E10 là loại xăng sinh học pha 10% ethanol nhiên liệu (cồn sinh học) và 90% xăng khoáng truyền thống. Ethanol chủ yếu được sản xuất từ nguyên liệu như sắn, mía, ngô… nên được xem là nhiên liệu tái tạo.
Theo các chuyên gia, ứng dụng nhiên liệu sinh học là giải pháp giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu, đa dạng nguồn hàng trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng do xung đột Trung Đông. Việc chuyển đổi này đồng thời hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, hướng đến phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào 2050.
Ông Đào Duy Anh, Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết mỗi lít xăng khoáng khi tiêu thụ thải ra môi trường khoảng 2,3-2,5 kg khí CO2. Phối trộn 10% ethanol giúp giảm tỷ lệ xăng khoáng tương ứng, tương đương 1 tỷ lít mỗi năm. “Tức là, Việt Nam có thể giảm lượng khí thải ra môi trường khoảng 2,5 triệu tấn CO2 mỗi năm”, ông Duy Anh nói tại một sự kiện tháng trước.
Thực tế, việc đốt cháy xăng sinh học chứa ethanol vẫn tạo ra khí thải từ ống xả. Tuy nhiên, lượng CO2 này tương đương với lượng khí thải mà các cây nguyên liệu (sắn, mía, ngô…) đã hấp thụ trong quá trình sinh trưởng, giúp tạo nên một chu trình tuần hoàn trung hòa carbon.
Năm 2022-2023, nhóm nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội cùng Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam và Toyota thử nghiệm khả năng giảm thải của nhiên liệu sinh học trên một số cung đường Hà Nội. Theo đó, ba loại xăng RON95-V, E5 và E10 được sử dụng trên xe Toyota Corolla Cross. Kết quả cho thấy xăng E10 giảm 10,9% khí hydrocarbon (HC), gần 15% khí CO khi sử dụng với xe xăng.
Xăng E10 cũng giúp xe hybird tiết kiệm nhiên liệu hơn trên cùng quãng đường di chuyển. Với xe xăng, thử nghiệm trên quãng đường 100 km, loại nhiên liệu này tiết kiệm 0,3 lít trong giờ cao điểm và 0,1 lít vào giờ thấp điểm so với xăng khoáng.
Theo kế hoạch giảm thải khí nhà kính của ngành giao thông năm 2024, sử dụng nhiên liệu sinh học là một trong 10 biện pháp giảm thải, bên cạnh việc áp trần tiêu thụ nhiên liệu và chuyển đổi xe điện. Các biện pháp này hướng tới mục tiêu giảm 10,6 triệu tấn CO2 của ngành vào 2030.
Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, nhận định thị trường tiêu thụ xăng sinh học khó tăng đột biến, bởi xu hướng chuyển đổi xe điện sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu nhiên liệu trong giao thông. Tuy nhiên, xăng sinh học là “lá chắn” giúp các nước đảm bảo an ninh năng lượng.
Về nguồn cung, Bộ Công Thương cho biết với nhu cầu tiêu thụ xăng sinh học của Việt Nam khoảng 1 triệu m3 mỗi tháng, lượng ethanol cần dùng 100.000 m3. Trong đó, mỗi tháng trong nước sản xuất khoảng 25.000 m3 ethanol, còn lại các doanh nghiệp nhập khẩu để phối trộn.
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, việc chuyển sang sử dụng E10 giúp đa dạng nguồn cung. Cùng với đó, xăng E5 RON 92 vẫn được duy trì bán tới hết 2030.
Ông dẫn ví dụ, nhu cầu nhập khẩu 70-80% ethanol giúp giảm thiểu rủi ro địa chính trị từ Trung Đông – khu vực thường xuyên bất ổn. Từ đó, doanh nghiệp có thể tăng dần năng lực tự chủ vùng trồng và sản xuất ethanol trong nước.
