E10 là loại xăng sinh học pha 10% ethanol nhiên liệu (cồn sinh học) và 90% xăng khoáng truyền thống. Ethanol chủ yếu được sản xuất từ nguyên liệu như sắn, mía, ngô… nên được xem là nhiên liệu tái tạo.
Theo các chuyên gia, ứng dụng nhiên liệu sinh học là giải pháp giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu, đa dạng nguồn hàng trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng do xung đột Trung Đông. Việc chuyển đổi này đồng thời hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, hướng đến phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào 2050.
Ông Đào Duy Anh, Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết mỗi lít xăng khoáng khi tiêu thụ thải ra môi trường khoảng 2,3-2,5 kg khí CO2. Phối trộn 10% ethanol giúp giảm tỷ lệ xăng khoáng tương ứng, tương đương 1 tỷ lít mỗi năm. “Tức là, Việt Nam có thể giảm lượng khí thải ra môi trường khoảng 2,5 triệu tấn CO2 mỗi năm”, ông Duy Anh nói tại một sự kiện tháng trước.
Thực tế, việc đốt cháy xăng sinh học chứa ethanol vẫn tạo ra khí thải từ ống xả. Tuy nhiên, lượng CO2 này tương đương với lượng khí thải mà các cây nguyên liệu (sắn, mía, ngô…) đã hấp thụ trong quá trình sinh trưởng, giúp tạo nên một chu trình tuần hoàn trung hòa carbon.
Năm 2022-2023, nhóm nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội cùng Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam và Toyota thử nghiệm khả năng giảm thải của nhiên liệu sinh học trên một số cung đường Hà Nội. Theo đó, ba loại xăng RON95-V, E5 và E10 được sử dụng trên xe Toyota Corolla Cross. Kết quả cho thấy xăng E10 giảm 10,9% khí hydrocarbon (HC), gần 15% khí CO khi sử dụng với xe xăng.
Xăng E10 cũng giúp xe hybird tiết kiệm nhiên liệu hơn trên cùng quãng đường di chuyển. Với xe xăng, thử nghiệm trên quãng đường 100 km, loại nhiên liệu này tiết kiệm 0,3 lít trong giờ cao điểm và 0,1 lít vào giờ thấp điểm so với xăng khoáng.
Theo kế hoạch giảm thải khí nhà kính của ngành giao thông năm 2024, sử dụng nhiên liệu sinh học là một trong 10 biện pháp giảm thải, bên cạnh việc áp trần tiêu thụ nhiên liệu và chuyển đổi xe điện. Các biện pháp này hướng tới mục tiêu giảm 10,6 triệu tấn CO2 của ngành vào 2030.
Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, nhận định thị trường tiêu thụ xăng sinh học khó tăng đột biến, bởi xu hướng chuyển đổi xe điện sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu nhiên liệu trong giao thông. Tuy nhiên, xăng sinh học là “lá chắn” giúp các nước đảm bảo an ninh năng lượng.
Về nguồn cung, Bộ Công Thương cho biết với nhu cầu tiêu thụ xăng sinh học của Việt Nam khoảng 1 triệu m3 mỗi tháng, lượng ethanol cần dùng 100.000 m3. Trong đó, mỗi tháng trong nước sản xuất khoảng 25.000 m3 ethanol, còn lại các doanh nghiệp nhập khẩu để phối trộn.
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, việc chuyển sang sử dụng E10 giúp đa dạng nguồn cung. Cùng với đó, xăng E5 RON 92 vẫn được duy trì bán tới hết 2030.
Ông dẫn ví dụ, nhu cầu nhập khẩu 70-80% ethanol giúp giảm thiểu rủi ro địa chính trị từ Trung Đông – khu vực thường xuyên bất ổn. Từ đó, doanh nghiệp có thể tăng dần năng lực tự chủ vùng trồng và sản xuất ethanol trong nước.
Đảm bảo an ninh năng lượng cũng là lý do nhiều quốc gia đẩy mạnh hoạt động phối trộn ethanol thời gian gần đây. Argentina tăng nồng độ ethanol phối trộn. Indonesia đẩy nhanh chương trình sản xuất dầu diesel sinh học. Ấn Độ áp dụng nhiên liệu sinh học sau Việt Nam, nhưng lên kế hoạch xây 5.000 trạm phân phối xăng E100 nhằm ứng phó khủng hoảng nhiên liệu trong nước.
