Sáng 3-4, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp Học viện Cán bộ TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học cấp bộ “Tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị”.
Phát biểu chào mừng, Phó bí thư Thành ủy TP.HCM Văn Thị Bạch Tuyết cho biết TP.HCM đang đối mặt với những thách thức khi các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng Internet, mạng xã hội, diễn đàn truyền thông để xuyên tạc, tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng.
Từ nội dung hội thảo, TP.HCM sẽ tiếp thu, vận dụng vào điều kiện thực tế của thành phố, góp phần tăng cường hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ đức, đủ tài, luôn chủ động, sáng tạo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị trong điều kiện, tình hình mới.
Phát biểu tại hội thảo, TS Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Vụ trưởng Vụ Các trường chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nhìn nhận trong thời kỳ mới, các trường chính trị và chương trình trung cấp lý luận chính trị không chỉ là thiết chế đào tạo mà còn là “tuyến đầu” trong việc xây dựng “lá chắn tư tưởng” từ cơ sở.
Bà Nhàn lý giải đây là nơi trực tiếp đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt của hệ thống chính trị địa phương, tiếp xúc thường xuyên với quần chúng, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn và định hướng dư luận xã hội tại địa phương.
Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP.HCM Lê Văn Minh chỉ rõ thực tiễn tại TP.HCM, các thế lực thù địch không còn sử dụng những thủ đoạn đơn lẻ mà đã chuyển sang chiến lược “đa kênh, đa nền tảng và tinh vi hóa bằng công nghệ”.
Cụ thể, chúng lợi dụng các vấn đề nhạy cảm như quy hoạch đô thị, ô nhiễm môi trường hay các dự án hạ tầng lớn để tạo ra các kịch bản tạo bất ổn, gieo rắc sự hoài nghi, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với chính quyền TP.
ThS Lê Đức Chín, Học viện Cán bộ TP.HCM, đánh giá việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị có những thuận lợi nhất định.
Tuy vậy, với tốc độ lan truyền nhanh của Internet, việc thiếu các nguồn tư liệu chính xác và được kiểm chứng khiến một số giảng viên gặp khó khăn trong việc xây dựng hệ thống luận cứ có tính thuyết phục để phân tích và phản bác các luận điệu sai trái trong các bài giảng.
ThS Lê Đức Chín gợi ý trong chương trình đào tạo cần bổ sung các vấn đề mới như đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng, nhận diện thông tin sai trái và kỹ năng xử lý tình huống tư tưởng ở cơ sở.
Song song đó, không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường đối thoại học thuật qua các hoạt động thảo luận, trao đổi học thuật và xử lý tình huống thực tiễn, với phương châm “giảng viên và học viên đồng kiến tạo tri thức mới, giá trị mới”.
PGS.TS Lê Thị Anh Đào, Phó giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, cho biết học viện luôn nhận thức vai trò của đảng viên và giảng viên trường Đảng, tích cực nêu gương, sử dụng luận cứ khoa học để phản bác luận điệu thù địch.
Học viện ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và tuyên truyền, duy trì các trang mạng xã hội để triển khai kế hoạch truyền thông, trực tiếp nêu quan điểm chính thống. Đồng thời, công tác dự giờ, đánh giá giảng viên được quan tâm, trong đó việc thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW là tiêu chí “cứng” trong đánh giá.
PGS.TS Trương Thị Hiền, Chủ tịch Hội Nữ trí thức TP.HCM, nguyên Giám đốc Học viện Cán bộ TP.HCM, cũng đánh giá việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần được triển khai thống nhất và xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động đào tạo. Đặc biệt, cần chú trọng những hình thức giảng dạy mới, trực quan, sinh động như phòng học chuyên đề hay không gian văn hóa Hồ Chí Minh, tổ chức nghiên cứu thực tế tại các di tích lịch sử, địa chỉ đỏ…
Phía Học viện Lục quân, PGS.TS Nguyễn Công Sơn, Phó chính ủy học viện, cho biết đơn vị đã chủ động tổ chức các lớp tập huấn, mời cán bộ, giảng viên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh bồi dưỡng về chương trình, nội dung, kỹ năng và phương pháp giảng dạy cao cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, giảng viên học viện.
