Mùa hè này, vợ chồng ông bạn tôi hẹn rủ nhau sẽ chạy xe máy lên thăm farm cà phê của ông ấy trên vùng cao nguyên. Nếu như thời điểm vài năm trước, danh xưng đầy đủ của nó phải là “farmstay”.
Trước đó, từ một rẫy cà phê, ông bạn tôi dự tính đầu tư một tỷ đồng để làm farmstay, theo trào lưu đang nổi lúc đó. Những dự tính đầy vẻ mộng mơ: Khu này trồng hoa, khu kia làm một cái sàn, trên đó kê cái bàn và vài cái ghế để thưởng trà sáng chiều, khu kia thì đắp một cái lò để buổi tối nướng thịt.
À, trong lúc ông bạn tôi đang tham khảo nên ngồi bệt uống trà hay dùng ghế thì chi phí đã đội lên thêm vài trăm triệu đồng nữa.
Đã vào thế phóng lao phải theo lao, cứ vung tiền ra đầu tư trang trí, thất thoát trong quá trình xây dựng, chi phí vận hành… hai vợ chồng làm việc ở thành phố thì tất nhiên phải thuê thêm vài người săn sóc, quản lý, tiếp khách, dịch vụ quảng cáo… thế rồi ông bạn tôi trót quăng vào đó hơn 3,5 tỷ đồng.
Mở cửa đón khách được vỏn vẹn hai mùa mưa thì sứ mệnh “một nơi chốn xả hơi, chữa lành” coi như kết thúc. Phải đến 30% lượng khách năm đầu là mối quan hệ bạn bè, người quen lên chơi ủng hộ.
Một cặp vợ chồng người quen chung nói với tôi: “Ước gì cũng có đất, có tiền làm như anh chị ấy”. Tôi bảo ngay: “Có tiền thì cứ làm khu nhà vườn mình ở cho sướng, bày ra kinh doanh thì mất luôn tiền mà khu farm cũng chẳng sửa chữa để ở được”.
Và sự thật là sau khi đi vào hoạt động, hàng tháng phải chi một đóng tiền trả lương nhân viên, bảo dưỡng… làm vợ chồng ông bạn tôi hụt hơi. Mấy tháng cuối còn có chương trình đăng ký ở một đêm khuyến mãi xem tarot chữa lành, khai vấn… cho lời khuyên các kiểu nhưng cũng không ăn thua.
Các mô hình kinh doanh homestay, farmstay chết vì sao? Theo tôi nếu bỏ qua hình thức, thì sự thất bại của mô hình do việc xây theo ý thích và mộng mơ của chủ, chứ không phải khách.
Farmstay có nguồn gốc từ Italy, xuất hiện từ thế kỷ trước, mô hình này kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch. Nông dân mở cửa một phần trang trại của họ, vừa để sản xuất nông nghiệp vừa cung cấp chỗ ở và trải nghiệm cho khách du lịch.
Hãy nhớ các từ khóa “nông dân”, “trang trại”, “vừa sản xuất nông nghiệp vừa cung cấp chỗ ở và trải nghiệm cho khách du lịch”, ta có thể biết được lý do thoái trào và vì sao một cặp vợ chồng ở thành phố, rót tiền tỷ đầu tư farmstay thất bại.
Kế đến là mục đích “kinh doanh chữa lành”. Thật ra, khách du lịch Việt nói chung và giới trẻ Việt Nam nói riêng, khi đi du lịch phần đông họ chẳng thiết tha gì chữa lành đâu.
Mỗi nơi họ ghé một tí, cưỡi ngựa xem hoa, chụp cả trăm pô hình rồi tìm một quán cà phê nào đó ngồi lựa ảnh, đăng dần lên mạng xã hội mà thôi. Trong khi số thật sự cần chữa lành rất ít, thì mô hình sinh ra phục vụ cho ai?
Tôi thấy có quá nhiều lý do thất bại nếu người muốn kinh doanh loại hình du lịch này không tính toán kỹ. Thà đầu tư xây một khách sạn, không có khách tự túc thì còn có khách theo tour (khách đi tour chả công ty du lịch nào liên hệ farm).
