Tôi thấy có một nghịch lý rất dễ bắt gặp ở các đô thị lớn hiện nay: Lương vừa về tài khoản đã lập tức chia nhỏ cho tiền thuê nhà, học phí của con, viện phí của cha mẹ, tiền điện nước, xăng xe, thực phẩm. Đến cuối tháng, thứ còn lại đôi khi không phải là khoản tiết kiệm, mà là cảm giác mình đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn luôn sống trong trạng thái “vừa đủ chống đỡ”.
Vì thế, khi nhìn bảng lương và thấy một khoản thuế thu nhập cá nhân tiếp tục bị khấu trừ, không ít người bắt đầu đặt ra câu hỏi liệu mức thu nhập hơn 20 triệu hay gần 30 triệu đồng một tháng ở thời điểm này có còn được xem là “thu nhập cao” hay không?
Bởi thực tế ở Hà Nội hay TP HCM, một gia đình trẻ với mức thu nhập ấy vẫn có thể chật vật giữa áp lực nuôi con, chăm sóc cha mẹ và nỗi lo nhà ở kéo dài nhiều năm chưa dứt.
Đó là lý do đề xuất mới của Bộ Tài chính về việc người có thu nhập trên 28,6 triệu đồng một tháng mới bắt đầu phải nộp thuế thu nhập cá nhân ngay lập tức thu hút sự quan tâm lớn của xã hội.
Nhưng điều khiến dư luận chú ý không chỉ nằm ở con số 28,6 triệu đồng. Điều quan trọng hơn là thông điệp phía sau đề xuất ấy. Cơ quan hoạch định chính sách dường như đã bắt đầu nhìn rõ hơn áp lực chi tiêu thực tế của người lao động trong một xã hội mà chi phí sống đang thay đổi rất nhanh.
Ở Hà Nội hay TP HCM bây giờ, một gia đình trẻ có con nhỏ rất dễ chi tiêu 25-35 triệu đồng mỗi tháng mà vẫn chỉ đang cố giữ một cuộc sống ổn định ở mức cơ bản. Tiền thuê nhà tăng theo từng năm. Tiền gửi trẻ, thực phẩm, điện nước, xăng xe, bảo hiểm, thuốc men… tất cả đều âm thầm leo thang từng tháng một.
Nhiều người đi làm có cảm giác lương tăng không phải để sống tốt hơn, mà chỉ để đuổi theo tốc độ tăng của chi phí sinh hoạt. Và rồi một nghịch lý xuất hiện: không ít người đang bị xếp vào nhóm “có thu nhập chịu thuế”, nhưng thực tế vẫn chưa đủ khả năng mua nhà, chưa dám sinh thêm con, chưa thể tích lũy cho tuổi già, thậm chí không ít người vẫn sống trong cảm giác bấp bênh nếu chẳng may mất việc vài tháng. Họ không nghèo, nhưng cũng rất xa mới tới được trạng thái gọi là “dư dả”.
Nhiều năm qua, xã hội vẫn quen với suy nghĩ rằng thu nhập gần 30 triệu đồng/tháng là “mức sống cao”. Nhưng thực tế ở các đô thị lớn hiện nay cho thấy, con số ấy đôi khi chỉ đủ để một gia đình nhỏ duy trì sự ổn định tương đối. Sau tiền thuê nhà, tiền học cho con, tiền thuốc men cho cha mẹ, các khoản bảo hiểm, điện nước, xăng xe và những chi phí phát sinh không tên khác, phần còn lại không nhiều như người ngoài vẫn tưởng.
Có những người lương gần 30 triệu đồng nhưng nhiều năm chưa dám mua nhà. Có những cặp vợ chồng trì hoãn sinh con thứ hai không phải vì không muốn, mà vì sợ áp lực tài chính. Cũng có những gia đình nhìn mức thu nhập trên giấy tờ tưởng khá, nhưng chỉ một đợt nằm viện kéo dài là toàn bộ khoản tích lũy lập tức bị xóa sạch.
Vì thế, điều đáng nói ở đề xuất lần này không nằm ở việc người dân sẽ giảm được bao nhiêu tiền thuế mỗi tháng. Điều quan trọng hơn là chính sách đang dần thừa nhận một thực tế rất đời thường: người có thu nhập gần 30 triệu đồng một tháng nhưng còn phải nuôi con, chăm cha mẹ, lo giáo dục và y tế… chưa chắc đã là người “dư dả”.