Theo Báo cáo Thống kê năng lượng thế giới 2025 của Viện Năng lượng (Anh), toàn cầu tiêu thụ khoảng 1,1 triệu thùng xăng sinh học và 1 triệu thùng dầu sinh học mỗi ngày. Trong đó, Mỹ là nước sản xuất lớn nhất, chiếm 37% nguồn cung toàn cầu. Brazil đứng thứ hai, chiếm 22% tổng sản lượng.
Các nước khác cũng tăng tốc phát triển nhiên liệu sinh học gồm Thụy Điển (tăng 62% so với năm trước), Canada (39%), Trung Quốc (30%), Ấn Độ (26%) và Argentina (24%).
Trong khi các nước châu Âu gắn nhiên liệu sinh học với Chỉ thị Năng lượng tái tạo (RED) nhằm giảm khí thải, Mỹ có lịch sử phát triển ngành này “thực dụng” hơn.
Tại Mỹ, nhà phát minh Henry Ford chế tạo chiếc ôtô đầu tiên chạy bằng ethanol nguyên chất vào 1896. Nhưng phải đến năm 2005, xăng sinh học mới được gắn với mục tiêu khí hậu, nhằm giảm khí nhà kính. Sự ra đời tiêu chuẩn nhiên liệu tái tạo (RFS) hồi 2005 và cập nhật sau đó hai năm là tiền đề cho xăng E10 được bán rộng rãi tại nền kinh tế lớn nhất thế giới vào 2010.
Theo dữ liệu từ Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA), nếu xét toàn bộ vòng đời từ vùng trồng đến ống xả, phát thải của một gallon xăng khoáng cao hơn 21% so với lượng ethanol có mật độ năng lượng tương đương.
Hiện Mỹ phân phối nhiều loại xăng sinh học, với ba loại phổ biến gồm E10, E15 (chứa 10,5-15% ethanol) và E85 (dao động 51-83% ethanol). Khác với E10, E85 đòi hỏi phương tiện sử dụng tiên tiến hơn. Điều này thúc đẩy nhà hoạch định chính sách khuyến khích hãng xe phát triển dòng phương tiện nhiên liệu linh hoạt (FFV), giải bài toán hạ tầng trước khi ứng dụng năng lượng mới.
Tuy nhiên, giới khoa học vẫn đặt dấu hỏi về mức giảm thải cả vòng đời của nhiên liệu sinh học, bởi nó còn phụ thuộc vào loại cây nguyên liệu, vùng trồng và quy trình sản xuất. Loại sản xuất từ mía, ngô, dù hấp thụ CO2 khi cây sinh trưởng, việc trồng trọt lại dựa vào phân bón, thuốc trừ sâu phát thải cao để duy trì năng suất. Ngoài ra, quá trình lên men cũng thải ra CO2, methane và hợp chất khí oxit nitơ (NOx).
Theo chuyên trang khí hậu Carbon Brief, nhiên liệu sinh học được phát triển thêm nhiều loại mới. Sau thế hệ sản xuất từ mía, ngô, các loại nhiên liệu sinh học mới từ nguyên liệu sinh khối (rơm, cỏ, dầu thải) và tảo, vi khuẩn giúp giảm đáng kể tác động tiêu cực tới môi trường, khí hậu.
Trong khuôn khổ Diễn đàn Tài chính 2026 “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh” do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức vào chiều 20/5, ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp Ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM (HDBank), đã chỉ ra nguyên nhân khiến nhiều công ty khó tiếp cận vốn ngân hàng.
Một năm ngân hàng gặp doanh nghiệp chỉ 4 lần, do đó quyết định cho vay luôn rủi ro
Theo ông, nhiều doanh nghiệp hiện vẫn cho rằng chỉ cần có báo cáo tài chính kiểm toán cũng như tài sản đảm bảo là đủ để tiếp cận vốn. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của ngân hàng, điều quan trọng hơn là chất lượng và độ trung thực của các báo cáo đó, cũng như cấu trúc tài chính của doanh nghiệp có đủ an toàn để ngân hàng chấp nhận rủi ro hay không.