Và bây giờ, cái farm của ông bạn tôi lại quay về với cái rẫy cà phê, thật ngao ngán vì số tiền ném qua cửa sổ coi như mất.
Năm 2008, anh trai tôi nhận giấy báo trúng tuyển đại học. Cả xã lúc ấy chỉ có vài người đỗ đại học. Ba tôi thịt một con heo để làm tiệc mừng. Thật thú vị, ngày đó, ở quê tôi ngoài đám cưới, đám giỗ... thì còn có tiệc mừng con đỗ đại học.
Đến lượt tôi thi đại học năm 2014, năm cuối cùng thi đại học riêng biệt, tôi may mắn đỗ đại học và nhà tôi lại một lần nữa tổ chức tiệc. Ở xóm tôi cũng có vài tiệc mừng con thi đỗ như vậy.
Nhưng từ lúc các em họ, cháu tôi thi thì không còn nữa. Chẳng phải vì các em học kém hơn, cũng không phải vì cha mẹ không còn thương con. Chỉ đơn giản là đỗ đại học bây giờ đã không còn là chuyện hiếm: Nhà mình có con đỗ, nhà người khác cũng có, chẳng lẽ nhà nào cũng làm tiệc mừng rồi mời mọc mọi người đến chung vui như thuở xưa?
Nhiều năm về trước, muốn vào đại học là một cuộc cạnh tranh rất khốc liệt. Chỉ tiêu ít, trường đại học không nhiều, cơ hội học tiếp sau THPT cũng không đa dạng như bây giờ. Một gia đình ở quê có con đỗ đại học giống như có một niềm hy vọng lớn được mở ra. Người ta mở tiệc không chỉ để khoe thành tích, mà còn để chia sẻ niềm vui vì tin rằng con mình đã có cơ hội đổi đời.
Trường đại học nhiều hơn, phương thức xét tuyển đa dạng hơn, tỷ lệ học sinh có thể bước chân vào giảng đường cũng cao hơn trước. Vì vậy, việc "đỗ đại học" không còn mang ý nghĩa đặc biệt như trước.
Thay đổi này không hẳn là điều tiêu cực. Trái lại, đó là dấu hiệu cho thấy cơ hội học tập đã rộng mở hơn. Nhưng cũng chính vì vậy, giá trị của tấm giấy báo trúng tuyển đã thay đổi.
Ngày trước, chỉ cần đỗ đại học đã được xem là thành công. Bây giờ, câu hỏi người ta quan tâm lại là học trường nào, học ngành gì, có phù hợp với năng lực không và sau khi ra trường có tìm được việc làm hay không.
Tôi từng nghĩ đại học đã "rớt giá" vì không còn những bữa tiệc linh đình như ngày xưa. Nhưng nghĩ kỹ hơn, có lẽ điều mất giá không phải là đại học, mà là giá trị biểu tượng của việc được nhận vào đại học.
Điều xã hội đánh giá ngày nay không còn là bạn có tấm giấy báo nhập học hay không, mà là bạn sẽ làm được gì sau bốn năm trên giảng đường. Có lẽ đó cũng là một sự thay đổi tất yếu.
Khi đại học trở nên phổ biến hơn, tấm bằng không còn là đích đến, mà chỉ là điểm khởi đầu. Người ta không còn ăn mừng vì một cánh cửa vừa mở, mà chờ đến lúc người trẻ thật sự bước được qua cánh cửa ấy và đứng vững bằng năng lực của chính mình.
Quán lẩu nướng tại một thị trấn cũ của anh tôi mở được 10 năm. Do có khu công nghiệp gần bên nên lượng khách là công nhân tới ăn uống hàng đêm, đặc biệt vào cuối tuần rất nhiều.