Đặc biệt, nhóm lao động trí thức và trung lưu đô thị – những người làm văn phòng, kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, chuyên viên tài chính, nhân sự công nghệ, quản lý cấp trung… Đây là nhóm đang làm việc với cường độ rất cao, chịu áp lực nghề nghiệp lớn, nhưng lại thường xuyên có cảm giác mình bị “kẹt ở giữa”. Họ không thuộc nhóm thu nhập thấp để nhận hỗ trợ. Nhưng cũng chưa đủ giàu để sống thật sự thoải mái giữa các đô thị đắt đỏ.
Họ có thể kiếm vài chục triệu đồng mỗi tháng, nhưng vẫn lo lắng về tiền học của con, khoản vay mua nhà kéo dài hàng chục năm, chi phí chăm sóc cha mẹ già và nỗi bất an nếu một ngày mất việc hoặc đau ốm.
Dù đề xuất nâng ngưỡng chịu thuế lần này nhận được nhiều phản hồi tích cực, không ít chuyên gia cho rằng vấn đề của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam thực ra không chỉ nằm ở mức giảm trừ gia cảnh.
Điều cần nhìn lại sâu hơn là cách thiết kế toàn bộ hệ thống thuế hiện nay từ biểu thuế, khoảng cách giữa các bậc thuế cho tới cách chính sách phản ánh chênh lệch chi phí sống trong xã hội. Bởi có một thực tế mà rất nhiều người lao động đang cảm nhận rõ: thu nhập tăng nhưng cảm giác “dễ thở hơn” lại không tăng tương ứng.
Hiện nay, khoảng cách giữa các bậc thuế còn khá ngắn. Chỉ cần lương tăng thêm một mức nhất định, người lao động có thể lập tức bước sang bậc thuế cao hơn, dù mức sống thực tế gần như chưa thay đổi đáng kể.
Về lý thuyết, việc điều chỉnh giảm trừ theo vùng có thể giúp chính sách công bằng hơn với người dân ở các đô thị đắt đỏ. Nhưng trên thực tế, đây là bài toán rất phức tạp.
Bởi một khi chia theo vùng miền, hệ thống quản lý thuế sẽ khó vận hành hơn rất nhiều. Câu hỏi đặt ra là phân chia theo tiêu chí nào? Theo địa chỉ thường trú hay nơi làm việc? Theo mức giá sinh hoạt hay theo tốc độ đô thị hóa? Và nếu chi phí sống thay đổi liên tục, cơ chế điều chỉnh sẽ được cập nhật ra sao để tránh bất hợp lý mới phát sinh?
"Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông, bố mẹ không có điều kiện. Không phải họ không muốn cho con cái một nền tảng tốt hơn, mà đơn giản là không có gì để cho. Vì vậy, từ rất sớm, tôi đã quen với việc phải tự lo cho bản thân và sau này còn phải lo ngược lại cho gia đình. Có lẽ chính những trải nghiệm đó khiến tôi có góc nhìn khác với nhiều người về chuyện cha mẹ có nên để lại tài sản cho con hay không?
Tôi từng nghe nhiều người cho rằng con cái phải tự lập hoàn toàn, cha mẹ không nên chu cấp quá nhiều vì dễ khiến con ỷ lại. Nhưng nếu nhìn từ những gì mình đã trải qua, tôi lại tin điều ngược lại: một bệ đỡ đúng lúc có thể thay đổi cả cuộc đời của một người.
Tôi đi lên từ hai bàn tay trắng. Những năm đầu ra đời, tôi vừa lo kiếm sống, vừa gánh trách nhiệm với gia đình. Mỗi ngày đều xoay quanh chuyện cơm áo, tiền nhà, chi phí sinh hoạt. Và chính áp lực phải "cày cuốc" liên tục để tồn tại khiến tôi bỏ lỡ rất nhiều cơ hội.
Có những khóa học tôi muốn tham gia để nâng cao năng lực nhưng không đủ tiền. Có những dự án tôi nhìn thấy tiềm năng nhưng không dám thử vì cần vốn đầu tư ban đầu. Có những thời điểm tôi biết nếu mình dành thêm thời gian học hỏi hoặc mở rộng mối quan hệ thì tương lai có thể khác đi rất nhiều, nhưng thực tế là tôi phải ưu tiên kiếm tiền cho ngày mai trước đã.
Điều khiến tôi nuối tiếc nhất là cảm giác bất lực khi nhìn cơ hội tốt hơn trôi qua chỉ vì mình không có một điểm tựa tài chính tối thiểu. Nếu ngày đó tôi có một "bệ đỡ", dù không cần quá lớn, cuộc sống có lẽ đã khác theo hướng tích cực hơn rất nhiều. Một khoản tiền để yên tâm học thêm vài năm, một căn nhà để không phải lo tiền thuê trọ, hay đơn giản là một khoản dự phòng giúp mình dám thử sức với cơ hội mới.