Ông dẫn lại lời từ một ngân hàng nước ngoài từng nói: “Nếu anh cần vay 1 triệu USD thì hãy tự có 500.000 USD trước, chúng tôi sẽ cho anh vay 500.000 USD còn lại. Ngày nay nghe có vẻ quá thận trọng vì ở Việt Nam hiện nay nhiều khoản vay có thể lên tới 70-75% nhu cầu vốn nhưng họ có cơ sở rất rõ ràng. Họ nói một năm tôi giỏi lắm chỉ gặp anh được 4 lần, tức là 4 quý. Còn lại hơn 360 ngày tôi không ở cạnh doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định cho vay luôn là quyết định rủi ro”.
Do đó, trong nhiều trường hợp, tài sản bảo đảm chỉ là yếu tố thứ cấp bởi nếu thị trường biến động, ngân hàng cũng chưa chắc thu hồi được đầy đủ giá trị tài sản khi xử lý nợ. Điều cốt lõi vẫn nằm ở sức khỏe tài chính, dòng tiền và khả năng vận hành của doanh nghiệp.
Từ góc nhìn rộng hơn, ông Phương cho rằng Việt Nam cần cải thiện mạnh xếp hạng tín nhiệm quốc gia để nâng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí thấp hơn. Hiện, mức xếp hạng tín nhiệm hiện nay của Việt Nam vẫn dưới ngưỡng đầu tư an toàn, trong khi nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan đã đạt ngưỡng này từ nhiều năm trước. Nếu Việt Nam cải thiện được xếp hạng tín nhiệm, chúng ta sẽ vay được với lãi suất thấp hơn và kỳ hạn dài hơn.
Hiện nay, bối cảnh vĩ mô toàn cầu đang có biến động phức tạp: xung đột địa chính trị, áp lực lạm phát, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng đặt ra những thách thức cấp bách. Trong nước, dù quy mô tín dụng mở rộng, nhưng việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn nhiều rào cản với chi phí vốn có xu hướng tăng cao.
Trong khi thị trường chứng khoán và kênh trái phiếu doanh nghiệp cần thêm thời gian để có thanh khoản, thì bước chuyển quan trọng cho thị trường vốn tập trung vào Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam. Đây được kỳ vọng không chỉ là một kênh dẫn vốn mới mà còn là hạ tầng tài chính trọng yếu, kết nối doanh nghiệp trong nước với các định chế tài chính toàn cầu.
TPHCM sắp có sàn giao dịch tài chính hàng hải trong Trung tâm tài chính quốc tế, dự thu hút 300 tỷ USD giao dịch mỗi năm
Chia sẻ tại sự kiện, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế TPHCM (VIFC-HCMC), cho biết quy chế hoạt động của trung tâm hiện vẫn đang chờ Hội đồng điều hành thông qua trước khi chính thức vận hành. Tuy nhiên, công tác chuẩn bị cho giai đoạn triển khai thực tế đã được xúc tiến mạnh trong thời gian qua, từ xây dựng hạ tầng, hoàn thiện chiến lược phát triển đến các hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước.
Về định hướng phát triển, VIFC-HCMC xác định 4 trụ cột chính, trong đó tài chính hàng hải được xem là một trong những mũi nhọn chiến lược. Vị này tiết lộ Hệ sinh thái Trung tâm tài chính hàng hải quốc tế (IMFC) sẽ được ra mắt chính thức vào ngày mai 21/5.
Trung tâm tài chính hàng hải được định vị là nơi cung cấp các dịch vụ như cho thuê tài chính, thanh toán xuất nhập khẩu xuyên biên giới, bảo hiểm hàng hải - hàng không và tái bảo hiểm. Ước tính tổng giá trị giao dịch liên quan đến các cụm cảng lớn như Cái Mép - Thị Vải, Tân Cảng hay cảng Cần Giờ trong tương lai có thể vượt 1.000 tỷ USD. Tuy nhiên, khoảng 80-90% giao dịch tài chính liên quan hiện vẫn được thực hiện ở nước ngoài, chủ yếu tại Singapore và Hong Kong.
