Theo báo SCMP ngày 12-5, cô bé tên Xiaoyan (tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc) được chẩn đoán mắc bệnh tan máu bẩm sinh (thalassemia) khi mới 3 tháng tuổi.
Bé hiện chỉ cao 140cm và nặng 25kg – chỉ bằng khoảng một nửa các bạn cùng lứa tuổi.
Cha của Xiaoyan là công nhân xây dựng, mẹ không có việc làm.
Suốt nhiều năm, gia đình chỉ có thể cho cô bé truyền máu định kỳ thay vì điều trị tiêu chuẩn.
Đến năm 2018, khi lá lách của Xiaoyan phình to và phải cắt bỏ, hoàn cảnh của cô bé mới được truyền thông chú ý và bắt đầu tiến hành việc điều trị phù hợp.
Các bác sĩ khi đó khuyên gia đình tìm người phù hợp từ ngân hàng tế bào gốc hoặc sinh thêm con để sử dụng máu cuống rốn.
Máu cuống rốn là nguồn tế bào gốc tạo máu quan trọng, được thu thập từ dây rốn và nhau thai sau khi sinh em bé.
Đây được xem là phương pháp điều trị hiệu quả cho các bệnh về máu ở người thân cùng huyết thống, cũng như các bệnh trong tương lai mà trẻ có thể mắc phải.
Tại Trung Quốc, ngày càng nhiều phụ huynh cân nhắc lưu trữ hoặc hiến tặng máu cuống rốn của con như một “phương thuốc dự phòng sống còn”.
Hiện Trung Quốc có 7 ngân hàng máu cuống rốn chính thức.
Theo số liệu công bố tháng 11-2025, gần 2,5 triệu đơn vị máu cuống rốn đã được lưu trữ tại các ngân hàng này, trong đó 45.000 đơn vị đã được sử dụng để điều trị.
Chi phí lưu trữ máu cuống rốn khoảng 20.000 nhân dân tệ (khoảng 3.000 USD) cho 20 năm bảo quản.
Với một số gia đình thì số tiền này là gánh nặng tài chính nên thường chọn ghép cuống rốn của những người hiến tặng miễn phí thay vì lưu trữ.
Trong trường hợp của Xiaoyan, cô bé từng có một em trai 1 tuổi nhưng ba mẹ không lưu trữ máu cuống rốn của em.
Gia đình Xiaoyan rơi vào cảnh khó khăn khi người cha – lao động chính trong nhà – bị tai nạn lao động, còn ông bà của cô bé đều mắc bệnh mạn tính.
Xiaoyan thậm chí từng nhắn cho mẹ rằng em không muốn ghép tế bào gốc vì “gia đình mình không có nhiều tiền”.
Do không đủ khả năng chi trả cho việc nhận tế bào máu từ người hiến không cùng huyết thống – vốn tốn kém hơn nhiều so với sử dụng máu cuống rốn từ anh chị em ruột, nên ba mẹ Xiaoyan quyết định sinh thêm con.
Năm 2021, em trai út của Xiaoyan chào đời. Máu của em bé tương thích một nửa với chị gái và theo bác sĩ, như vậy là đủ điều kiện ghép.
Sau đó, Xiaoyan phải trải qua các liệu pháp loại bỏ lượng sắt dư thừa trong cơ thể để chuẩn bị cho ca ghép.
Đến năm 2025, cơ thể cô bé đủ điều kiện để phẫu thuật. Sau khi nhận được hỗ trợ tài chính từ các nhà hảo tâm, Xiaoyan được tiến hành phẫu thuật miễn phí vào tháng 4-2026.
Các bác sĩ cho biết cô bé đang hồi phục tốt và chức năng tạo máu đang dần được tái tạo.
Dù tại nhiều quốc gia vẫn tồn tại tranh cãi đạo đức về việc sinh thêm con để điều trị cho anh chị em mắc bệnh, phương pháp này được chấp nhận rộng rãi ở Trung Quốc.
Báo chí Trung Quốc cũng từng đăng tải nhiều trường hợp tương tự.