>> Vợ trách tôi vô tâm vì 55 tuổi nghỉ hưu sớm khi chưa mua nhà cho con
Chính vì hiểu cảm giác đó nên dù con tôi còn rất nhỏ, tôi đã bắt đầu tính toán cho tương lai của chúng. Tôi không muốn con lớn lên trong tâm thế chỉ biết chăm chăm kiếm tiền để tồn tại. Tôi muốn nếu có năng lực và cơ hội tốt xuất hiện, chúng đủ điều kiện để nắm lấy thay vì bỏ lỡ vì áp lực cơm áo như tôi từng trải qua.
Điều đó không có nghĩa tôi muốn nuông chiều hay để con sống dựa dẫm. Tôi vẫn muốn con hiểu giá trị của lao động, biết tự lập và có trách nhiệm với cuộc sống của mình. Nhưng tôi không nghĩ việc bắt con phải tự bươn chải từ con số 0 mới là cách dạy tốt. Theo tôi, cha mẹ cố gắng tích lũy để con có nền tảng tốt hơn không phải là làm hại con, mà là giúp con có thêm lựa chọn trong cuộc đời.
Nhiều người lo rằng để lại tài sản cho con thì tuổi già của cha mẹ sẽ bất an. Tôi đồng ý rằng không ai nói trước được tương lai. Nhưng nếu một người có trong tay vài tỷ đồng tiết kiệm mà vẫn không thể sống ổn lúc về già, thì hàng triệu người khác với số tiền ít hơn rất nhiều chắc còn khó khăn hơn nữa.
Tôi nghĩ điều quan trọng không phải là có để lại tài sản cho con hay không, mà là cách chuẩn bị tài chính đủ để vừa bảo đảm tuổi già cho mình, vừa tạo được nền tảng cho con cái nếu có thể. Bởi suy cho cùng, đời cha mẹ nào cũng mong con mình có cuộc sống tốt hơn mình từng có".
Đó là quan điểm của độc giả Lobbyman sau bài viết "Tôi quyết giữ 10 tỷ và nhà 5 tầng để dưỡng già, không chia thừa kế sớm" của tác giả Quan Nhan. Trong nhiều gia đình Việt, chuyện "cha mẹ có nên để lại tài sản cho con?" luôn gây nhiều tranh luận. Có người cho rằng con cái phải tự lập hoàn toàn mới trưởng thành, cha mẹ càng "trải đường" càng dễ khiến con ỷ lại. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng một nền tảng tài chính ổn định không làm con yếu đi, mà giúp chúng có thêm cơ hội phát triển trong cuộc sống.
Lại một mùa Trung thu nữa rục rịch sắp đến, tôi vừa đọc được một trường hợp đang gây nhiều tranh luận trên mạng xã hội.
Đó là câu chuyện về một chiếc bánh Trung Thu dẻ có giá xưởng khoảng 155.000 đồng nhưng đến tay người tiêu dùng lại khoảng 290.000 đồng. Chênh lệch 135.000 đồng khiến không ít người đặt câu hỏi: Người bán có "ăn dày"?, một số người còn nhận định đây là nguyên nhân đẩy giá bánh Trung thu khiến chúng ngáo giá.
Thú thật, nếu chưa bon chen đi buôn bán, có lẽ tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng sau khi từng nhập hàng về bán tôi có một cái nhìn khác hơn.
Rất nhiều người có thói quen lấy giá bán trừ giá nhập rồi mặc định đó là tiền lời. Như câu chuyện trên, nhập một chiếc bánh với giá 155.000 đồng, bán 290.000 đồng, nhìn qua tưởng lời 135.000 đồng.
Nhưng trước khi người bán cầm được số tiền đó, họ đã phải chi cho rất nhiều khoản. Đầu tiên là chi phí quảng cáo. Ngày nay, rất ít cửa hàng online chỉ đăng bài rồi tự có khách. Muốn tiếp cận người mua phải chạy quảng cáo, thuê KOL, làm video, chụp ảnh, livestream... Những khoản này đều được phân bổ vào giá bán.
Tiếp theo là chi phí đóng gói, hộp, túi, tem nhãn, nhân viên, kho bãi, phần mềm quản lý, điện nước và nhiều khoản vận hành khác. Chưa kể phí thanh toán, phí sàn thương mại điện tử, phí vận chuyển hỗ trợ khách hàng, chi phí đổi trả, hàng hư hỏng hoặc tồn kho.
