Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo nghị định quy định về tự chủ, cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ.
Một trong những điểm đáng chú ý là đề xuất cho phép các trường đại học tự phê duyệt chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài mà không cần xin phép trước từ cơ quan quản lý.
Theo dự thảo, các trường đại học, cao đẳng trong nước được chủ động thực hiện liên kết đào tạo với cơ sở giáo dục hợp pháp, có uy tín của nước ngoài.
Hình thức đào tạo gồm: liên kết đào tạo cấp văn bằng của nước ngoài, cấp văn bằng của Việt Nam, hoặc cấp song bằng của cả hai bên.
Phương thức đào tạo trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp phù hợp với quy định về công nghệ thông tin và chất lượng đào tạo.
Đáng chú ý, bộ tính cho phép các trường được quyền tự chủ phê duyệt đề án liên kết đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ với trường nước ngoài mà không phải xin phép (tiền kiểm) từ cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên các trường cần đáp ứng 2 điều kiện.
Thứ nhất, cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của nước ngoài được thành lập hợp pháp và được cơ quan có thẩm quyền nước sở tại công nhận về hoạt động đào tạo.
Thứ hai, chương trình đào tạo của nước ngoài đã được kiểm định hoặc được cơ quan có thẩm quyền nước sở tại cho phép cấp văn bằng.
Về ngôn ngữ giảng dạy, bộ cho phép trường tự quyết định ngôn ngữ giảng dạy nhưng phải đảm bảo người học đạt chuẩn đầu ra về ngoại ngữ để tiếp thu chương trình.
Các trường phải công khai minh bạch trên trang thông tin điện tử về tình trạng pháp lý của đối tác, nội dung chương trình, đội ngũ giảng viên, học phí và giá trị của văn bằng.
Đồng thời phải thực hiện đăng ký hoạt động liên kết với cơ quan quản lý nhà nước để phục vụ công tác hậu kiểm.
Về tự chủ tài chính, tài sản, đầu tư, theo dự thảo, người đứng đầu cơ sở giáo dục được toàn quyền quyết định việc sử dụng các nguồn tài chính đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ để hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển cơ sở giáo dục.
Các khoản chi này bao gồm: chi trả tiền lương, thuê chuyên gia, chi hoạt động chuyên môn, quản lý, dịch vụ, trả lãi vay (đối với phần chi từ vốn vay hợp pháp) và các khoản chi cần thiết khác phục vụ trực tiếp việc thực hiện nhiệm vụ. Việc chi tiêu phải tuân thủ nguyên tắc gắn với hiệu quả hoạt động, bảo đảm tiến độ, chất lượng, được thực hiện công khai, minh bạch và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ.
Bên cạnh đó cơ sở giáo dục được phân loại “bảo đảm chi thường xuyên” hoặc “chưa tự bảo đảm chi thường xuyên” để đảm bảo nguồn lực đầu tư phát triển, đặc biệt đối với các ngành, lĩnh vực chiến lược, khoa học cơ bản và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đồng thời dự thảo nghị định quy định trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục với người học và xã hội trong thực hiện các quyền tự chủ nêu trên.
Theo nghiên cứu về tác động kinh tế - xã hội của làn sóng du học sinh quốc tế tại Hàn Quốc, do Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Di cư công bố, khoảng 71,1% du học sinh quốc tế làm thêm đang làm việc trong lĩnh vực ăn uống và lưu trú.
Tại một số địa phương như Gwangju, Incheon, Busan và các tỉnh Chungcheongnam, Gyeonggi, tỷ lệ du học sinh làm việc trong ngành nhà hàng - khách sạn vượt 80%. Nghiên cứu cho thấy chỉ 2,4% du học sinh lựa chọn công việc dựa trên mức độ liên quan đến ngành học hoặc định hướng nghề nghiệp tương lai.
Trong khi đó, yếu tố được ưu tiên nhiều nhất là thời gian làm việc phù hợp với lịch học, chiếm 54,4%. Mức lương là yếu tố quan trọng thứ hai với 24,8%.