Đảm bảo an ninh năng lượng cũng là lý do nhiều quốc gia đẩy mạnh hoạt động phối trộn ethanol thời gian gần đây. Argentina tăng nồng độ ethanol phối trộn. Indonesia đẩy nhanh chương trình sản xuất dầu diesel sinh học. Ấn Độ áp dụng nhiên liệu sinh học sau Việt Nam, nhưng lên kế hoạch xây 5.000 trạm phân phối xăng E100 nhằm ứng phó khủng hoảng nhiên liệu trong nước.
Theo Báo cáo Thống kê năng lượng thế giới 2025 của Viện Năng lượng (Anh), toàn cầu tiêu thụ khoảng 1,1 triệu thùng xăng sinh học và 1 triệu thùng dầu sinh học mỗi ngày. Trong đó, Mỹ là nước sản xuất lớn nhất, chiếm 37% nguồn cung toàn cầu. Brazil đứng thứ hai, chiếm 22% tổng sản lượng.
Các nước khác cũng tăng tốc phát triển nhiên liệu sinh học gồm Thụy Điển (tăng 62% so với năm trước), Canada (39%), Trung Quốc (30%), Ấn Độ (26%) và Argentina (24%).
Trong khi các nước châu Âu gắn nhiên liệu sinh học với Chỉ thị Năng lượng tái tạo (RED) nhằm giảm khí thải, Mỹ có lịch sử phát triển ngành này “thực dụng” hơn.
Tại Mỹ, nhà phát minh Henry Ford chế tạo chiếc ôtô đầu tiên chạy bằng ethanol nguyên chất vào 1896. Nhưng phải đến năm 2005, xăng sinh học mới được gắn với mục tiêu khí hậu, nhằm giảm khí nhà kính. Sự ra đời tiêu chuẩn nhiên liệu tái tạo (RFS) hồi 2005 và cập nhật sau đó hai năm là tiền đề cho xăng E10 được bán rộng rãi tại nền kinh tế lớn nhất thế giới vào 2010.
Theo dữ liệu từ Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA), nếu xét toàn bộ vòng đời từ vùng trồng đến ống xả, phát thải của một gallon xăng khoáng cao hơn 21% so với lượng ethanol có mật độ năng lượng tương đương.
Hiện Mỹ phân phối nhiều loại xăng sinh học, với ba loại phổ biến gồm E10, E15 (chứa 10,5-15% ethanol) và E85 (dao động 51-83% ethanol). Khác với E10, E85 đòi hỏi phương tiện sử dụng tiên tiến hơn. Điều này thúc đẩy nhà hoạch định chính sách khuyến khích hãng xe phát triển dòng phương tiện nhiên liệu linh hoạt (FFV), giải bài toán hạ tầng trước khi ứng dụng năng lượng mới.
Tuy nhiên, giới khoa học vẫn đặt dấu hỏi về mức giảm thải cả vòng đời của nhiên liệu sinh học, bởi nó còn phụ thuộc vào loại cây nguyên liệu, vùng trồng và quy trình sản xuất. Loại sản xuất từ mía, ngô, dù hấp thụ CO2 khi cây sinh trưởng, việc trồng trọt lại dựa vào phân bón, thuốc trừ sâu phát thải cao để duy trì năng suất. Ngoài ra, quá trình lên men cũng thải ra CO2, methane và hợp chất khí oxit nitơ (NOx).
Theo chuyên trang khí hậu Carbon Brief, nhiên liệu sinh học được phát triển thêm nhiều loại mới. Sau thế hệ sản xuất từ mía, ngô, các loại nhiên liệu sinh học mới từ nguyên liệu sinh khối (rơm, cỏ, dầu thải) và tảo, vi khuẩn giúp giảm đáng kể tác động tiêu cực tới môi trường, khí hậu.
Kết thúc phiên giao dịch ngày 2-6, VN-Index giảm 18,07 điểm, tương đương 0,98%, xuống còn 1.826,47 điểm. VN30-Index giảm 16,72 điểm, tương đương 0,84%, còn 1.972,99 điểm.