Theo quyết định điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, các sân bay tiềm năng gồm sân bay Hà Tĩnh dự kiến tại khu vực xã Thiên Cầm và xã Yên Hòa; sân bay Quảng Ngãi tại đảo Lý Sơn; sân bay Tây Ninh tại xã Cầu Khởi; sân bay Tuyên Quang chưa xác định vị trí. Riêng sân bay Lâm Đồng được quy hoạch là sân bay tiềm năng, vị trí sẽ tiếp tục được nghiên cứu khi địa phương lập đề án.
Các địa điểm trên đều do địa phương đề xuất trước đó và mới được đưa vào danh mục sân bay tiềm năng. Khi xây dựng đề án hình thành cảng hàng không, từng địa phương sẽ tiếp tục nghiên cứu, lựa chọn vị trí tối ưu trước khi cấp có thẩm quyền xem xét.
Theo quy hoạch điều chỉnh, giai đoạn 2021-2030 cả nước có 36 cảng hàng không, gồm 19 cảng hàng không quốc tế và 17 cảng hàng không nội địa.
19 cảng hàng không quốc tế gồm: Cao Bằng, Vân Đồn, Cát Bi, Nội Bài, Gia Bình, Ninh Bình, Thọ Xuân, Vinh, Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Vân Phong, Cam Ranh, Liên Khương, Long Thành, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Phú Quốc và Côn Đảo.
17 cảng hàng không nội địa gồm: Lai Châu, Điện Biên, Sa Pa, Nà Sản, Bạch Long Vĩ, Đồng Hới, Quảng Trị, Phù Cát, Tuy Hòa, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Măng Đen, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mau, Thành Sơn và Thổ Chu.
Đến năm 2050, Việt Nam dự kiến có 37 cảng hàng không, bổ sung thêm cảng hàng không quốc tế thứ hai của vùng Thủ đô.
Quy hoạch cũng ưu tiên đầu tư các cảng hàng không đầu mối tại vùng Thủ đô Hà Nội và vùng TP HCM, đồng thời nâng cấp các sân bay hiện hữu và nghiên cứu đầu tư sân bay mới. Mục tiêu đến năm 2050, hệ thống cảng hàng không đạt công suất khoảng 249 triệu hành khách mỗi năm và hơn 95% dân số có thể tiếp cận sân bay trong phạm vi 100 km.
Ngày 15/5, tại hội thảo góp ý ý tưởng Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050 do UBND thành phố tổ chức, kiến trúc sư Hoàng Sừ, nguyên Phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Quảng Nam (cũ), cho rằng khu nội đô thành phố đang đứng trước nguy cơ quá tải hạ tầng.
Theo ông Sử, tình trạng quá tải hạ tầng đã thể hiện rõ qua việc nhiều khu vực nội đô thường xuyên xảy ra ùn tắc dù dân số hiện mới khoảng 1,3 triệu người. Trong khi đó, theo định hướng quy hoạch đến năm 2030, dân số Đà Nẵng dự kiến khoảng 2,5 triệu người.
Ông Sừ cho rằng, Đà Nẵng sẽ phải đối mặt cùng lúc với 3 áp lực lớn khi phát triển 7 phân khu thuộc Khu thương mại tự do, xây dựng cảng biển công suất 70 triệu tấn/năm và hình thành Khu tài chính quốc tế.
Để giải quyết bài toán dài hạn, kiến trúc sư Hoàng Sừ đề xuất chiến lược xây dựng một “Đà Nẵng mới” ở phía Nam thay vì tiếp tục nén dân số vào khu vực lõi đô thị hiện hữu.
Theo đề xuất, đô thị mới sẽ kéo dài từ bờ Nam sông Cổ Cò đến cuối huyện Thăng Bình cũ, với quy mô khoảng 20.000ha. Khu vực được định hướng cách đô thị cũ khoảng 30 phút di chuyển bằng ô tô. Khi có đô thị mới, cùng với giữ ổn định quy mô dân số của đô thị lõi hiện tại, người dân sẽ giãn dần sang khu vực mới để giảm áp lực giao thông, môi trường và hạ tầng kỹ thuật.
