Tại Hội nghị thượng đỉnh EU ở Cyprus (CH Síp) ngày 23-4, Hungary và Slovakia đã dỡ bỏ quyền phủ quyết đối với khoản vay 90 tỉ euro cho Ukraine giai đoạn 2026 – 2027 sau nhiều tháng trì hoãn chủ yếu do sự phản đối của Thủ tướng Hungary Viktor Orbán.
Cùng ngày, EU phê duyệt gói trừng phạt thứ 20 nhằm vào Nga, siết chặt thêm vòng vây năng lượng chống Matxcơva. Hai quyết định này báo hiệu châu Âu tiếp tục chọn con đường đối đầu, và hòa bình cho Ukraine ngày càng lùi xa.
Theo cổng thông tin Ukraine Strananews, hệ quả trực tiếp của gói viện trợ 90 tỉ euro là Kiev sẽ giảm đáng kể động lực nhượng bộ các yêu cầu từ Mỹ và Nga – bao gồm việc rút quân khỏi Donbass và các biện pháp chấm dứt chiến tranh khác.
Trong bối cảnh đó, các phương tiện truyền thông phương Tây liên tục đưa ra đồn đoán về nguy cơ Nga tấn công châu Âu. Bộ Quốc phòng Nga và Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Dmitry Medvedev đã đe dọa tấn công các cơ sở sản xuất drone cung cấp cho Ukraine tại các nước châu Âu.
Thư ký Hội đồng An ninh Sergei Shoigu cáo buộc các nước Baltic mở không phận cho các cuộc tấn công bằng drone của Ukraine nhằm vào Nga và tuyên bố “quyền tự vệ của Nga”.
Ngày 24-4, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk cảnh báo trên tờ Financial Times rằng “Nga có thể tấn công một trong những thành viên của NATO trong vòng vài tháng tới”, đồng thời chỉ trích một số thành viên “giả vờ như không có chuyện gì xảy ra” khi khoảng 20 drone của Nga vi phạm không phận Ba Lan năm ngoái.
Tuy nhiên, Strananews phân tích rằng kịch bản đó khó xảy ra: Nếu Nga tấn công châu Âu, họ sẽ phải đối mặt với EU và Anh – khối dân số hơn nửa tỉ người, cùng các tên lửa Taurus và nhiều loại vũ khí khác. Nga sẽ không thể duy trì chiến tranh trên hai mặt trận. Điều kiện duy nhất để Nga tấn công châu Âu là sẵn sàng dùng vũ khí hạt nhân – thứ vũ khí duy nhất Nga có ưu thế tuyệt đối.
Song Điện Kremlin nhiều khả năng sẽ không làm vậy, do ô dù hạt nhân của Mỹ với kho vũ khí tương đương. Vấn đề là rạn nứt ngày càng sâu giữa Washington và các đồng minh NATO châu Âu đang dấy lên nghi ngờ liệu Mỹ có thực sự can thiệp nếu xung đột nổ ra? Nếu không, cán cân hạt nhân sẽ không còn nghiêng về phía châu Âu.
Gói trừng phạt thứ 20 tập trung phong tỏa xuất khẩu năng lượng Nga với nhiều biện pháp mạnh: cấm cung cấp dịch vụ hàng hải cho dầu mỏ Nga; cấm hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và môi giới cho tàu phá băng và tàu chở khí hóa lỏng (LNG) từ ngày 25-4-2026, mở rộng sang tàu nước ngoài hoạt động tại Nga từ 1-1-2027; cấm giao dịch với cảng dầu Karimun của Indonesia và hai cảng Nga là Murmansk và Tuapse; bổ sung 46 tàu vào danh sách “hạm đội ngầm”, nâng tổng số lên hơn 600 tàu; đồng thời đóng băng tài sản 120 cá nhân và thực thể liên quan.
Cao ủy viên Ngoại giao EU Kaja Kallas tuyên bố: “Nền kinh tế chiến tranh của Nga đang chịu áp lực ngày càng tăng, trong khi Ukraine nhận được sự hỗ trợ đáng kể. Chúng ta phải duy trì áp lực cho đến khi ông Putin hiểu rằng cuộc chiến này không dẫn đến đâu cả”.