Rồi chẳng biết từ bao giờ, trên Facebook xuất hiện các fanpage đưa thông tin về địa phương, các nhóm Facebook liên kết với các fanpage này cũng thế. Thay vì đưa tin mưa gió, cảnh đẹp quê hương thì họ cho đăng bài quán trà sữa này mới khai trương, quán ăn kia mới mở, tất nhiên là tốn chi phí.
Một ngày xấu trời, bỗng dưng trong group Facebook xuất hiện một bài viết chê quán lẩu nướng của anh tôi "đồ ăn mắc", "cũng bình thường, không ngon", "nhiều chỗ ngon, rẻ hơn".
Bình thường vẫn có nhiều khách đến ăn, chẳng thấy ai góp ý gì. Bỗng dưng xuất hiện một bài đăng như vậy, rất nhiều bình luận chê bai, đồng tình xuất hiện. Không ngờ tới, thời gian mở quán cũng tương đối dài, nhưng lại bị một bài review chê bai dìm hàng, không ngóc đầu lên nổi và hậu quả là vắng khách dần, đến mức phải sập tiệm.
Tôi tin là nhiều chủ hàng quán ăn những năm qua rất ám ảnh với đội ngũ TikToker/ Youtuber tạm gọi là những Reviewer ẩm thực.
Họ có thẩm quyền gì để "review" món ăn?
Nếu nhận xét về giá, đã khách quan, căn cứ vào số lượng món ăn, chất lượng rau thịt hay giá cả thị trường ở thời điểm đang review?
Nếu nhận xét về ngon dở, chín người mười ý, phụ thuộc vào khẩu vị của từng người, thì tại sao họ lại nói nó ngon hay dở để rồi nhiều người xem bị ám thị, mặc định là quán đó "dở mà mắc" dù chưa ghé ăn thử lần nào?
Ngày nay, tôi có cảm giác chỉ với chiếc điện thoại thông minh trên tay, nhiều người như thể được "cường hóa" thêm một quyền năng: Phán xét, bóc phốt. Khi họ đi đâu, làm gì nếu gặp phải chuyện không hài lòng, họ sẵn sàng giơ chiếc điện thoại ra quay video và đăng lên mạng xã hội.
Như hai mặt của một đồng xu, mặt tốt là chống hàng quán bẩn, chặt chém nhưng mặt trái là cố ý bóc phốt thì ai sẽ xử lý những người này?
Mỗi khi bàn về cải tạo đô thị, nhiều người thường nghĩ đến việc thay thế chợ truyền thống bằng trung tâm thương mại, siêu thị hoặc các tổ hợp cao tầng hiện đại.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể bỏ qua giá trị lớn nhất của chợ: Đây không chỉ là nơi mua bán, mà còn là một hạ tầng dân sinh đặc biệt đã hình thành và phát triển cùng quá trình đô thị hóa của Việt Nam.
Rất nhiều khu dân cư hình thành xung quanh chợ chứ không phải ngược lại. Những nơi có bến sông, ngã ba đường hay tuyến giao thông đông đúc thường xuất hiện người bán hàng trước.
Khi hoạt động mua bán ngày càng nhộn nhịp, người dân mới đến sinh sống, hình thành làng xóm, thị tứ rồi phát triển thành đô thị. Có thể nói, chợ chính là một trong những "điểm vàng" đã được thị trường và cộng đồng lựa chọn qua nhiều thế hệ.
Khác với siêu thị, chợ không chỉ có những hộ kinh doanh cố định mà còn có người bán hàng theo ngày, theo mùa vụ, nông dân mang nông sản đến tiêu thụ trực tiếp hoặc những hộ kinh doanh nhỏ lẻ mới khởi nghiệp. Chính sự linh hoạt này giúp chợ tạo ra nhiều việc làm và cơ hội mưu sinh hơn rất nhiều so với các mô hình bán lẻ hiện đại.
Thực tế cho thấy một số dự án cải tạo chợ thất bại vì vô tình làm mất đi bản chất tồn tại dựa vào người lưu thông của chợ. Khi chợ bị đưa vào một khu vực khác lưu lượng người đi qua giảm mạnh. Người bán mất khách vãng lai, trong khi mô hình mua sắm lại không hiện đại bằng siêu thị. Kết quả là tiểu thương không muốn vào kinh doanh, còn người dân cũng không còn mặn mà mua sắm.