Trái ngược với diễn biến trên HoSE, HNX-Index tăng 9,61 điểm, tương đương 3,15%, lên 314,79 điểm, trong khi UPCoM-Index tăng 0,22 điểm lên 125,99 điểm.
Độ rộng thị trường nghiêng mạnh về phía giảm giá với 434 mã giảm, trong đó có 12 mã giảm sàn. Toàn thị trường ghi nhận 227 mã tăng, gồm 42 mã tăng trần, cùng 840 cổ phiếu đứng giá.
Thanh khoản trên HoSE đạt hơn 20.479 tỉ đồng, tương ứng hơn 804 triệu cổ phiếu được sang tay. Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng khi giá trị bán ra đạt khoảng 2.429 tỉ đồng, cao hơn đáng kể so với mức mua vào gần 1.808 tỉ đồng.
Về tác động đến chỉ số, CTG là cổ phiếu lấy đi nhiều điểm số nhất của VN-Index, theo sau là VCB, VHM, GAS, BSR, HDB và VPB. Ở chiều ngược lại, FPT trở thành trụ đỡ đáng chú ý nhất khi tăng 2,61%, bên cạnh BVH, ACB, SSB và KDH.
Nhóm dầu khí và bất động sản là hai nhóm ngành gây áp lực đáng kể lên thị trường trong phiên.
Tâm điểm chú ý thuộc về cổ phiếu NVL của CTCP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (Novaland) khi giảm hết biên độ xuống 14.200 đồng/cổ phiếu. Thanh khoản đạt hơn 26,8 triệu đơn vị, trong khi dư bán giá sàn còn hơn 24,4 triệu cổ phiếu vào cuối phiên.
Đây là lần đầu tiên NVL giảm sàn trở lại kể từ đầu tháng 5. Diễn biến này xuất hiện trong bối cảnh Novaland vừa thông báo ngày 11-6 sẽ chốt danh sách cổ đông để thực hiện phương án phát hành cổ phiếu tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu. Theo kế hoạch, doanh nghiệp dự kiến phát hành gần 168 triệu cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu theo tỉ lệ 40:3, qua đó nâng vốn điều lệ từ gần 22.345 tỉ đồng lên khoảng 24.021 tỉ đồng.
Ngoài NVL, nhiều cổ phiếu bất động sản khác cũng giao dịch kém tích cực như PDR giảm 5,28%, CII giảm 5,43%, DXG giảm 2,65%, DIG giảm 2,27%, TCH giảm 3,23% và VRE giảm 0,64%.
Ở chiều ngược lại, THD của Thaiholdings và KSF của Sunshine Group tiếp tục là những điểm sáng hiếm hoi của ngành bất động sản. Kết phiên, THD tăng trần lên 147.800 đồng/cổ phiếu, trong khi KSF tăng hết biên độ lên 113.400 đồng/cổ phiếu.
Đáng chú ý, đây là phiên tăng thứ 19 liên tiếp của THD, trong đó có 14 phiên tăng trần. Thanh khoản của mã này vẫn ở mức thấp với khoảng 5.800 cổ phiếu được giao dịch.
Trong khi đó, KSF ghi nhận phiên tăng trần thứ ba liên tiếp sau Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 diễn ra ngày 30-5, với hơn 509.000 cổ phiếu được sang tay. Cùng với đó, HQC của Địa ốc Hoàng Quân cũng duy trì sắc tím trong phiên.
Ở nhóm dầu khí, hàng loạt cổ phiếu đồng loạt điều chỉnh như BSR giảm 3,15%, PVD giảm hơn 3%, cùng với PVS, PVC và nhiều mã khác giao dịch trong sắc đỏ.
Nhóm ngân hàng cũng gây sức ép lên chỉ số khi CTG giảm 2,03%, HDB giảm 3,3%, VPB giảm 1,86%, TCB giảm 1,39%, MBB giảm 1,79%, VCB giảm 0,96% và STB giảm 0,6%. Một số mã đi ngược xu hướng gồm ACB, MSB và SSB.