Ủy ban châu Âu dẫn số liệu cho thấy doanh thu xuất khẩu dầu khí của Nga đã giảm 24% trong năm 2025, xuống mức thấp nhất kể từ 2020, trong khi thâm hụt ngân sách tăng, lãi suất giữ ở mức 16% và lạm phát vẫn cao.
Tuy nhiên, các nhà phân tích của Alfa Bank nhận định các biện pháp mới sẽ làm phức tạp hậu cần vận chuyển LNG – đặc biệt với dự án Yamal LNG – nhưng không ngăn được xuất khẩu. Nga sẽ chuyển hướng sang châu Á, chấp nhận chi phí vận chuyển cao hơn. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova tuyên bố Brussels đã “tự giáng đòn vào chính mình”.
Thứ trưởng Ngoại giao Nga A. Grushko cũng cho rằng EU đang tự làm trầm trọng thêm khủng hoảng năng lượng của mình, trong khi ngày càng phụ thuộc vào nguồn cung từ Mỹ.
Thực tế đang diễn ra đúng như vậy. Kể từ khi Mỹ và Israel bắt đầu cuộc chiến chống Iran vào ngày 28-2, hóa đơn nhập khẩu nhiên liệu của EU đã tăng thêm 14 tỉ euro, theo Cao ủy viên Năng lượng EU Dan Jørgensen.
Tại Cyprus ngày 23-4, các lãnh đạo EU chỉ có thể đề xuất thắt lưng buộc bụng và hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương – nhưng tất cả đều phải trả từ ngân sách quốc gia vốn gần cạn kiệt. Tờ Politico bình luận chua chát: “Người châu Âu muốn Brussels làm điều gì đó, nhưng Brussels chỉ muốn chuyển gánh nặng lên vai các thủ đô châu Âu”.
Chuyến bay của hãng hàng không American Airlines khởi hành từ sân bay quốc tế Miami ở bang Florida của Mỹ lúc 10h26 hôm nay (21h26 giờ Hà Nội), theo AFP. Phi cơ dự kiến đáp xuống sân bay Simon Bolivar ở thủ đô Caracas của Venezuela sau hơn 3 tiếng, trước khi quay trở lại Florida vào cuối chiều cùng ngày.
Đây là chuyến bay thẳng đầu tiên giữa Mỹ và Venezuela kể từ năm 2019, thời điểm Bộ An ninh Nội địa Mỹ ra lệnh đình chỉ vô thời hạn đường bay với lý do lo ngại về an ninh.
Hành khách trên chuyến bay chủ yếu là quan chức và nhà báo, trong đó các quan chức cấp cao Mỹ đến Caracas để gặp đại diện chính phủ Venezuela.
Đại diện thành phố Miami cùng Đại sứ Venezuela tại Mỹ Felix Plasencia có mặt tại cổng để chào đón hành khách trong chuyến bay đặc biệt. Nhân viên của American Airlines đã phát cho hành khách những lá cờ nhỏ của Venezuela, trong khi thực đơn trên máy bay gồm những món ăn đặc trưng của quốc gia này như bánh kếp ngô và salad gà.
"Tôi rất hào hứng được đi thăm gia đình và mong muốn được đến đất nước này. Chỉ cần được đi thăm gia đình trên chuyến bay thẳng từ Miami đến Caracas cũng là điều vô giá", hành khách Lennart Ochoa nói ngay trước khi lên máy bay, cho biết mình đã mua vé ngay khi có thể.
Hãng hàng không Mỹ trước đó cho biết sẽ bắt đầu chuyến bay tiếp theo giữa Miami và Caracas từ ngày 21/5.
Nối lại chuyến bay thương mại trực tiếp giữa hai nước được xem là dấu hiệu cho thấy sự tan băng quan hệ, sau khi Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro trong cuộc đột kích bất ngờ hồi tháng 1. Mỹ tháng trước cũng mở lại đại sứ quán tại Caracas, sau khi khôi phục hoàn toàn quan hệ ngoại giao với Venezuela.
Tổng thống Mỹ Donald Trump cuối tháng 1 cho biết ông đã thông báo với Tổng thống lâm thời Delcy Rodriguez rằng sẽ mở cửa toàn bộ không phận thương mại của Venezuela. "Công dân Mỹ sẽ sớm có thể đến Venezuela và được an toàn ở đó", ông nói.
