cám dỗ bởi những mặt hàng giảm giá không cần thiết. Thay vào đó, tôi đi chợ đầu mối từ sớm hoặc ghé các sạp rau ven đường vào cuối buổi để mua được giá hời.
Nguyên tắc của tôi rất đơn giản: thịt, cá, rau chỉ mua vừa đủ dùng, tuyệt đối không tích trữ để tránh lãng phí. Tôi cũng luôn ưu tiên thực phẩm theo mùa vì chúng không chỉ tươi ngon mà còn rẻ nhất. Những bữa cơm nhà với đậu phụ, trứng, cá nhỏ kho hay rau muống luộc xuất hiện thường xuyên hơn là những món xa xỉ. Chúng tôi gần như nói "không" với việc đi cà phê hay ăn hàng quán bên ngoài trừ những dịp thực sự quan trọng (mỗi năm vài lần).
>> Tôi 'sợ' nghỉ hưu sớm dù có nhà, đất và 2,7 tỷ đồng tiết kiệm
Bên cạnh tiền ăn, các khoản chi khác cũng được tôi chia nhỏ và kiểm soát chặt chẽ. Chúng tôi thuê một căn hộ nhỏ với giá 4,5 triệu đồng. Tiền điện, nước, xăng xe và các chi phí phát sinh được gói gọn trong số tiền còn lại. Mỗi cuối ngày, tôi đều dành 5 phút để ghi chép lại mọi khoản chi dù là 2.000 đồng gửi xe. Việc nhìn thấy những con số cụ thể giúp chúng tôi biết mình đang ở đâu để kịp thời điều chỉnh cho ngày hôm sau, tránh tình trạng "vung tay quá trán".
Có người hỏi tôi: "Kiếm được 40 triệu mà sống khổ thế để làm gì?". Tôi chỉ cười. Chúng tôi không nghĩ mình sống khổ, mà là sống có mục đích. Khoản tiết kiệm gần 30 triệu mỗi tháng là tấm lá chắn an toàn cho gia đình tôi trước những rủi ro như ốm đau, bệnh tật, công việc gặp biến cố. Và quan trọng nhất, đó là viên gạch để chúng tôi xây dựng ước mơ về một ngôi nhà của riêng mình tại Thủ đô.
Sống ở Hà Nội đắt đỏ là sự thật, nhưng nếu biết cách thích nghi và giữ vững kỷ luật tài chính, tôi tin cuộc sống ổn định không phải là điều quá xa vời. Với tôi, sự an tâm khi nhìn vào sổ tiết kiệm mỗi tháng còn giá trị hơn nhiều so với những bữa tiệc tùng xa hoa chớp nhoáng. Mọi sự đánh đổi lúc này đều xứng đáng cho một tương lai bền vững hơn.
Tôi năm nay 37 tuổi, sinh ra ở miền quê nghèo. Bố mẹ tôi nghèo, thuần nông, quanh năm bám lấy đồng ruộng. Hiểu gia cảnh của mình nên học xong đại học, ra trường, tôi lao ngay ra xã hội để kiếm sống.
Suốt 15 năm phấn đấu, bươn trải mưu sinh, tôi cống hiến không mệt mỏi. Nhiều khi, tôi cảm tưởng như mình không có một chút thời gian nào gọi là sống cho bản thân. Tôi sống vì công việc, vì deadline, vì lý tưởng của lãnh đạo và bán sức khỏe để kiếm tiền.
Sau tất cả, từ con số âm (phải gánh khoản nợ của gia đình), tôi từng bước trả hết nợ nần, xây sửa nhà cửa ổn định ở quê cho bố mẹ, mua nhà và xe tại Hà Nội để sinh sống của vợ và hai con nhỏ. Ngoài ra, tôi còn có hai bất động sản ở quê để làm của để dành và dự phòng cho tương lai, cùng với một khoản tiền tiết kiệm nhỏ.
Hiện, thu nhập của tôi ổn định khoảng 40 triệu một tháng. Nhưng sau 15 năm phá sức "cày" tiền không ngừng nghỉ, giờ tôi như một cỗ máy rệu rã. Mỗi sáng thức dậy, tôi luôn tự hỏi cuộc sống này mình có thực sự đang sống hay chỉ tồn tại về mặt sinh học? Ngày nào tôi cũng ngập tràn những deadline, áp lực công việc liên miên, những KPIs đôi khi hết sức vô lý.
>> Tôi 'sợ' nghỉ hưu sớm dù có nhà, đất và 2,7 tỷ đồng tiết kiệm
Năm ngoái, bố tôi đột ngột qua đời, để lại trong tôi một cú sốc cùng sự mất mát vô cùng to lớn. Biến cố đó khiến tôi càng khao khát sống chậm lại để cảm nhận được cuộc sống bên người thân, gia đình. Từ đầu năm đến giờ, tôi đã chủ động làm việc ít lại, dành thời gian đi du lịch vài lần, lái xe xuyên Việt, phượt Tây Bắc, Đông Bắc... Quả thực, sau các chuyến đi xa, tôi cảm thấy mọi stress như tan biến hết. Có điều, khi quay trở lại công việc, mọi thứ lại lặp lại.