Theo tôi, thay vì xóa bỏ chợ truyền thống, chúng ta nên nâng cấp nó thành một tổ hợp đô thị đa chức năng lấy chợ làm hạt nhân phát triển. Đây sẽ là mô hình phát triển đô thị đa chức năng lấy chợ làm hạt nhân, tích hợp thương mại, nhà ở, dịch vụ công, không gian làm việc và tiện ích cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.
Đối tượng phù hợp nhất để thí điểm là các chợ quy mô khoảng 3.000 - 5.000 m2 tại các xã, phường vùng ven thành phố lớn hoặc các khu vực nông thôn đang chuẩn bị đô thị hóa. Đây thường là những khu đất công nằm ở vị trí trung tâm, có lưu lượng người qua lại lớn nhưng hiện mới chỉ khai thác một tầng trong vài giờ hàng ngày.
Trong mô hình này, tầng hầm được sử dụng làm bãi xe và kho vận.
Tầng trệt vẫn là chợ dân sinh với các quầy thực phẩm tươi sống, chợ phiên cho nông dân và khu vực kinh doanh linh hoạt. Không gian được thiết kế thông thoáng như một khu phố thương mại có mái che, cho phép xe máy lưu thông chậm nhằm tạo thuận lợi cho việc tiếp cận mua bán nhanh và vận chuyển hàng hóa. Hoạt động cả sáng, chiều và đêm không nghỉ.
Tầng một có thể bố trí siêu thị, ngân hàng, dịch vụ kế toán, tư vấn pháp lý và điểm giao dịch hành chính công. Các tầng tiếp theo là văn phòng nhỏ, không gian làm việc chung, lớp học kỹ năng hoặc đào tạo nghề.
Phía trên là các căn hộ cho thuê với nhiều diện tích khác nhau, từ 25 m2 đến 75 m2. Người thu nhập thấp có thể thuê căn nhỏ, người có điều kiện hơn có thể thuê căn lớn. Bên cạnh hình thức thuê hàng năm, có thể nghiên cứu hợp đồng thuê dài hạn 50 năm với quyền chuyển nhượng đơn giản thông qua văn phòng giao dịch ngay trong tòa nhà.
Điều quan trọng là khu nhà ở này không chỉ dành cho người thu nhập thấp. Một cộng đồng cư dân đa dạng sẽ tạo ra nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Người có thu nhập cao hơn sử dụng nhiều dịch vụ hơn, từ đó tạo thêm việc làm cho những người có thu nhập thấp. Đây là cách để hình thành một hệ sinh thái kinh tế bền vững ngay trong lòng khu dân cư.
Tầng mái có thể được khai thác thành không gian cộng đồng với sân sinh hoạt chung, khu vui chơi, nhà hàng, quán cà phê hoặc các hoạt động dịch vụ. Nhờ đó, một khu đất chợ chỉ khoảng 3.000 m2 có thể vận hành như một thị trấn thu nhỏ theo chiều đứng.
Mô hình này không chỉ là thay thế chợ bằng một công trình hiện đại hơn. Đó là sự tiến hóa của chợ truyền thống, giúp nâng cấp chức năng ban đầu của nó. Chợ vẫn là nơi tạo việc làm, tạo cơ hội kinh doanh và kết nối cộng đồng, nhưng đồng thời còn cung cấp nhà ở, dịch vụ công, văn phòng và các tiện ích đô thị khác.
Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn chế, việc tận dụng các khu chợ hiện hữu để phát triển mô hình này có thể là một hướng đi đáng cân nhắc. Thay vì xây dựng các trung tâm mới từ con số không, chúng ta có thể phát triển đô thị dựa trên những hạt nhân kinh tế - xã hội đã tồn tại và được cộng đồng lựa chọn qua nhiều thế hệ.