Năm 2016, một cặp vợ chồng ở tỉnh Quảng Đông được cho là đã sinh ba con trai để cứu con gái mắc bệnh tan máu bẩm sinh.
Tuy nhiên, báo SCMP dẫn lời các chuyên gia cho biết máu cuống rốn từ anh chị em mới sinh không bảo đảm chắc chắn việc ghép thành công.
Máu của đứa trẻ có thể không tương thích với anh chị em mắc bệnh, hoặc nếu cha mẹ mang vấn đề di truyền, đứa trẻ sinh sau cũng có nguy cơ mắc bệnh bẩm sinh.
Cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết khi trời nắng nóng việc uống nước lạnh sẽ mang lại một số tác dụng như làm mát cơ thể nhanh, tăng cảm giác kích thích uống nước vì nước mát lạnh dễ uống. Tuy nhiên việc uống nước lạnh sẽ gây ra nhiều tác hại như sau:
Tiêu hóa chậm, đầy hơi, chuột rút. Uống nước ở nhiệt độ 2 - 4°C trong hoặc ngay sau bữa ăn có thể tạm thời làm gián đoạn quá trình tiêu hóa. Nhiệt độ lạnh làm chậm quá trình co bóp dạ dày và làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày (sự di chuyển của thức ăn vào ruột). Những tác động này không phải lúc nào cũng xảy ra, nhưng chúng giải thích tại sao một số người có thể gặp các vấn đề về đường ruột (đau bụng, đầy hơi...) sau khi uống đồ uống rất lạnh.
Có thể xảy ra sốc nhiệt. Uống đồ quá lạnh và quá nhanh sẽ gây ra sự giảm nhiệt độ đột ngột trong đường tiêu hóa. Nếu bạn có dạ dày nhạy cảm, cú sốc nhiệt này có thể gây ra chuột rút và khó chịu.
Đau họng. Uống nước lạnh, đặc biệt là sau bữa ăn, dẫn đến hình thành các chất nhầy dư thừa (niêm mạc đường hô hấp), tạo thành lớp bảo vệ của đường hô hấp. Tuy nhiên, nó sẽ gây ra hiện tượng bỏng lạnh, khiến cổ họng bị đau rát và tổn thương.
Giảm nhịp tim. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nước lạnh có thể làm giảm nhịp tim của bạn. Uống nước đá được cho là kích thích dây thần kinh sọ thứ 10 - dây thần kinh phế vị.
Xoang và nhức đầu. Uống quá nhiều đồ lạnh cũng có thể gây ra vấn đề "đóng băng não", đặc biệt khi bạn uống quá nhiều nước đá hoặc ăn kem. Khi đó, nước lạnh làm mát các dây thần kinh nhạy cảm của cột sống, do đó nó ảnh hưởng đến não. Vì lý do này, nhức đầu và các vấn đề về xoang cũng có thể xảy ra
Đau răng và ê buốt men răng. Thường xuyên uống đồ uống rất lạnh làm tăng độ nhạy cảm của răng, đặc biệt nếu men răng bị mòn hoặc nướu bị tụt. Cần lưu ý rằng sự thay đổi nhiệt độ (lạnh - nóng) cũng tạo ra sức căng trong mô răng. Về lâu dài, điều này có thể thúc đẩy sự xuất hiện của các vết nứt nhỏ và làm tăng độ nhạy cảm với lạnh.
Để duy trì sự hydrat hóa và tiêu hóa hằng ngày, nước ở nhiệt độ phòng (20 - 22°C) thường được khuyến nghị. Trong khi tập thể dục hoặc ở những vùng khí hậu nắng nóng, các nghiên cứu cho thấy nước mát ở nhiệt độ 10 - 16°C giúp tối ưu hóa quá trình hydrat hóa và điều hòa thân nhiệt.
Theo cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, nếu bạn thích uống đồ uống lạnh, sau đây là một số lời khuyên:
Tránh uống trong bữa ăn. Hãy đợi ít nhất 30 phút sau ăn.
Uống từ từ, từng ngụm nhỏ: Thay vì uống vội một cốc lớn, điều này sẽ giúp cơ thể dần thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ hơn.
