Với môn toán, giáo viên (GV) Trần Văn Toàn, nguyên tổ trưởng tổ toán Trường THPT Marie Curie (P.Xuân Hòa, TP.HCM), lưu ý 6 mảng kiến thức trọng tâm để học sinh (HS) hệ thống, gồm: hàm số và ứng dụng đạo hàm, đây là phần trọng tâm của đề thi, cần được ôn chắc các nội dung như tính đơn điệu, cực trị, giá trị lớn nhất – nhỏ nhất, tiệm cận và vận dụng đạo hàm vào bài toán thực tế. Mũ, logarit, đề thi chính thức vẫn giữ các dạng quen thuộc của phương trình, bất phương trình mũ – logarit, nhưng cách hỏi không hoàn toàn máy móc.
Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng, các câu hỏi thuộc mảng này thường không chỉ dừng ở thao tác tính toán thuần túy mà còn gắn với diện tích, thể tích, ý nghĩa hình học hoặc bối cảnh thực tế. Vì vậy, khi ôn tập, cần nhận diện công thức cơ bản và vận dụng tích phân vào một mô hình cụ thể.
Xác suất, thống kê và tư duy đọc tình huống, với phần này cách ôn hiệu quả nhất không phải là làm thật nhiều bài khó mà là luyện phân tích đề và nhận biết cấu trúc của từng dạng.
Hình học không gian vẫn giữ vai trò quan trọng, cần ôn kỹ các quan hệ song song, vuông góc, góc giữa đường thẳng và mặt phẳng, khoảng cách trong không gian.
Còn hình học giải tích Oxyz, nhiều câu hỏi được đặt dưới dạng mô tả thực tế hoặc quan hệ hình học. Khi ôn tập, cần luyện cách biến dữ kiện thực tế thành tọa độ, vectơ hoặc phương trình.
Từ đó, thầy Toàn nhắc HS phải chắc để không mất điểm đáng tiếc ở những phần hàm số, mũ – logarit, nguyên hàm – tích phân cơ bản, xác suất cơ bản và các câu nhận biết. Phần cần luyện để đạt mức điểm khá, gồm đúng – sai, các bài vận dụng về hàm số, xác suất có điều kiện, hình học không gian và Oxyz… Tiếp đến là nhóm phân hóa, gồm các câu trả lời ngắn yêu cầu lập luận độc lập, xử lý dữ kiện phức hợp hoặc mô hình hóa toán học.
Thầy Toàn chỉ một sai lầm phổ biến khi ôn tập là HS thường mải chạy theo câu khó quá sớm, trong khi phần nền tảng lại chưa thật chắc. Cách ôn như vậy thường làm mất rất nhiều thời gian mà hiệu quả không cao.
Theo thầy Đỗ Đức Anh, Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành, TP.HCM), việc ôn văn không khó nếu đi đúng hướng bằng cách nắm chắc cấu trúc đề, luyện đúng dạng và hình thành tư duy trình bày mạch lạc.
Trước hết, thầy Đức Anh lưu ý HS cần hiểu rõ cấu trúc đề thi không đánh đố mà kiểm tra năng lực nhận diện, phân tích ngắn gọn. Vì vậy đừng học thuộc lòng máy móc; hãy luyện thói quen trả lời đúng, trúng, đủ: xác định yêu cầu, gọi tên kiến thức, rồi lý giải ngắn gọn. Với những câu 0,5 – 1 điểm, chỉ cần 3 – 5 dòng súc tích, tránh lan man.
Thầy Đức Anh cho hay HS mắc một sai lầm phổ biến là học dàn trải. Thay vào đó, hãy ôn theo chuyên đề: đọc hiểu văn bản thông tin, văn bản nghị luận, văn bản thơ hiện đại, truyện ngắn, nhật ký, phóng sự, tiểu thuyết… Mỗi chuyên đề cần có “công thức xử lý” riêng cho từng câu hỏi. Song song đó, luyện đề đều đặn là cách tốt nhất để rèn tốc độ và kỹ năng phân bổ thời gian. Một bài thi hiệu quả không chỉ đúng mà còn phải kịp giờ.
Phần viết đoạn văn là “trận địa” khó. Với nghị luận xã hội, dẫn chứng không cần quá lớn lao; một hiện tượng đời sống gần gũi, một câu nói hay cũng đủ sức thuyết phục nếu được phân tích khéo léo. HS nên chuẩn bị sẵn “kho dẫn chứng” theo chủ đề quen thuộc: ý chí, trách nhiệm, lòng nhân ái, khát vọng tuổi trẻ… Với đoạn nghị luận văn học đòi hỏi chiều sâu. Muốn làm tốt, không thể chỉ học thuộc bài mẫu. Hãy đọc kỹ văn bản, nắm chủ đề, hình tượng trung tâm, và những nét đặc sắc nghệ thuật.