Theo nghiên cứu, điều này cho thấy công việc làm thêm hiện chưa đóng vai trò như bước đệm giúp du học sinh tích lũy kinh nghiệm cho nghề nghiệp tương lai.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy 41,9% du học sinh làm thêm mà không khai báo chính thức với cơ quan chức năng, mà chủ yếu thông qua các "thỏa thuận miệng" với chủ sử dụng lao động.
Nghiên cứu nhận định tình trạng lao động phi chính thức, hay “lao động chui”, đang diễn ra phổ biến. Một trong những nguyên nhân chính được cho là xuất phát từ quy định tài chính hiện hành.
Theo quy định tại Hàn Quốc, du học sinh sẽ mất ưu đãi giảm 50% phí bảo hiểm y tế quốc gia nếu thu nhập hàng năm vượt 3,6 triệu won (hơn 63 triệu đồng). Để tránh vượt ngưỡng này, nhiều sinh viên và chủ sử dụng lao động lựa chọn hình thức trả lương ngoài sổ sách, trả lương bằng tiền mặt.
Nghiên cứu cho biết điều này khiến nhiều du học sinh ngần ngại báo cáo các vi phạm lao động như bị nợ lương hoặc bị đối xử bất công.
Báo cáo cũng nhận định du học sinh quốc tế đang được xem là nguồn lao động có chi phí thấp, ít phản kháng ngay cả khi chỉ nhận mức lương tối thiểu. Công việc làm thêm của họ không còn mang tính tạm thời mà đã trở thành một phần cấu trúc của ngành dịch vụ trong nước.
Các du học sinh được khảo sát cho biết rào cản ngôn ngữ, sự phân biệt đối xử và tính chất nặng nhọc của công việc tay chân là những khó khăn lớn khi làm thêm. Họ tìm việc chủ yếu dựa vào các mối quan hệ cá nhân, nền tảng trực tuyến và cộng đồng du học sinh quốc tế.
Để giải quyết tình trạng này, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống quản lý chính thức đối với việc làm thêm của du học sinh nhằm đưa hoạt động này vào khuôn khổ pháp lý.
Nghiên cứu cũng đề xuất cải cách quy định, bao gồm áp dụng chế độ khai báo hằng năm đối với các sinh viên đủ điều kiện như đạt TOPIK cấp 4 trở lên hoặc có thành tích học tập tốt, đồng thời điều chỉnh ngưỡng bảo hiểm y tế và gỡ bỏ quy định hạn chế khoảng cách nơi làm việc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 1 tiếp xúc cử tri 10 phường của Hà Nội để thông tin về kết quả kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI vào sáng 4.5. Tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dành nhiều thời gian chia sẻ với cử tri về những vấn đề còn nhiều bức xúc, điển hình trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhận thấy việc học sinh thi vào lớp 10 còn căng thẳng hơn cả thi vào đại học. Điều này tạo ra tâm lý bất an, nặng nề cho học sinh, phụ huynh và tạo ra khó khăn cho thầy cô giáo.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên là do thiếu trường lớp, thiếu giáo viên nên sinh ra thi cử để "loại các cháu không cho vào học". Trong khi đó, việc thi cử là để đánh giá chất lượng giảng dạy, không phải là một biện pháp để loại học sinh.
Để không còn tình trạng thiếu trường lớp dẫn đến áp lực tuyển sinh lớp 10, cần đẩy nhanh, mạnh việc xây dựng đủ trường lớp cho học sinh, nhất là trường THPT nhằm phục vụ đủ nhu cầu học tập của các em.
Các địa phương cần phải ưu tiên bố trí quỹ đất dành cho giáo dục xây dựng trường lớp. Chúng ta không thể nói giáo dục là quốc sách hàng đầu khi học sinh thiếu trường lớp để học tập. Cơ sở vật chất, xây dựng đủ trường lớp cần xem là tiêu chí xếp loại đánh giá sự phát triển của mỗi địa phương.