NYTimes ngày 5/4 dẫn các nguồn thạo tin trong chính phủ Mỹ cho biết khi thông tin Iran bắn hạ tiêm kích F-15E khiến hai phi công phải phóng ghế thoát hiểm xuống lãnh thổ đối phương được chuyển về trụ sở Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) tại Langley, các sĩ quan tình báo hàng đầu của Mỹ lập tức vào cuộc.
Các nguồn tin của NYTimes đề nghị giấu danh tính do tính chất nhạy cảm của chiến dịch và công tác tình báo.
Phi công thứ nhất trên chiếc F-15E được giải cứu tương đối nhanh chóng ngay trong ngày 3/4, nhưng quân đội Mỹ không thể xác định được vị trí thành viên tổ lái còn lại, một đại tá giữ vai trò sĩ quan điều khiển vũ khí trên tiêm kích. Hai phi công phóng dù gần như cùng một lúc, nhưng bị tách nhau ra do hướng gió và các yếu tố địa hình khi tiếp đất.
Một chiến dịch tìm kiếm quy mô lớn được tiến hành, với hàng trăm binh sĩ, hàng chục máy bay từ các quân chủng cùng lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ, nhằm chạy đua với thời gian để giải cứu phi công trước khi lực lượng Iran tiếp cận.
Là cơ quan tình báo hàng đầu của Mỹ, CIA thường xuyên tham gia hỗ trợ các chiến dịch giải cứu phi công Mỹ mắc kẹt sau phòng tuyến đối phương. Theo các nguồn tin, lần này, CIA đã xây dựng một kế hoạch đánh lạc hướng lực lượng Iran để có thêm thời gian tìm ra vị trí phi công mất tích.
Cơ quan này đã cố tình rò rỉ thông tin với một số cơ quan truyền thông ở Trung Đông rằng Mỹ đã tìm thấy phi công thứ hai và đang hộ tống ông này khỏi lãnh thổ Iran bằng đường bộ, dù lúc đó quân đội Mỹ chưa biết phi công mất tích đang ở đâu.
Mục tiêu của kế hoạch nghi binh này là khiến Iran chuyển hướng lực lượng truy lùng tại vùng được xác định là nơi phi công đang ẩn náu, sang các tuyến đường rời khỏi khu vực.
Theo một nguồn tin là quan chức cấp cao giấu tên trong chính phủ Mỹ, chiêu tung hỏa mù này dường như đã khiến lực lượng Iran đang truy lùng phần nào bị bối rối.
Phi công mất tích đã né tránh được lực lượng Iran truy đuổi trong hơn 24 giờ, rồi men theo một ngọn núi cao hơn 2.100 m và ẩn náu trong khe núi ở phía nam thành phố Isfahan, miền trung Iran.
Các phi công Mỹ đều được trang bị thiết bị phát tín hiệu định vị, kèm một thiết bị liên lạc bảo mật để dùng trong trường hợp cần phối hợp với lực lượng giải cứu. Tuy nhiên, họ cũng được huấn luyện để không liên tục phát tín hiệu định vị, đề phòng nguy cơ đối phương lần ra dấu vết.
Quan chức Nhà Trắng từ chối mô tả chi tiết về công nghệ đã giúp CIA tìm ra vị trí của phi công, nhưng cho hay đây là loại "thiết bị đặc biệt", chỉ được cơ quan này sử dụng. Đây được coi là lý do quân đội Mỹ phải dựa vào CIA để xác định vị trí phi công.
CIA sau đó chuyển thông tin vị trí phi công đến Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, dẫn tới quyết định triển khai một trong những chiến dịch táo bạo và tốn kém nhất lịch sử quân đội Mỹ để giải cứu phi công trên đất Iran.
Khi tiến hành chiến dịch, quân đội Mỹ ném bom dữ dội vào khu vực để ngăn lực lượng Iran tiếp cận dãy núi. Không có giao tranh trực diện giữa hai bên, nhưng binh sĩ Mỹ được cho là đã nổ súng để ngăn đối phương áp sát điểm giải cứu.
Quân đội Mỹ cũng hứng tổn thất khí tài trong nỗ lực giải cứu. Bên cạnh hai vận tải cơ MC-130J và trực thăng AH/MH-6 bị phá hủy, một cường kích A-10 đã bị phòng không Iran bắn rơi khi đang yểm trợ lực lượng tìm kiếm.