“Ôn thi môn ngữ văn không phải là hành trình nhồi nhét, mà là quá trình hiểu – cảm – viết. Đi đúng đường, mỗi trang giấy sẽ trở thành nơi bạn ghi dấu nỗ lực của mình. Và biết đâu trong chính bài thi ấy, bạn sẽ tìm thấy một phần rất đẹp của bản thân”, thầy Đức Anh gợi mở.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT không còn là cuộc đua xem ai nhớ nhiều cấu trúc ngữ pháp khô khan hơn mà là xem ai dùng tiếng Anh sành hơn trong thực tế.
GV Trương Thị Cẩm Hân, Trường quốc tế Á Châu, hướng dẫn HS cần nắm vững toàn bộ các chủ điểm ngữ pháp cốt lõi và vốn từ vựng theo chủ đề trải dài từ lớp 10 – 12. Biện pháp tối ưu lúc này là áp dụng phương pháp học từ vựng qua ngữ cảnh (Contextual learning) và sử dụng mindmap để kết nối các nhóm từ cùng chủ đề; đồng thời HS cũng phải làm chủ được các cấu trúc ngữ pháp nâng cao thường xuất hiện trong đề thi mới như mệnh đề danh ngữ, các dạng đảo ngữ, câu điều kiện hỗn hợp…
Vào lúc này, trọng tâm ôn tập sẽ chuyển sang việc rèn luyện kỹ năng theo từng dạng bài cụ thể nhằm “xóa mù” các định dạng mới như sắp xếp câu hay điền từ vào đoạn văn. Luyện tập theo chuyên đề, xây dựng sổ tay “bẫy đề thi”: ghi lại những lỗi sai của bản thân về cụm từ cố định (collocations) hoặc các cụm từ dễ nhầm lẫn giúp ghi nhớ sâu và tránh lặp lại sai lầm.
Theo cô Hân, HS cần lưu ý dành thời gian tổng lực luyện đề và tối ưu thời gian. Đây là thời gian để thí sinh rèn luyện áp lực phòng thi và quản lý thời gian (50 phút/40 câu). HS thực hành trên đề thi chính thức của năm trước cùng các đề thi thử để làm quen với áp lực phòng thi thực tế. Áp dụng nghiêm ngặt quy tắc “35/15”: dành 35 phút làm bài và 15 phút cuối cùng để kiểm tra lại các câu khó hoặc câu dễ nhầm lẫn, không bao giờ để trống đáp án.
Ngày 5-5, Trường đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức hội nghị triển khai quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về công tác cán bộ.
Theo đó, PGS.TS Vũ Ngọc Anh - nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý doanh nghiệp, Bộ Xây dựng - được bổ nhiệm giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường đại học Kiến trúc Hà Nội kể từ ngày 1-5.
PGS.TS Vũ Ngọc Anh, 54 tuổi, quê Hưng Yên, là phó giáo sư, tiến sĩ khoa học kỹ thuật.
Ông Ngọc Anh tốt nghiệp Trường đại học Xây dựng năm 1996, sau đó tham gia giảng dạy tại khoa xây dựng Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, giữ chức vụ Bí thư Đoàn trường.
Từ năm 2003 đến 2009, ông được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp học bổng du học tại Pháp, lần lượt hoàn thành các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ. Trong thời gian này, ông đặc biệt quan tâm đến các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến kết cấu bê tông cốt thép, bê tông dự ứng lực bị ăn mòn bởi môi trường nước biển.
Năm 2009, trở về nước, ông tiếp tục công tác tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, được bổ nhiệm các vị trí Phó khoa, sau đó là Trưởng khoa xây dựng.
Năm 2014, ông nhận chức vụ Hiệu trưởng Trường đại học Xây dựng miền Trung, năm 2018 được bổ nhiệm làm Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và môi trường, Bộ Xây dựng.
Sự lặp lại này không phải ngẫu nhiên. Nó là sản phẩm của một mô hình quản lý đã định hình từ lâu, nơi pháp luật được ban hành đầy đủ trên giấy nhưng không được vận hành đến tận điểm phát sinh rủi ro. Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta thiếu phản ứng. Vấn đề nằm ở chỗ toàn bộ mô hình quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) bữa ăn bán trú ở VN đang được thiết kế để phản ứng chứ không phải để phòng ngừa.