Một trong những nguyên nhân lớn là vấn đề pháp lý. Các giao dịch tài chính hàng hải thường có tần suất tranh chấp cao, trong khi cơ chế xử lý tại Việt Nam chưa đáp ứng được chuẩn mực quốc tế.
Vì vậy, IMFC đang hướng tới việc xây dựng cơ chế trọng tài và tòa án quốc tế riêng, áp dụng thông luật Anh nhằm tăng khả năng thu hút giao dịch toàn cầu. Song song đó là cơ chế dòng vốn linh hoạt hơn so với khuôn khổ hiện hành trong nước.
“Nếu tháo gỡ được hai nút thắt này, chúng tôi kỳ vọng có thể kéo khoảng 30% giao dịch tài chính hàng hải của Việt Nam về thực hiện tại IFC, tương đương khoảng 300 tỷ USD mỗi năm”, ông Huân nói.
Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân của Bộ Tài chính, chi phí khám và chữa bệnh thuộc phạm vi danh mục bảo hiểm y tế chi trả được giảm trừ tối đa 23 triệu đồng mỗi năm, trong khi chi phí cho giáo dục và đào tạo được giảm trừ tối đa 24 triệu đồng mỗi năm. Như vậy, tổng mức giảm trừ bổ sung cho 2 danh mục này có thể lên tới 47 triệu đồng mỗi năm cho một người nộp thuế.
Theo phương án này, mức giảm trừ y tế tối đa gấp 2,3 lần mức chi tiêu bình quân cho y tế, và mức giảm trừ giáo dục - đào tạo gấp 2,5 lần mức chi tiêu bình quân cho lĩnh vực này của cá nhân trong năm 2024.
Bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý dự thảo do Bộ Tài chính mới công bố cho thấy đa số ý kiến đồng tình với phương án này của Bộ Tài chính.
Nhóm ủng hộ gồm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Canon Việt Nam cùng nhiều địa phương như Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Cà Mau, Lai Châu, Điện Biên.
Các đơn vị cho rằng chi phí khám chữa bệnh, học tập và đào tạo đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Việc nâng mức giảm trừ sẽ phản ánh sát hơn chi phí thực tế của người dân, góp phần giảm gánh nặng thuế và khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử.
Tuy vậy, cũng không ít đơn vị cho rằng việc quy định một con số cố định có thể nhanh chóng lạc hậu trước biến động của giá cả và chi phí sinh hoạt.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng việc thiết kế mức giảm trừ đối với chi phí y tế và giáo dục - đào tạo cần được đặt trong tổng thể mục tiêu của chính sách thuế thu nhập cá nhân, bao gồm bảo đảm công bằng, hỗ trợ người nộp thuế, duy trì tính bền vững của ngân sách và nâng cao tính ổn định của hệ thống pháp luật.
Tuy nhiên, để tối ưu hiệu quả, đơn vị này cần nghiên cứu bổ sung cơ chế điều chỉnh tự động mức giảm trừ theo các chỉ số kinh tế vĩ mô như chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc mức chi tiêu bình quân do cơ quan có thẩm quyền công bố.
Trong khi đó, UBND TP Huế cho rằng Dự thảo nên quy định mức trần giảm trừ theo tỷ lệ tham chiếu, chẳng hạn gắn với mức lương cơ sở hoặc mức giảm trừ gia cảnh, thay vì ấn định ở một con số tuyệt đối từ 20-24 triệu đồng/năm. Theo địa phương này, cách tiếp cận như vậy sẽ giúp chính sách linh hoạt hơn, hạn chế nguy cơ nhanh chóng trở nên lạc hậu trước tác động của lạm phát và biến động chi phí sinh hoạt.
Trong khi đó, UBND TP Đồng Nai đề nghị có cơ chế điều chỉnh định kỳ theo biến động giá cả và mức sống của người dân. Việc này nhằm bảo đảm tính thực chất của chính sách, tăng khả năng hỗ trợ người nộp thuế, phù hợp với xu hướng quốc tế.
Công ty TNHH Tư vấn Thuế Deloitte Việt Nam cho rằng cơ chế điều chỉnh các mức cố định trong nghị định thường không theo kịp diễn biến thị trường, dẫn đến nguy cơ các mức giảm trừ không còn phản ánh sát thực tế khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi.