Bảo vệ răng: Dùng ống hút, giúp hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp nước lạnh với men răng.
Theo dõi tín hiệu cơ thể: Đau bụng dữ dội, đầy hơi hoặc đau răng tái phát sau khi uống đồ uống lạnh cho thấy bạn cần điều chỉnh nhiệt độ đồ uống của mình.
Nhiều năm trước, lời khuyên là không nên ăn quá một hoặc hai quả trứng mỗi tuần. Lý do là do lượng cholesterol cao trong lòng đỏ trứng, khoảng 200mg mỗi quả. Hướng dẫn về cholesterol trước đây khuyến nghị không nên ăn quá 300mg cholesterol mỗi ngày.
Tuy nhiên, BS Howard LeWine (Mỹ) chia sẻ trên trang web của Trường Y Harvard rằng nghiên cứu gần đây hơn cho thấy cholesterol trong chế độ ăn uống ít ảnh hưởng đến nồng độ cholesterol toàn phần và cholesterol LDL (cholesterol "xấu") trong máu. Thay vào đó, chính chất béo bão hòa trong chế độ ăn uống làm tăng nồng độ này trong máu.
Lý do, hầu hết cholesterol trong cơ thể bạn không đến từ chế độ ăn uống mà được gan sản xuất. Và chất béo bão hòa trong chế độ ăn uống có thể khiến gan sản xuất nhiều cholesterol.
Mặc dù các nghiên cứu gần đây vẫn chưa đưa ra câu trả lời nhất quán, nhưng người khỏe mạnh bình thường có thể không bị hại gì khi ăn tới 7 quả trứng mỗi tuần.
“Trên thực tế, trứng là một loại thực phẩm bổ dưỡng. Chúng tương đối ít calo và chất béo bão hòa, đồng thời giàu protein, vitamin và khoáng chất. Chúng cũng chứa các chất dinh dưỡng như lutein và zeaxanthin, tốt cho mắt và choline, giúp hỗ trợ não bộ và hệ thần kinh”, BS Howard LeWine nhấn mạnh.
Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế), trẻ em sau 6 tháng và người lớn có thể ăn trứng 3-4 lần/tuần. Với người bị cao huyết áp hoặc cholesterol máu cao vẫn có thể ăn trứng.
Lý do vì lecithin trong trứng có tác dụng điều hòa lượng cholesterol, ngăn ngừa tích lũy cholesterol, thúc đẩy quá trình phân tách cholesterol và đào thải các thành phần thu được ra khỏi cơ thể.
Trứng cũng chứa lượng cholesterol đáng kể (600mg cholesterol/ 100gr trứng gà). Nhưng nhờ có tương quan thuận lợi giữa lecithin và cholesterol nên lecithin sẽ phát huy vai trò điều hòa cholesterol, ngăn ngừa quá trình xơ vữa động mạch (liên quan tới bệnh tăng huyết áp, tim mạch) và đào thải cholesterol ra khỏi cơ thể.
Do vậy, người bị tăng huyết áp hay mỡ máu cao vẫn có thể ăn trứng được nhưng chỉ nên ăn 2-3 lần trong một tuần.
Cách ăn trứng đúng
Bên cạnh đó, theo Viện Dinh dưỡng, để đảm bảo an toàn, chúng ta không nên ăn trứng gà sống hay hòa tan trứng sống trong cháo nóng, canh nóng mà nên luộc hoặc nấu chín để phòng nhiễm khuẩn...
Đường sinh dục của gà có rất nhiều vi khuẩn nên cả trong và ngoài trứng gà đều có thể nhiễm khuẩn, đặc biệt là salmonella - một yếu tố gây ngộ độc thức ăn. Để ngăn ngừa bệnh do vi khuẩn Salmonella, bạn nên giữ trứng trong tủ lạnh, nấu trứng cho đến khi lòng đỏ cứng lại và nấu chín kỹ các loại thực phẩm có chứa trứng.
Ngoài ra, trong lòng trắng trứng sống còn có một chất chống lại biotin (vitamin H), cản trở hấp thu dưỡng chất này. Vitamin H là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sử dụng protein và đường - bột, cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể.