Đặc biệt với bánh Trung Thu, rủi ro còn lớn hơn. Đây là mặt hàng chỉ bán được trong một thời gian rất ngắn. Qua mùa là gần như hết giá trị thương mại. Nếu nhập nhiều mà bán chậm, người bán có thể phải xả hàng, thậm chí chấp nhận lỗ.
Điều này khác hoàn toàn với những mặt hàng có thể bán quanh năm. Vì vậy, phần lợi nhuận của những chiếc bánh bán được cũng phải bù cho rủi ro của những chiếc không bán được.
Tất nhiên, cũng không thể phủ nhận sẽ có những đơn vị định giá rất cao để tối đa hóa lợi nhuận, nhất là khi sản phẩm tạo được hiệu ứng trên mạng xã hội hoặc nguồn cung khan hiếm.
Rủi ro mà người bán phải chấp nhận khi bán thực phẩm, lại còn theo mùa không hề nhỏ nên họ có quyền tính đủ chi phí để duy trì việc kinh doanh. Điều quan trọng là thị trường đủ minh bạch để khách hàng thấy mức giá mình trả là xứng đáng với chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhận được.
Trời nhá nhem tối, chắc khoảng 18h, tôi đang chở con chạy đi mua đồ ăn, thì thoáng thấy cái bóp (ví) nằm dưới đường. Tôi định bụng chạy qua luôn vì không phải của mình và hy vọng ai đó nhặt được thì họ sẽ trả.
Nhưng bất chợt tôi nghĩ, lỡ ai đó nhặt được mà họ không trả cho người mất thì sao (lại nhiều chuyện). Tôi chở con quay lại, nhặt chiếc bóp, sau khi dừng lại tôi mở ra kiểm tra thì thấy hình thẻ một cô sinh viên.
Trong bóp có Căn cước công dân, thẻ ATM, thẻ giữ xe, thẻ lưu trú ký túc xá, tiền mặt (tôi không lấy ra đếm vì thấy không được phép)...và nhiều giấy tờ khác nữa.
Tôi thấy, những thứ gì quý giá của cô sinh viên xa nhà này đều nằm trong bóp.
Trên đường đi mà tôi cứ nghĩ đến cô gái ấy, liệu mình có kịp trả bóp cho cô ấy có tiền ăn cơm tối không? Không biết cô ấy có vào ký túc xá được không? Không biết cô ấy có gửi xe được không? Chắc cô ấy khóc hết nước mắt vì cả "gia tài" của một đứa sinh viên xa nhà nằm trong bóp.
Sau khi mua xong đồ, lần theo thông tin trên thẻ lưu trú ký túc xá, cha con tôi quay xe tìm đến nơi đó. Tôi không biết hỏi ai vì kín cổng cao tường, tôi đi đến cổng có nhiều sinh viên ra vào.
Có một nhà bảo vệ nhưng không có người trực, tôi suy tính và cẩn thận lấy ra cái thẻ lưu trú, tôi chặn hỏi một bạn sinh viên: "Chú có nhặt được cái thẻ này, có phải người trên thẻ cư trú trong ký túc xá này không?". Bạn ấy trả lời: "Dạ đúng".
Tôi hỏi tiếp: "Vậy có cách nào chú gửi trả cho người trên thẻ?". Bạn ấy nói: "Chú đi vào bên trong nhờ chú bảo vệ đang ngồi".
Tôi bước vào trong sân, thấy một anh bảo vệ, tôi cũng cầm thẻ lưu trú hỏi, có phải cô sinh viên này ở trong này không? Anh ấy cầm thẻ xem và nói đúng.
Tôi nói mình nhặt được không chỉ cái thẻ, mà cả cái bóp, tôi từ từ lấy trong túi ra cái bóp, bỏ cái thẻ lưu trú vào, rồi đưa cả bóp cho anh bảo vệ, nhờ trả cho cô bé bị mất, tôi nói trong bóp có tiền có thẻ, có nhiều thứ giấy tờ, nhờ anh trả giúp cho cô ấy.
Anh ấy mở bóp và nói có cả tiền nữa nè, và cám ơn tôi, tôi quay ra và chở con về nhà.
Trên đường về, lòng thấy nhẹ nhõm, nhưng có một thoáng bất an trong tâm trí vì không trao trả tận tay cho cô sinh viên kia. Giá như cô ấy có thông tin về số điện thoại để tôi gọi trực tiếp.
Tôi nghĩ, mọi người nên để số điện thoại của mình trong bóp, để khi không may bị rơi, thì người nhặt có thể liên lạc. Tôi nghĩ, với những người không muốn trả, nếu không có kênh liên lạc thì họ xem như "muốn tốt mà không thể", còn có số liên lạc mà không hoàn lại thì tôi tin người nhặt sẽ áy náy lắm.