Do đó, doanh nghiệp này đề xuất Bộ Tài chính bổ sung cơ chế điều chỉnh mức trần giảm trừ theo biến động giá cả. Theo Deloitte Việt Nam, cách tiếp cận này sẽ giúp các mức giảm trừ luôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ và phản ánh kịp thời diễn biến của thị trường.
Dù vậy, cơ quan soạn thảo vẫn bảo lưu quan điểm. Bộ Tài chính cho biết mức giảm trừ được đề xuất trong dự thảo nghị định đã được tính toán trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, mức chi tiêu cho y tế và giáo dục - đào tạo trong thời gian qua, đồng thời có tính đến xu hướng trong thời gian tới.
Mức giảm trừ đề xuất đã được tính toán trong tổng thể chính sách và bảo đảm cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ người nộp thuế với khả năng của ngân sách nhà nước.
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để thu hút dòng vốn quốc tế
Phát biểu khai mạc hội nghị “Tài sản mã hóa và tương lai thị trường tài chính số” diễn ra ngày 5/6, ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), nhận định sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc của hệ thống tài chính toàn cầu.
Theo ông, tài sản mã hóa, đặc biệt là xu hướng số hóa các tài sản trong thế giới thực, đang dần vượt ra khỏi giai đoạn thử nghiệm để trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của nền kinh tế số.
Ông Bùi Hoàng Hải nhấn mạnh, với định hướng thúc đẩy phát triển thị trường tài chính số, bao gồm việc xây dựng hành lang pháp lý và triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết số 05, Việt Nam đang có cơ hội lớn để thu hút nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo và nâng cao vị thế trong lĩnh vực công nghệ tài chính của khu vực.
Tuy vậy, lãnh đạo UBCKNN cũng lưu ý rằng sự hình thành và phát triển của các thị trường mới luôn đi kèm những thách thức về quản trị, giám sát và bảo vệ nhà đầu tư. Do đó, việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính minh bạch, an toàn, có khả năng quản trị rủi ro hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư là yêu cầu then chốt đối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp cũng như các chủ thể tham gia thị trường.
“Bài toán cốt lõi hiện nay là xây dựng được một hệ sinh thái tài chính minh bạch, an toàn, quản trị tốt rủi ro và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong quá trình phát triển các thị trường mới, bao gồm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam”, ông Bùi Hoàng Hải nhấn mạnh.
Chỉ nhà đầu tư đang sở hữu tài sản mã hóa được tham gia trong giai đoạn đầu
Chia sẻ về khung pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, ông Tô Trần Hòa, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Quản lý thị trường giao dịch tài sản mã hóa (UBCKNN), cho biết chỉ trong thời gian ngắn kể từ tháng 9/2025 đến nay, Việt Nam đã ban hành hàng loạt văn bản quan trọng, tạo nền tảng pháp lý ban đầu cho sự hình thành và phát triển của thị trường này.
Một trong những điểm nổi bật là tài sản mã hóa đã được thừa nhận là một loại tài sản theo Bộ luật Dân sự. Theo ông Hòa, đây là bước tiến quan trọng bởi lần đầu tiên tài sản mã hóa của nhà đầu tư có cơ sở pháp lý rõ ràng để được bảo vệ như một loại tài sản hợp pháp.
“Đặc biệt, công tác phòng, chống rửa tiền là một trong những tiêu chí quan trọng để Việt Nam đáp ứng các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế như FATF. Hiện nay, Việt Nam vẫn nằm trong danh sách giám sát tăng cường (Grey List) và chúng tôi kỳ vọng việc hoàn thiện các chính sách sẽ góp phần nâng cao mức độ tuân thủ và cải thiện vị thế của Việt Nam trong các đánh giá quốc tế”, ông Hòa bày tỏ.
Liên quan đến tổ chức giao dịch và vận hành sàn giao dịch tài sản mã hóa, ông Hòa cho biết mọi hoạt động mua bán sẽ phải được thực hiện thông qua các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được cấp phép tại Việt Nam.