Khi có trường học tất nhiên cần phải có giáo viên. Hiện nay bài toán thiếu biên chế viên chức giáo dục chưa được giải quyết triệt để, tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ cũng chưa được giải quyết thấu đáo vì vậy dẫn đến tình trạng thiếu giáo viên kéo dài.
Để giải quyết biên chế cho giáo viên, cần có cơ chế ưu tiên trong đào tạo tuyển chọn, có thể thực hiện phân công giáo viên sau khi tốt nghiệp ĐH sư phạm về công tác ở những địa phương có nhu cầu như chúng ta đã thực hiện trước đây.
Hiện nay công tác tuyển viên chức giáo dục theo đúng quy trình rất phức tạp: báo cáo số liệu thừa thiếu giáo viên; xin biên chế; chờ duyệt định mức; xây dựng kế hoạch; thông báo – thi tuyển; niêm yết kết quả thi… nhiều thủ tục, kéo dài thời gian. Có địa phương thiếu giáo viên THPT nhưng 7, 8 năm nay không tổ chức thi tuyển được vì thừa - thiếu giáo viên cục bộ.
Để giải quyết tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ cũng như tuyển mới giáo viên, chúng ta nên bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết, rút ngắn quy trình tuyển chọn viên chức giáo dục, đẩy mạnh đào tạo giáo viên phân công về những nơi thiếu, có nhu cầu, thực hiện luân chuyển điều động biệt phái quyết liệt mạnh mẽ. Có như vậy mới đáp ứng được việc giải quyết bài toán thiếu giáo viên.
Vì sao tỷ lệ chọi khác nhau giữa các trường? Các "trường tốp" thường có tỷ lệ chọi rất cao, áp lực lớn nhưng trong khi đó còn có những trường số lượng đăng ký thấp hơn chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 công lập.
Câu trả lời đó là do chất lượng giảng dạy không đồng đều giữa các trường. Tâm lý phụ huynh và học sinh luôn muốn con em mình vào học ở những trường THPT có chất lượng giảng dạy tốt nhất. Vì vậy mà áp lực thi tuyển vào lớp 10 công lập căng thẳng hơn thi vào đại học, nhất là ở các đô thị lớn.
Để giải quyết vấn đề này, cần xem đây là trách nhiệm quản lý chính của ngành giáo dục đào tạo trong việc kiểm định đánh giá chất lượng giảng dạy của thầy cô ở các trường THPT công lập. Thiết nghĩ cần phải có đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên thực chất, có phân công hợp lý trong việc điều hòa chất lượng giữa các trường thường xuyên hàng năm.
Công tác bồi dưỡng năng lực giảng dạy giáo viên cần được chú trọng, nên tập trung thời gian cho giáo viên làm công tác chuyên môn hơn phải tốn thời gian tham gia phong trào, hồ sơ sổ sách, họp hành quá nhiều.
Giáo viên cũng cần được đánh giá định kỳ để phân công chuyên môn. Có như vậy chất lượng giảng dạy giữa các trường tương đồng, giúp học sinh không áp lực trong việc đăng ký chọn trường tuyển sinh lớp 10.
Bộ GD-ĐT vừa công bố dự thảo Nghị định quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và lộ trình miễn học phí, giáo trình môn học giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp trên Cổng thông tin điện tử của bộ để lấy ý kiến góp ý theo quy định.
Đề xuất miễn phí sách giáo khoa (SGK) của Bộ GD-ĐT qua hình thức thư viện khiến nhớ đến thời tiểu học trước đây. Lúc ấy kinh tế nghèo nàn, in ấn khó khăn, sách rất hiếm và quý, chúng tôi phải mượn sách từ đầu mỗi năm học.
Hiện nay tình hình xã hội đã khác nhưng việc áp dụng mô hình này vẫn cho thấy tính hợp lý của nó.