Tại nhóm chứng khoán, sắc đỏ chiếm ưu thế với VIX giảm 2,79%, SHS giảm 2,75%, VND giảm 2,28%, SSI giảm 1,64%, HCM giảm 1,84% và VCI giảm 1,42%.
Trong khi đó, nhóm bán lẻ và tiêu dùng cũng giao dịch kém tích cực khi MWG giảm 1,52%, FRT giảm 1,22%, MSN giảm 2,01% và VNM giảm 0,85%. Riêng FPT tăng 2,61%, trở thành cổ phiếu hỗ trợ VN-Index nhiều nhất trong phiên.
Ở nhóm công nghiệp, GEX giảm 3,73%, GEE giảm 3,33%, VCG giảm 2,23% và VSC giảm hơn 3%, cho thấy áp lực điều chỉnh xuất hiện trên nhiều nhóm ngành của thị trường.
Trong bối cảnh nhiều lô hàng bị siết chặt kiểm tra khi xuất khẩu sang Trung Quốc, đề xuất xây dựng “phác đồ điều trị” cho đất trồng sầu riêng đang được xem là hướng đi đáng chú ý nhằm xử lý tận gốc bài toán tồn dư kim loại nặng.
Xây dựng phòng thí nghiệm để kiểm tra chất lượng đất trồng
Nhận định về vấn đề sầu riêng tại Đồng Tháp gặp khó đầu ra vì vướng kiểm nghiệm những ngày qua, ông Nguyễn Phước Thiện - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp - thừa nhận, tồn dư cadimi trong sầu riêng thực chất là hệ quả của quá trình canh tác kéo dài nhiều năm khiến đất bị ô nhiễm.
Vấn đề này chỉ thực sự “nóng lên” khi Trung Quốc áp dụng ngưỡng kiểm soát nghiêm ngặt đối với trái cây nhập khẩu vào thị trường này, không vượt quá 0,05 mg/kg. Điều này tạo áp lực lớn lên cả doanh nghiệp lẫn người sản xuất khi phải kiểm soát chất lượng từ đất trồng đến thành phẩm.
Để cải thiện vấn đề này, ông Thiện cho biết, Đồng Tháp đang triển khai rà soát, siết chặt quản lý mã số vùng trồng và kiên quyết xử lý những vùng không tuân thủ quy định.
Đặc biệt, địa phương này cũng xây dựng đề án cải tạo đất lâu dài, tham khảo mô hình Hàn Quốc với hệ thống phân tích mẫu đất định kỳ nhằm đưa ra “phác đồ” cải tạo phù hợp cho từng khu vực canh tác.
Theo lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp, bên cạnh việc cải tạo đất, cần cải tiến cơ chế quản lý mã số vùng trồng theo hướng số hóa, tách bạch từng lô hàng để phân định rõ vùng nhiễm và vùng an toàn.
Tại hội nghị Thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng năm 2026 tổ chức cuối tuần qua, Thứ trưởng Bộ NN&MT Võ Văn Hưng cũng nhìn nhận, nguyên nhân sâu xa của tình trạng nhiễm cadimi chủ yếu đến từ tồn dư trong đất chứ không phải do người dân cố tình đưa vào trong quá trình sản xuất.
Theo ông Hưng, để xử lý tận gốc vấn đề cần triển khai các nghiên cứu về cải tạo đất, hướng dẫn nông dân thay đổi biện pháp canh tác, thực hiện luân canh cây trồng và kiểm soát chặt vật tư đầu vào.
Trong ngắn hạn, Bộ đã đề nghị các địa phương chỉ đạo các đơn vị kiểm định không được từ chối yêu cầu của doanh nghiệp, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý mới nhằm tránh ùn tắc hàng hóa do chờ kiểm nghiệm. Về lâu dài, bài toán lớn hơn vẫn là phục hồi chất lượng đất canh tác để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Hàn Quốc phục hồi đất nông nghiệp bằng cách nào?