Hai trực thăng cứu nạn chiến đấu HH-60W Jolly Green II cũng trúng hỏa lực Iran, khiến ít nhất một quân nhân bị thương, nhưng vẫn hạ cánh an toàn ở lãnh thổ đồng minh của Mỹ. Chưa rõ mức độ hư hại của chúng.
Sau 36 giờ mắc kẹt trên lãnh thổ Iran với chỉ một khẩu súng ngắn để tự vệ, đại tá phi công Mỹ cuối cùng được các đặc nhiệm giải cứu thành công, đưa tới Kuwait điều trị vết thương khi nhảy dù.
Tổng thống Donald Trump hôm 5/4 cho hay những chiến dịch đột kích, giải cứu phi công như vậy "rất hiếm khi được tiến hành" bởi mối đe dọa đối với nhân lực và khí tài của quân đội Mỹ.
New York Times ngày 10/4 dẫn lời các quan chức Mỹ giấu tên nói rằng tình trạng mất dấu thủy lôi là một trong những lý do khiến Iran chưa thể nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của chính quyền Tổng thống Donald Trump về mở cửa hoàn toàn eo biển Hormuz.
Hoạt động vận chuyển dầu qua tuyến hàng hải quan trọng này vẫn gần như bị đình trệ kể từ khi Mỹ và Iran đạt thỏa thuận ngừng bắn hôm 8/4, theo CNN. Hãng thông tấn AFP dẫn dữ liệu theo dõi hàng hải thu thập hôm 9/4 cho biết chỉ có 10 tàu đi qua eo biển Hormuz kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.
Ngay sau khi Mỹ - Israel phát động chiến dịch tấn công Iran ngày 28/2, Tehran đã triển khai nhiều xuồng cao tốc để rải thủy lôi tại eo biển Hormuz. Các quả thủy lôi, cùng mối đe dọa từ máy bay không người lái (UAV) và tên lửa, khiến số lượng tàu hàng đi qua tuyến hàng hải này giảm xuống mức rất thấp, đẩy giá năng lượng tăng cao và mang lại cho Iran đòn bẩy lớn nhất trong xung đột.
Iran khi đó vẫn để lại một hành lang lưu thông qua eo biển, cho phép các tàu trả phí được đi qua.
Sau khi các bên đạt được lệnh ngừng bắn, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) ngày 9/4 công bố lộ trình thay thế cho tàu thuyền để tránh nguy cơ trúng thủy lôi tại eo biển Hormuz. Tuy nhiên, quan chức Mỹ cho rằng tuyến di chuyển này bị hạn chế đáng kể, phần lớn do Iran rải thủy lôi một cách thiếu hệ thống.
Chưa rõ liệu Iran có ghi chép vị trí từng quả thủy lôi hay không. Ngay cả khi làm điều này, một số quả có thể trôi dạt khỏi vị trí ban đầu. Nỗ lực rà phá thủy lôi cũng rất khó khăn, do các lực lượng hải quân Iran đã hứng chịu tổn thất nặng nề trong xung đột.
Quân đội Mỹ gần như cũng không còn lực lượng rà phá thủy lôi ở Trung Đông, do các tàu chuyên dụng đã bị loại biên và 2 trong 3 tàu chiến đấu ven biển được lắp thiết bị quét mìn đã di chuyển tới Singapore hồi đầu xung đột. Khó khăn trong theo dõi xuồng nhỏ rải thủy lôi khiến Mỹ cũng không thể xác định Iran đã cài bao nhiêu thủy lôi trong eo biển Hormuz, cũng như vị trí của chúng.
Giới chức Mỹ và Iran hiện chưa lên tiếng về thông tin.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi hôm 8/4 cho biết eo biển Hormuz sẽ được mở cho tàu thuyền qua lại sau khi "tính đến các hạn chế kỹ thuật". Giới chức Mỹ nhận định cụm từ này ám chỉ Tehran chưa thể nhanh chóng tìm hoặc gỡ thủy lôi.
Tổng thống Donald Trump hôm 10/4 nói với các phóng viên tại căn cứ liên hợp Andrews rằng eo biển Hormuz sẽ sớm khai thông, song thừa nhận điều đó sẽ không dễ dàng. Làm thế nào để nhanh chóng đảm bảo lưu thông an toàn qua khu vực nhiều khả năng sẽ là nội dung thảo luận trọng tâm trong cuộc đàm phán giữa Iran và Mỹ tại Pakistan.