Vì vậy, ăn trứng sống hoặc chín tái đều có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe.
Trứng gà rán hoặc ốp nếu dùng lửa to dễ khiến bên ngoài cháy trong khi bên trong chưa chín. Lúc đó, lòng trắng trứng bị cháy sẽ khó hấp thu, lại tiêu hủy các vitamin tan trong nước như vitamin B1, B2, còn lòng đỏ chưa được tiệt khuẩn nếu có.
Vì vậy, khi rán hoặc ốp trứng, nên để lửa nhỏ, thời gian lâu một chút cho lòng đỏ vừa chín là tốt.
Nếu ăn trứng gà sống, tỷ lệ hấp thu và tiêu hóa chỉ được 40%. Trong khi đó, ở trứng luộc là 100%, trứng rán chín tới 98,5%, trứng rán già 81%, trứng ốp 85%, trứng chưng 87,5%.
Do đó, tốt nhất là nên ăn trứng luộc chín tới. Điều này không những bảo đảm được chất dinh dưỡng như protein, lipid, khoáng chất…, các vitamin cũng bị mất đi ít.
Nghiên cứu mới công bố trên tạp chí The Journal of Affective Disorders (Hà Lan) cho thấy, caffeine - đặc biệt là từ cà phê - tác động khác nhau lên mỗi người; uống cà phê với lượng vừa phải có thể có lợi cho sức khỏe tinh thần.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ UK Biobank (Anh), theo dõi thói quen ăn uống của hơn 461.000 người trong trung bình 13,4 năm. Trong thời gian này, ghi nhận 18.220 ca mới rối loạn cảm xúc và 18.547 ca mới rối loạn do căng thẳng.
Khi so sánh với lượng cà phê tiêu thụ, nhóm uống 2 - 3 tách cà phê mỗi ngày (mỗi tách khoảng 240 ml) có nguy cơ thấp nhất mắc các chứng rối loạn nêu trên. Ngược lại, nhóm uống nhiều hơn hoặc ít hơn mức này đều có nguy cơ cao hơn. Mối liên hệ này cũng rõ rệt hơn ở nam giới, theo Health (Mỹ).
Khi được sử dụng ở mức phù hợp với cơ thể, cà phê có thể mang lại một số lợi ích tiềm năng sau đối với tinh thần:
Cà phê giàu chất chống oxy hóa, giúp giảm viêm và có thể giảm mức lo âu. Các polyphenol trong cà phê hỗ trợ sức khỏe não bộ và điều hòa phản ứng với stress.
Caffeine có thể tăng cường hoạt động của dopamine - “hormone tạo cảm giác dễ chịu”, giúp giảm cảm giác lo âu.
Caffeine chặn thụ thể adenosine, tạm thời làm giảm cảm giác mệt mỏi và tăng sự tỉnh táo. Với một số người, điều này giúp họ cảm thấy tập trung và bớt căng thẳng.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng mỗi người phản ứng với caffeine theo cách khác nhau và cà phê không phải là phương pháp điều trị lo âu. Ở liều cao, caffeine vẫn có thể làm lo âu nặng hơn vì làm tăng nhịp tim, huyết áp và kích thích hệ thần kinh. Những người dễ lo âu, tăng huyết áp hoặc rối loạn nhịp tim cần đặc biệt thận trọng.
Một số người nhạy cảm với caffeine có thể thấy bồn chồn, hồi hộp, tim đập nhanh ngay cả khi uống ít. Uống cà phê lúc đói, thiếu ngủ hoặc cơ thể chuyển hóa caffeine chậm cũng làm tăng khả năng xuất hiện các triệu chứng này.
Nếu không chắc cà phê ảnh hưởng thế nào đến mình, hãy theo dõi cảm giác sau khi uống. Nếu thấy tỉnh táo, tập trung và dễ chịu, có thể bạn hợp với cà phê. Ngược lại, nếu thấy run tay, hồi hộp, lo lắng hoặc mất ngủ, cà phê có thể đang ảnh hưởng tiêu cực đến bạn.