Trao đổi với Dân trí, TS Nguyễn Đăng Nghĩa - nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn Nông nghiệp nhiệt đới - cho rằng, cuộc khủng hoảng hiện nay phản ánh hệ quả của quá trình phát triển thiếu kiểm soát kéo dài nhiều năm của ngành sầu riêng.
Ông cho rằng việc quản lý phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam vẫn còn lỏng lẻo, cadimi không chỉ tồn tại tự nhiên trong đất mà còn xuất hiện trong nhiều loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Tại khu vực ĐBSCL, nông dân từng sử dụng phổ biến một số loại phân DAP nhập khẩu có hàm lượng cadimi cao. Kết hợp với tình trạng xâm nhập mặn cuối mùa khô và việc bón lân kéo dài, cadimi trong đất dễ bị giải phóng và hấp thụ vào cây trồng.
Theo vị chuyên gia này, cải tạo đất thực tế không phải vấn đề quá khó về mặt kỹ thuật và cũng từng được nhiều đơn vị trong nước tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức.
Theo TS Nguyễn Đăng Nghĩa, một trong những giải pháp có thể áp dụng là sử dụng biochar - vật liệu giàu carbon được tạo ra từ quá trình nhiệt phân sinh khối trong môi trường hạn chế oxy.
Khi đưa vào đất, biochar hoạt động như một “bẫy” giữ kim loại nặng, giúp ổn định độ pH, cải thiện độ tơi xốp và nâng cao năng suất cây trồng mà vẫn đảm bảo được các tiêu chí về dư lượng kim loại nặng tồn dư trên sản phẩm.
Ngoài ra, TS Nghĩa cho biết, đã có một số mô hình áp dụng thành công như sử dụng biochar và phân bón chọn lọc không có cadimi của một vài công ty. Các mô hình này cũng đang được nhân rộng, giúp cải tạo đất cho bà con trồng sầu riêng tại vùng ĐBSCL.
Riêng với các mô hình cải tạo đất tại Hàn Quốc, TS Nguyễn Đăng Nghĩa cho rằng, hoạt động cải tạo đất của xứ sở kim chi không xa lạ với nông nghiệp Việt Nam.
Theo đó, khác với cách tiếp cận mở rộng diện tích sản xuất, Hàn Quốc tập trung vào nâng cao chất lượng đất nhằm gia tăng giá trị nông sản. Đây là lựa chọn mang tính chiến lược trong bối cảnh quốc gia này có quỹ đất nông nghiệp hạn chế và chịu áp lực đô thị hóa kéo dài.
Một trong những ưu tiên lớn nhất của Hàn Quốc là phục hồi độ màu mỡ tự nhiên của đất sau nhiều năm lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Nước này chuyển mạnh sang sử dụng phân hữu cơ, phân compost và các chế phẩm vi sinh nhằm tăng hàm lượng hữu cơ và cải thiện hệ vi sinh vật có lợi trong đất.
Điểm nổi bật trong mô hình của Hàn Quốc là việc ứng dụng công nghệ vào quản lý chất lượng đất. Thay vì canh tác chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nhiều nông hộ được hỗ trợ phân tích đất định kỳ để xác định hàm lượng dinh dưỡng, độ pH, lượng hữu cơ cũng như nguy cơ tồn dư hóa chất.
Từ kết quả phân tích này, cơ quan chuyên môn sẽ đưa ra khuyến nghị cụ thể về loại phân bón, lượng dinh dưỡng cần bổ sung và phương thức canh tác phù hợp cho từng khu vực. Đây được xem là mô hình “khám bệnh cho đất” trước khi đưa ra “phác đồ điều trị”, cách tiếp cận mà một số địa phương tại Việt Nam đang bắt đầu nghiên cứu áp dụng với cây sầu riêng.
Theo giới chuyên môn, điều làm nên khác biệt trong chính sách cải tạo đất của Hàn Quốc là tư duy dài hạn. Chính phủ nước này xem sức khỏe đất nông nghiệp là yếu tố gắn liền với an ninh lương thực quốc gia, vì vậy các chương trình hỗ trợ cải tạo đất, sản xuất hữu cơ và đào tạo kỹ thuật được triển khai liên tục trong nhiều năm.