Vừa rồi, tôi bàn với vợ về áp lực công việc mình đang gặp phải và bày tỏ mong muốn chuyển sang một công việc nhẹ nhàng hơn. Tất nhiên, nếu làm vậy, tôi sẽ phải chấp nhận đánh đổi bằng thu nhập sẽ giảm rất nhiều. Vợ tôi hiểu những gì tôi đang trải qua, nên cũng thông cảm và luôn tôn trọng mọi quyết định của tôi.
Nhưng điều khiến tôi trăn trở, đắn đo nhất lúc này là về hai đứa con còn nhỏ, đang tuổi ăn học và còn cả một tương lai rất dài ở phía trước. Liệu tôi có nên dũng cảm bước ra khỏi vòng an toàn hiện tại và dám sống cho bản thân mình? Hay tôi nên tiếp tục làm công việc hiện tại để đảm bảo tài chính lo cho các con.
Đến giờ, tôi vẫn đắn đo trước những quyết định cho tương lai. Tôi chưa đủ tiền để có thể nghỉ hưu sớm ở tuổi này, nhưng thú thực cũng đã mất hết động lực để tiếp tục công việc hiện tại.
Tôi từng chứng kiến không ít bàn tiệc mà món cua hay tôm nguyên vỏ vô tình trở thành "nhân vật chính" theo cách không ai mong muốn. Có người mặc bộ vest mới, ngại dùng tay nên lúng túng mãi không biết bắt đầu từ đâu.
Có người mặc áo dài, vừa giữ gìn hình ảnh vừa cố gắng bóc từng lớp vỏ cứng. Người lớn tuổi thì không đủ sức để tách càng cua. Trẻ nhỏ loay hoay một lúc rồi bỏ cuộc.
Một người bạn kể rằng mỗi lần đi dự tiệc cưới, tiệc liên hoan hay tiệc tất niên, món khiến chị "ngại" nhất tôm nguyên vỏ.
Những lý do rất đơn giản: mặc áo dài khó bóc, trang điểm kỹ sợ lem tay, ngồi cạnh người lạ ngại cúi đầu loay hoay, còn nếu bóc xong thì tay dính mùi tanh, muốn lau cũng bất tiện.
Càng nghĩ tôi càng thấy đó không phải câu chuyện của riêng con tôm. Đó là câu chuyện của cách chúng ta tổ chức các cuộc gặp gỡ, các bữa tiệc và rộng hơn là cách xã hội đang thay đổi.
Bởi mục đích cuối cùng của một bữa tiệc là gì? Là để khách cảm thấy vui vẻ. Là để mọi người được trò chuyện. Là để tạo ra những ký ức đẹp. Chứ không phải để khách phải vật lộn với món ăn.
Trong suy nghĩ của nhiều gia đình, đã mời khách thì phải đãi những món ngon nhất, đắt tiền nhất, đẹp mắt nhất. Bởi vậy, từ tiệc cưới, tiệc mừng thọ đến những buổi liên hoan cơ quan hay họp mặt bạn bè, thực đơn thường xuất hiện những món được xem là biểu tượng của sự sang trọng như tôm hùm, cua biển, ghẹ hay các loại hải sản nguyên con.
Nhiều người cho rằng giá trị của bữa tiệc phần nào được đo bằng giá trị của món ăn trên bàn. Đó là tâm lý rất dễ hiểu, xuất phát từ mong muốn dành cho khách sự trân trọng cao nhất.
Trong khi đó, câu chuyện trên bàn ăn liên tục bị ngắt quãng. Những tiếng cười đang rôm rả bỗng nhường chỗ cho tiếng lách cách của dụng cụ và những ánh mắt ngượng ngùng. Một bữa tiệc vốn được tạo ra để kết nối con người đôi khi lại khiến mỗi người phải tập trung vào "cuộc chiến" riêng của mình với món ăn.
Nhìn từ góc độ xã hội học, đây không chỉ là câu chuyện của một con tôm hay một con cua. Nó phản ánh cách chúng ta đôi khi vẫn đang đặt hình thức lên trước trải nghiệm thực tế của con người.
Chúng ta muốn khách thấy mình chu đáo nên cố gắng chọn món thật sang, nhưng lại quên hỏi liệu khách có thực sự cảm thấy thoải mái hay không.
Chúng ta chăm chút cho sự hào nhoáng của bữa tiệc, nhưng đôi khi bỏ sót những nhu cầu rất giản dị của người tham dự: được ăn ngon một cách thuận tiện, được trò chuyện tự nhiên và được tận hưởng niềm vui mà không phải bận tâm đến những bất tiện không cần thiết.