Kiến trúc sư đề xuất thành phố nghiên cứu chuyển 1 trong 7 phân khu của Khu thương mại tự do về phía Nam Đà Nẵng, quy hoạch khoảng 4.000ha để hình thành một “siêu Khu thương mại tự do”.
Ông Sừ cũng đề xuất chuyển trung tâm hành chính của thành phố về khu đô thị mới phía Nam Cửa Đại (Đà Nẵng). Theo ông, việc này không chỉ mang ý nghĩa tổ chức không gian đô thị mà còn là cam kết phát triển một đô thị sinh thái, thu hút nhà đầu tư.
Cùng nói về trung tâm hành chính, ông Lê Trí Thanh, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Đà Nẵng, cho rằng thành phố cần xác định rõ các đô thị chức năng gắn với động lực kinh tế của từng khu vực.
Ông Thanh nhìn nhận, trung tâm hành chính mới trong giai đoạn 2030-2045 không chỉ là nơi đặt trụ sở mà cần được quy hoạch đồng bộ hạ tầng, không gian đô thị để tạo động lực phát triển lâu dài cho thành phố.
Sau sáp nhập với tỉnh Quảng Nam từ ngày 1/7/2025, thành phố Đà Nẵng mới có diện tích hơn 11.859km2 với 23 phường, 70 xã và đặc khu Hoàng Sa. Hiện tại Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương lớn thứ hai cả nước.
Trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng mới được đặt tại phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (cũ).
Đây là nội dung đáng chú ý trong Nghị định số 237 vừa được Chính phủ ban hành, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí, có hiệu lực từ 1-7.
Nghị định dành riêng điều 24 quy định về trách nhiệm của cơ quan báo chí trong việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, với những quy định cụ thể.
Đó là, cơ quan báo chí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, biên tập, phân phối nội dung thông tin và các hoạt động báo chí khác phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về trí tuệ nhân tạo và các quy định có liên quan.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm kiểm chứng, rà soát và chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc hỗ trợ tạo ra.
Cơ quan báo chí phải thực hiện thông báo và gắn nhãn rõ ràng, tại vị trí dễ nhận biết đối với văn bản, hình ảnh, âm thanh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật.
Việc thông báo và gắn nhãn được thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Cơ quan báo chí không được sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra hoặc lan truyền nội dung giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, hoặc nội dung có khả năng gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Cơ quan báo chí phải thiết lập và duy trì quy trình thẩm định, biên tập, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm cá nhân đối với việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; lưu giữ nhật ký hoạt động và hồ sơ kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm cung cấp nội dung thông tin sử dụng trí tuệ nhân tạo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Nghị định cũng quy định Nhà nước khuyến khích các cơ quan báo chí nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, phân tích và phân phối nội dung thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, trên cơ sở bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật và trách nhiệm biên tập của cơ quan báo chí.
Ngoài ra, nghị định cũng có nhiều điểm mới đáng chú ý liên quan tới hoạt động báo chí.
Đó là sẽ tổ chức nền tảng số báo chí quốc gia.
Nền tảng số báo chí quốc gia được tổ chức theo mô hình hệ thống gồm các nền tảng thành phần do các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện triển khai, phát triển và vận hành theo quy định của pháp luật.
Nền tảng này bao gồm: Đài Truyền hình Việt Nam phát triển nền tảng chuyên sâu về truyền hình số; Đài Tiếng nói Việt Nam phát triển nền tảng chuyên sâu về phát thanh số; Báo Nhân Dân phát triển nền tảng chuyên sâu về báo chí điện tử.
Cũng theo nghị định này, kể từ ngày 1-7, cơ quan báo chí khi hoạt động trên không gian mạng, ngoài đăng, phát nội dung báo chí còn được tích hợp hoạt động dịch vụ trực tuyến.
Các hoạt động bao gồm: hoạt động dịch vụ công, thương mại điện tử, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, y tế, cung cấp nội dung theo yêu cầu và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.