Giá nông sản duy trì ở mức cao trong năm 2025 đã kéo lợi nhuận nhiều doanh nghiệp nông nghiệp niêm yết đi lên, thậm chí lập kỷ lục. Khi kết quả kinh doanh cải thiện, thu nhập của đội ngũ lãnh đạo cũng tăng theo, nhưng không dừng ở tiền lương ghi nhận trên báo cáo tài chính. Tổng đãi ngộ đang được "mở rộng" qua nhiều lớp như thưởng hiệu quả và cổ phiếu ESOP, khiến khoảng cách giữa thu nhập công bố và thu nhập thực nhận ngày càng rõ.
Báo cáo thường niên vừa công bố mới đây của Tập đoàn Dabaco Việt Nam cho thấy, xu hướng "lợi nhuận đi đến đâu, thu nhập đi theo đến đó". Năm 2025, doanh nghiệp đạt gần 14.900 tỷ đồng doanh thu và 1.507 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng gần 96% và là mức cao nhất lịch sử. Thu nhập của lãnh đạo theo đó đạt khoảng 20,4 tỷ đồng, tăng gần 30%, tương đương bình quân 1,7 tỷ đồng mỗi tháng. Chủ tịch HĐQT Nguyễn Như So nhận khoảng 3,28 tỷ đồng, còn CEO Nguyễn Khắc Thảo hơn 2 tỷ đồng. Cơ chế đãi ngộ tại đây bám sát hiệu quả kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh ngành chăn nuôi bước vào chu kỳ thuận lợi.
Không chỉ riêng Dabaco, xu hướng này cũng phản ánh bức tranh chung của thị trường lao động cấp cao trong ngành nông nghiệp. Dữ liệu của Navigos Group cho thấy, mặt bằng lương cố định của lãnh đạo ngành nông nghiệp hiện thuộc nhóm cao nhất trên thị trường, với CEO có thể nhận 126-527 triệu đồng mỗi tháng, chưa bao gồm thưởng và phúc lợi. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần "cứng", trong khi thực tế thu nhập thường được cấu thành từ nhiều tầng, khiến tổng đãi ngộ có thể cao hơn nhiều lần so với con số công bố.
Sự khác biệt bắt đầu lộ rõ khi đặt cạnh Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai. Doanh nghiệp này ghi nhận lợi nhuận sau thuế 2.243 tỷ đồng trong năm 2025, tăng gấp đôi và cũng là mức cao nhất từ trước đến nay, tổng thu nhập lãnh đạo nhích nhẹ lên hơn 10,36 tỷ đồng. Nguyên nhân nằm ở cách thiết kế hệ thống đãi ngộ, khi mặt bằng lương của ban điều hành được duy trì ổn định nhiều năm và không biến động mạnh theo từng chu kỳ lợi nhuận, đồng thời cơ cấu nhân sự có thêm thành viên Hội đồng quản trị độc lập.
Cụ thể, Chủ tịch HĐQT Đoàn Nguyên Đức nhận gần 2,49 tỷ đồng, Tổng giám đốc khoảng 1,32 tỷ đồng, còn các thành viên Hội đồng quản trị và ban điều hành dao động quanh 1,3-1,6 tỷ đồng mỗi người mỗi năm. Tuy nhiên, ông Đoàn Nguyên Đức cho biết, con số này chưa phản ánh đầy đủ thu nhập thực tế. Lương chỉ là phần "cứng", trong khi phần giá trị lớn nằm ở cơ chế ghi nhận dài hạn. Năm trước, khi doanh nghiệp xóa sạch lỗ lũy kế và đạt lợi nhuận cao, công ty đã triển khai chương trình tri ân cho khoảng 480 nhân sự gắn bó trên 10 năm, trong đó gần một nửa nhận cổ phiếu ESOP với tổng giá trị khoảng 800 tỷ đồng. Ngoài ra, Hoàng Anh Gia Lai tặng căn hộ cho 160 cán bộ, nhân viên tiêu biểu. Những căn hộ này trị giá 2-8 tỷ đồng. "Những khoản này có thể vượt xa tiền lương, khiến cấu trúc thu nhập dịch chuyển rõ sang phần thưởng theo hiệu quả", ông Đức nói.