Về mặt kinh tế, chi phí mua SGK mỗi năm tuy không phải là quá lớn đối với một số gia đình nhưng lại là gánh nặng đáng kể với những hộ có thu nhập thấp, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi. Khi SGK được cung cấp miễn phí thông qua thư viện, phụ huynh sẽ giảm bớt áp lực đầu năm học, từ đó có điều kiện đầu tư tốt hơn cho các nhu cầu học tập khác của con em.
Về mặt xã hội, chính sách này góp phần tăng cường công bằng trong giáo dục. Khi mọi học sinh đều được tiếp cận SGK, khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng miền sẽ được thu hẹp. Đặc biệt, việc đưa sách chữ nổi Braille vào hệ thống cho thấy sự quan tâm đến học sinh khuyết tật, một điểm rất đáng ghi nhận về tính nhân văn.
Không chỉ vậy, mô hình thư viện dùng chung còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp hình thành ở học sinh ý thức giữ gìn tài sản chung, biết trân trọng sách vở và sử dụng có trách nhiệm. Thay vì coi SGK là vật sở hữu cá nhân có thể viết vẽ tùy ý, học sinh sẽ phải thay đổi thói quen giữ gìn. Từ đó hướng tới cách học khoa học hơn là ghi chép ra vở, tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức.
Ngoài ra, việc Nhà nước chủ động đầu tư và quản lý SGK cũng giúp ổn định thị trường sách, hạn chế tình trạng giá cả biến động hoặc bị chi phối bởi nhiều yếu tố ngoài chuyên môn. Nếu thực hiện tốt, đây sẽ là bước tiến quan trọng, đưa SGK trở thành một dạng "tài sản công" phục vụ lâu dài cho xã hội.
Một lợi thế dễ thấy để thực hiện kế hoạch này là từ năm học sau 2026-2027, cả nước thực hiện thống nhất một bộ sách giáo khoa. Điều này giúp các trường dễ dàng thực hiện.
Dù mang nhiều ý nghĩa tích cực, đề xuất này vẫn cần được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với thực tế.
Chẳng hạn, không nhất thiết áp dụng miễn phí đại trà cho tất cả học sinh. Có thể cân nhắc kết hợp 2 hình thức là miễn phí hoàn toàn đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn và cho phép phụ huynh có điều kiện tự nguyện mua SGK nếu muốn con em sử dụng sách riêng. Cách làm này vừa đảm bảo công bằng, vừa tránh lãng phí ngân sách, đồng thời đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học.
Cần xây dựng cơ chế bảo quản và sử dụng sách rõ ràng cho thư viện nhà trường khi để học sinh mượn sách. Nên quy định cụ thể như không được viết, vẽ vào SGK; phải bọc sách, giữ gìn cẩn thận. Cuối năm có kiểm tra, đánh giá tình trạng sách khi trả. Có thể áp dụng hình thức ký cam kết hoặc đặt cọc tượng trưng, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm. Đồng thời, cần có quy định xử lý hợp lý trong trường hợp làm hư hỏng hoặc thất lạc.
Hệ thống thư viện trường học cần được đầu tư đồng bộ. Không chỉ dừng ở việc cấp phát sách, mà còn phải có các phần mềm quản lý mượn và trả. Bố trí thêm nhân sự phụ trách. Kho lưu trữ sách phải đảm bảo điều kiện bảo quản tốt. Nếu không mô hình thư viện rất dễ rơi vào tình trạng quá tải, kém hiệu quả.
Cần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng sách tham khảo và tài liệu bổ trợ. Thực tế hiện nay cho thấy dù SGK có thể được miễn phí, nhưng nếu học sinh vẫn bị "khuyến khích" mua thêm nhiều loại sách khác thì gánh nặng chi phí vẫn không giảm. Do đó, ngành giáo dục cần có hướng dẫn rõ ràng, tránh tình trạng lạm dụng.
Cuối cùng, nên đẩy mạnh ứng dụng SGK điện tử song song với sách in. Đây là xu hướng tất yếu, vừa tiết kiệm chi phí lâu dài vừa phù hợp với chuyển đổi số trong giáo dục.