Đáng chú ý, sau thời hạn 6 tháng kể từ khi đơn vị cung cấp dịch vụ đầu tiên được cấp phép hoạt động, các giao dịch của nhà đầu tư trong nước bắt buộc phải được thực hiện trên các nền tảng đã được cấp phép trong nước.
Tuy nhiên, quy định này không đồng nghĩa với việc nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ tài sản về các sàn giao dịch trong nước.
“Nhà đầu tư vẫn có quyền tự lưu ký tài sản trong ví cá nhân. Quy định này không bắt buộc nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ tài sản về các sàn giao dịch trong nước. Nhưng khi phát sinh giao dịch mua bán, giao dịch đó phải được thực hiện thông qua các tổ chức được cấp phép tại Việt Nam”, ông Hòa lưu ý.
Đối với các loại tài sản mã hóa khác, cơ chế quản lý cơ bản sẽ được áp dụng tương tự như đối với các tài sản mã hóa phổ biến như bitcoin. Cơ quan quản lý cũng trao quyền tương đối lớn cho các tổ chức cung cấp dịch vụ trong việc lựa chọn tài sản niêm yết. Tuy nhiên, các đơn vị này phải xây dựng quy trình thẩm định, tiêu chí niêm yết và cơ chế công bố thông tin minh bạch nhằm bảo đảm nhà đầu tư có đầy đủ cơ sở để đánh giá rủi ro trước khi tham gia thị trường.
Theo đại diện UBCKNN, tài sản mã hóa là lĩnh vực mới và tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy việc triển khai thị trường phải được thực hiện theo hướng thận trọng, có kiểm soát và từng bước hoàn thiện chính sách. Mọi hoạt động đều phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn cho hệ thống tài chính.
Lãnh đạo UBCKNN cũng nhấn mạnh nhà đầu tư cần tự chịu trách nhiệm đối với các quyết định đầu tư của mình. Với đặc thù là thị trường mới có mức độ biến động và rủi ro cao, việc cân nhắc kỹ lưỡng trước khi tham gia là điều hết sức cần thiết.
Trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục nghiên cứu các sản phẩm mới như cho vay ký quỹ, cho vay tài sản mã hóa và các sản phẩm phái sinh liên quan đến tài sản mã hóa. Đồng thời, Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý ở cấp độ cao hơn, đẩy mạnh công tác nâng cao nhận thức cho nhà đầu tư và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong lĩnh vực này.
Ở góc độ thị trường, ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam (VBA), đánh giá Việt Nam đã xây dựng được nền tảng pháp lý ban đầu trong thời gian tương đối ngắn.
Theo ông Trung, lợi thế của Việt Nam là quốc gia đi sau, qua đó có thể học hỏi cả những kinh nghiệm thành công lẫn những bài học thất bại từ các thị trường phát triển trước. Nhiều mô hình pháp lý, quản trị và giám sát đã được kiểm chứng trên thế giới có thể trở thành cơ sở tham khảo quan trọng trong quá trình xây dựng thị trường trong nước.
Tuy nhiên, ông cho rằng khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ mà ở chất lượng nguồn nhân lực. Tài sản mã hóa là lĩnh vực gắn liền với công nghệ tài chính và có cơ chế vận hành khác biệt đáng kể so với thị trường chứng khoán truyền thống. Các nền tảng giao dịch có khả năng xử lý khối lượng dữ liệu và số lượng tài khoản rất lớn, trong khi các rủi ro liên quan đến tuân thủ, công nghệ và phòng chống tội phạm luôn hiện hữu.
Theo ông Trung, nếu thiếu đội ngũ nhân sự có năng lực về quản trị rủi ro, tuân thủ pháp luật, công nghệ và phòng chống vi phạm thì thị trường rất dễ phát sinh các rủi ro vận hành. Vì vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực cần được đặt ở vị trí trung tâm, song hành với quá trình hoàn thiện khung pháp lý và phát triển công nghệ.
"Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng cần hình thành một hệ thống đào tạo chính quy cho ngành tài sản mã hóa, tập trung vào các nội dung pháp lý và tuân thủ, quản trị rủi ro, phòng chống rửa tiền, điều tra giao dịch xuyên biên giới, quản trị vận hành sàn giao dịch, bảo mật và an toàn tài sản số và đạo đức nghề nghiệp", ông kiến nghị.