Cách trả lương theo hiệu suất cũng lan xuống các cấp vận hành. Theo ông Đức, với đội ngũ giám đốc nông trường, thu nhập không chỉ đến từ lương cơ bản mà phụ thuộc lớn vào sản lượng và hiệu quả quản lý. Thực tế đã xuất hiện những giám đốc nông trường chuối có thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm, nhờ cơ chế khoán theo sản phẩm thay vì cào bằng.
Thu nhập Chủ tịch và CEO một số doanh nghiệp nông nghiệp (2025)
Ở nhóm doanh nghiệp quy mô vừa, BAF Việt Nam ghi nhận tổng thu nhập lãnh đạo khoảng 8,2 tỷ đồng trong năm 2025. Chủ tịch HĐQT Trương Sỹ Bá nhận khoảng 324 triệu đồng, trong khi CEO Bùi Hương Giang hơn 1,56 tỷ đồng; các phó tổng giám đốc quanh mức 1,3 tỷ đồng. Tại GC Food, mặt bằng thu nhập cũng tăng so với năm trước, với Chủ tịch HĐQT Nguyễn Văn Thứ khoảng 781 triệu đồng một năm và Tổng giám đốc Bùi Thị Mai Hiền gần 692 triệu đồng.
Trong khi đó, một mô hình hoàn toàn khác xuất hiện tại Intimex Group - doanh nghiệp xuất khẩu gạo và cà phê. Doanh thu năm 2025 của doanh nghiệp vượt 98.500 tỷ đồng, lợi nhuận hơn 340 tỷ đồng, nhưng thù lao Chủ tịch Đỗ Hà Nam chỉ khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng. Khoản này mang tính biểu tượng, bởi ông đồng thời điều hành doanh nghiệp và nhận lương ở vị trí Tổng giám đốc. Tuy nhiên, mức lương CEO tại Intimex của ông Đỗ Hà Nam không được doanh nghiệp công bố.
Tại PAN, sự phân hóa cũng rõ rệt khi tổng thù lao Hội đồng quản trị chỉ khoảng 1,38 tỷ đồng, trong khi phần lớn thu nhập tập trung vào ban điều hành, với Tổng giám đốc Nguyễn Thị Trà My nhận hơn 4,6 tỷ đồng. Những khác biệt này cho thấy cùng một ngành nhưng cách phân phối thu nhập có thể rất khác, tùy vào mô hình quản trị và vai trò thực tế của từng vị trí.
Diễn biến này gắn với bức tranh tăng trưởng chung của ngành. Năm 2025, nông nghiệp Việt Nam tăng khoảng 4%, cao nhất trong một thập kỷ, còn kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 70 tỷ USD. Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mục tiêu 5 năm tới là 95-100 tỷ USD, với trọng tâm là chế biến sâu và nông nghiệp công nghệ cao. Khi quy mô và độ phức tạp của ngành tăng lên, yêu cầu đối với đội ngũ quản trị cũng thay đổi theo.
Báo cáo thị trường lao động 2026 của Navigos Group chỉ ra ba lực đẩy chính phía sau mặt bằng thu nhập cao của lãnh đạo ngành này. Quá trình chuyển dịch sang sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại đòi hỏi lãnh đạo vừa có chuyên môn nông nghiệp, vừa có năng lực quản trị. Áp lực tiêu chuẩn quốc tế từ các thị trường xuất khẩu lớn khiến vai trò của các vị trí điều hành, tài chính, R&D hay pháp lý trở nên mang tính quyết định. Trong khi đó, nguồn cung nhân sự cấp cao còn hạn chế khiến doanh nghiệp buộc phải trả mức đãi ngộ cao để thu hút và giữ chân người có năng lực.