Nhìn từ góc độ pháp lý, khung quy định hiện hành thoạt nhìn có vẻ chặt chẽ. Luật ATTP 2010 dành riêng các điều 28, 29, 30 quy định điều kiện bảo đảm an toàn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bao gồm bếp ăn tập thể, từ bố trí mặt bằng chống nhiễm chéo, dụng cụ chế biến đến nguyên liệu rõ nguồn gốc và lưu mẫu thức ăn. Điều 54 đặt ra nghĩa vụ truy xuất nguồn gốc khi cần. Bộ luật Hình sự năm 2015 tại điều 317 hình sự hóa hành vi cung cấp thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn gây ngộ độc nghiêm trọng, với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù.
Nghị định 15/2018/NĐ-CP cụ thể hóa điều kiện cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện. Chỉ thị 38/CT-TTg ngày 11.10.2024 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Mới đây, Bộ Y tế ban hành Công văn 2236/BYT-ATTP ngày 1.4.2026 yêu cầu siết chặt kiểm tra bếp ăn tập thể trường học.
Như vậy, nhìn thì thấy rõ khung pháp lý đầy đủ, vậy khoảng trống nằm ở đâu?
Khoảng trống thứ nhất nằm trong chính cấu trúc của hệ thống. Việc cấp phép cho doanh nghiệp cung cấp suất ăn được thực hiện một lần trong khi rủi ro vi sinh phát sinh hằng ngày. Một cơ sở có thể đạt chuẩn vào ngày được cấp giấy chứng nhận nhưng quy trình bảo quản, vận chuyển, phân chia khẩu phần lại có thể xuống cấp chỉ sau vài tháng mà không ai biết. Hậu kiểm theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP về nguyên tắc là công cụ để bù đắp cho khoảng trống này. Tuy nhiên, trên thực tế hậu kiểm thường mang tính định kỳ, có thông báo trước và tập trung vào hồ sơ giấy tờ hơn là quy trình thực tế. Kiểm tra một bếp ăn vào lúc nhân viên đã chuẩn bị sẵn tâm thế đón đoàn không cho phép phát hiện được những thói quen tệ hại diễn ra trong 364 ngày còn lại của năm.
Khoảng trống thứ hai mang tính thể chế. Quản lý ATTP trường học ở VN đang bị phân mảnh giữa nhiều đầu mối. Sở Y tế hoặc Sở ATTP chịu trách nhiệm về chuyên môn vệ sinh thực phẩm. Sở GD-ĐT quản lý hoạt động của nhà trường. Chính quyền địa phương cấp xã, phường có vai trò giám sát trên địa bàn. Hiệu trưởng nhà trường, theo khoản 7 điều 28 luật ATTP, là người đứng đầu đơn vị có bếp ăn tập thể nên phải chịu trách nhiệm chính. Và cuối cùng là doanh nghiệp cung cấp suất ăn, chủ thể trực tiếp sản xuất ra rủi ro.
5 chủ thể, mỗi chủ thể giữ một mảnh trách nhiệm và khi sự cố xảy ra mảng trách nhiệm nào cũng có thể được giải thích là trách nhiệm của người khác. Đây là mô hình mà các nhà phân tích thể chế gọi là trách nhiệm khuếch tán, nơi không ai phải gánh vác cụ thể vì ai cũng có thể chỉ tay sang bên cạnh.
Khoảng trống thứ ba là sự thiếu vắng minh bạch chủ động. Phụ huynh đóng tiền ăn cho con mỗi tháng nhưng không có quyền tiếp cận thông tin về đơn vị cung cấp suất ăn theo cách hệ thống. Họ không biết doanh nghiệp đó đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính bao nhiêu lần? Kết quả các đợt hậu kiểm gần nhất ra sao? Có vướng vào sự cố tại trường nào khác hay không?
Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới có hệ thống ATTP hiệu quả, kết quả thanh tra vệ sinh được công khai bắt buộc, thậm chí dán ngay tại cửa cơ sở dưới dạng xếp hạng để người tiêu dùng nhìn thấy. Nguyên tắc rất đơn giản. Khi thông tin về chất lượng được công khai thì doanh nghiệp tự có động lực kinh tế để cải thiện vì khách hàng có thể chọn hoặc không chọn họ. Khi thông tin bị che giấu, không có cơ chế thị trường nào hoạt động và mọi gánh nặng giám sát đổ dồn lên cơ quan nhà nước vốn đã quá tải.
Khoảng trống thứ tư và có lẽ là gốc rễ, nằm ở cách chúng ta định giá bữa ăn của trẻ em. Khi mức thu tiền ăn bán trú bị giới hạn ở mức rất thấp, các đơn vị cung cấp suất ăn buộc phải cắt giảm chi phí ở mọi khâu để có lợi nhuận. Nguyên liệu rẻ hơn nghĩa là rủi ro chất lượng cao hơn. Vận chuyển bằng phương tiện không bảo đảm nghĩa là rủi ro vi sinh tăng theo thời gian và nhiệt độ. Nhân công không được đào tạo bài bản nghĩa là quy trình vệ sinh dễ bị bỏ qua. Đây không phải là biện minh cho doanh nghiệp vi phạm mà là chỉ ra một thực tế rằng nếu thiết kế kinh tế của bữa ăn học đường khiến việc làm đúng trở nên không có lãi thì việc làm sai chỉ còn là vấn đề thời gian.
Vậy nên thay đổi như thế nào? Chúng ta cần dịch chuyển mô hình từ hậu kiểm sang phòng ngừa dựa trên rủi ro theo nguyên tắc HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points - hệ thống quản lý ATTP dựa trên việc phân tích mối nguy và kiểm soát các điểm tới hạn) đã được nhiều quốc gia áp dụng cho dịch vụ ăn uống tập thể.
Cốt lõi của HACCP không phải là kiểm tra sản phẩm cuối cùng mà là kiểm soát các điểm nguy cơ trong quy trình từ tiếp nhận nguyên liệu đến phân phối khẩu phần. Khi rủi ro được kiểm soát ngay tại điểm phát sinh thì sự cố sẽ giảm trước khi cần đến đoàn công tác liên ngành. Đi kèm với đó là yêu cầu công khai bắt buộc kết quả thanh tra dưới dạng xếp hạng dễ hiểu để phụ huynh có công cụ giám sát thực chất. Đi xa hơn nữa là việc xác lập trách nhiệm cá nhân của hiệu trưởng và lãnh đạo giáo dục địa phương khi sự cố xảy ra. Không chỉ trách nhiệm hành chính mà cả trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu buông lỏng quản lý có hệ thống.
Bữa ăn của một đứa trẻ ở trường không phải chỉ là vấn đề vệ sinh thực phẩm. Đó là phép thử cho năng lực thể chế của một xã hội trong việc bảo vệ nhóm yếu thế nhất, những người không có quyền lựa chọn và không có tiếng nói. Khi phép thử này thất bại lặp đi lặp lại theo cùng một kịch bản, đã đến lúc thừa nhận vấn đề không nằm ở vài cá nhân vi phạm mà nằm ở chính mô hình quản lý đang được vận hành.
Hết ngày 17/4, thí sinh Hà Nội kết thúc thời gian đăng ký thi lớp 10.
Theo ghi nhận của VnExpress lúc 23h45 ngày 17/4, bốn trường chuyên tuyển 2.730 học sinh, nhận tổng hơn 20.000 lượt đăng ký (mỗi thí sinh được đăng ký tối đa hai trường/hai nguyện vọng nếu không trùng lịch thi).
Hầu hết lớp chuyên Ngoại ngữ có lượng nguyện vọng 1 áp đảo, kéo theo tỷ lệ chọi tăng cao.
Lớp chuyên tiếng Trung, trường THPT chuyên Chu Văn An, có tỷ lệ chọi cao nhất 1/27. Lớp này chỉ tuyển 35 học sinh, song có tới hơn 960 em đăng ký. Xếp sau là lớp chuyên tiếng Nga, trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, với mức độ cạnh tranh 1/24.
Nhiều lớp chuyên có tỷ lệ chọi 1/19, gồm tiếng Nga (chuyên Hà Nội - Amsterdam), tiếng Anh, tiếng Pháp (chuyên Nguyễn Huệ), tiếng Anh (chuyên Chu Văn An). Mặt khác, hai lớp tiếng Pháp ở trường Ams và Chu Văn An lần lượt có tỷ lệ chọi thấp nhất, đều chưa được 1/2.
Nhảy vọt về tỷ lệ chọi là lớp chuyên tiếng Hàn, với 111 em đăng ký so với 30 em của năm ngoái, dù chỉ tiêu đều là 35.
Ở các lớp chuyên còn lại, mức độ cạnh tranh phổ biến từ 1/4-1/6. Một số lớp cũng có tỷ lệ chọi vượt 1/10, là Ngữ văn, Toán, Tin, Hóa học (chuyên Chu Văn An).
Dưới đây là thống kê số nguyện vọng, tỷ lệ chọi của 4 trường THPT chuyên theo từng lớp (con số mang tính tham khảo, tính toán theo dữ liệu trên hệ thống của Sở Giáo dục và Đào tạo từ 23h45 đến 23h50 ngày 17/4):
Năm nay, 147.000 học sinh Hà Nội tốt nghiệp THCS, tăng 20.000 so với năm ngoái. Chỉ tiêu lớp 10 công lập là hơn 78.300, tương đương 55%.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Điểm xét tuyển lớp 10 chuyên là tổng điểm ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ, cộng với môn chuyên nhân hệ số hai, tối đa 50.
Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.