“Còn nhớ khi tôi cho Iran 10 ngày để đạt được thỏa thuận hoặc mở eo biển Hormuz không?” – Tổng thống Mỹ Donald Trump viết trên nền tảng Truth Social ngày 4-4.
“Thời gian đang cạn dần. Còn 48 giờ trước khi mọi hậu quả khủng khiếp sẽ giáng xuống họ” – nhà lãnh đạo Mỹ nêu cảnh báo.
Theo Hãng tin AFP, ban đầu, vào ngày 21-3, ông Trump đã đe dọa sẽ “xóa sổ” các nhà máy điện của Iran, bắt đầu với nhà máy điện lớn nhất của nước này, “nếu Iran không mở hoàn toàn eo biển Hormuz trong vòng 48 giờ”.
Tuy nhiên, hai ngày sau, ông cho biết “các cuộc nói chuyện rất tốt đẹp và hiệu quả” đang được tổ chức với phía Iran. Ông đã hoãn mọi cuộc tấn công vào các nhà máy điện Iran trong vòng 5 ngày.
Sau đó ông tiếp tục gia hạn, kéo dài đến 20h tối 6-4 theo giờ Mỹ (tức 7h sáng 7-4 theo giờ Việt Nam).
“Quân đội của chúng tôi, lực lượng vĩ đại và hùng mạnh nhất ở bất cứ đâu trên thế giới, thậm chí còn chưa bắt đầu phá hủy những gì còn lại ở Iran. Tiếp theo sẽ là các cây cầu, rồi đến các nhà máy điện!” – ông Trump viết trên Truth Social hôm 2-4.
Những ngày qua ông Trump liên tục dọa sẽ giáng đòn mạnh vào Iran. Các chuyên gia cho rằng các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng dân sự có thể cấu thành “tội ác chiến tranh”, theo AFP.
Ngày 4-4, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi cho biết Tehran đang hướng tới việc đạt được một thỏa thuận chấm dứt xung đột với Mỹ và Israel theo hướng “toàn diện và lâu dài”.
Theo phóng viên TTXVN tại Trung Đông, trong tuyên bố đăng trên mạng xã hội X, Ngoại trưởng Araghchi khẳng định lập trường của Iran đang bị một số phương tiện truyền thông Mỹ “diễn giải sai lệch”, đồng thời nhấn mạnh Tehran không từ chối tham gia các cuộc đàm phán tại Islamabad (Pakistan) như một số thông tin trước đó.
Ông Araghchi nêu rõ điều quan trọng đối với Iran không phải là địa điểm đàm phán mà là các điều kiện bảo đảm chấm dứt “cuộc chiến phi pháp” một cách dứt điểm và bền vững.
Trong diễn biến khác, Nga đã bắt đầu đợt sơ tán theo kế hoạch đối với 198 công nhân khỏi nhà máy điện hạt nhân Bushehr ở Iran, ngay sau khi một quả đạn do các cuộc tấn công của Mỹ và Israel rơi xuống gần cơ sở này.
“Đúng như kế hoạch, chúng tôi đã bắt đầu giai đoạn chính của cuộc sơ tán hôm nay (4-4)” – Hãng thông tấn Tass của Nga dẫn lời ông Alexey Likhachev, tổng giám đốc Tập đoàn năng lượng hạt nhân Rosatom của Nga.
Đây là đợt sơ tán thứ ba khỏi cơ sở này và hiện vẫn còn khoảng 100 nhân viên Nga ở lại đây.
Nằm gần thành phố Bushehr trên bờ tây nam Vịnh Ba Tư, nhà máy điện hạt nhân Bushehr là cơ sở điện hạt nhân duy nhất của Iran đang hoạt động và đóng vai trò trung tâm trong chương trình năng lượng dân sự của nước này.

Nam Ninh, thủ phủ của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, là điểm dừng chân tiếp theo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam trong chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 đến 17-4.
Sau gần 10 tiếng đi từ Bắc Kinh, đoàn tàu cao tốc đến ga Nam Ninh Đông tối 16-4. Khoảng 19h10 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân rời tàu cao tốc. Đông đảo thanh niên Trung Quốc trong trang phục các dân tộc ở Quảng Tây và du học sinh Việt Nam mang theo quốc kỳ 2 nước đã đứng chào mừng.
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đi tàu cao tốc từ Bắc Kinh đến Nam Ninh là một phần trong các hoạt động khảo sát, tìm hiểu mô hình thí điểm khu đô thị mới, hệ thống hạ tầng và công nghiệp đường sắt, cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), đổi mới sáng tạo ở cả Bắc Kinh, Hà Bắc và Quảng Tây - nơi có thành phố Nam Ninh.
Đây là lần thứ hai trong chuyến thăm Trung Quốc lần này Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trải nghiệm tàu cao tốc của Trung Quốc.
Trên tàu cao tốc đến Nam Ninh ngày 16-4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nghe lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước trong ngành đường sắt Trung Quốc báo cáo về quy mô mạng lưới đường sắt, tầm quan trọng và khả năng kết nối tới các địa phương, sự đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội cùng kế hoạch tương lai.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực giao thông đường sắt tốc độ cao, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị lãnh đạo ngành đường sắt và các doanh nghiệp Trung Quốc chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ, tham gia cùng Việt Nam trong quá trình xây dựng, chuyển giao công nghệ cho các dự án đường sắt quan trọng tại Việt Nam.
Theo Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình, các chuyến khảo sát thực tế sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác cụ thể giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước.
Qua đó từng bước cụ thể hóa các nhận thức chung cấp cao, các thỏa thuận đã ký kết thành các dự án và chương trình hợp tác cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho sự phát triển của mỗi nước và cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka

Ngày 8-5, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka. Sự kiện, theo chia sẻ của Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne, có ý nghĩa lịch sử, truyền cảm hứng không chỉ cho Quốc hội và các nghị sĩ Sri Lanka mà còn chứa đựng nhiều chia sẻ về kinh nghiệm quý cho đất nước này.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Quốc hội Sri Lanka.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội, Tiến sĩ Jagath Wickramaratne,
Thưa các vị nghị sĩ Quốc hội Sri Lanka,
Thưa toàn thể quý vị và các bạn,
Hôm nay, tôi rất vinh dự được phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, cơ quan lập pháp tối cao, nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Sri Lanka. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới Ngài Chủ tịch Quốc hội, các vị nghị sĩ và toàn thể Nhân dân Sri Lanka lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và tình hữu nghị chân thành nhất.
Tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tôi chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của Nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Thưa quý vị và các bạn,
Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng xúc động của tình cảm mà Nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với Nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của Nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc chúng ta đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21-7-1970, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka đã trải qua hơn nửa thế kỷ vun đắp. Năm ngoái, hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và tham dự Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tại TP.HCM.
Những sự kiện đó cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được xây dựng bằng văn kiện ngoại giao, mà còn bằng sự hiểu biết, sự tin cậy và tình cảm chân thành giữa Nhân dân hai nước.
Hôm nay, tại Quốc hội Sri Lanka, tôi muốn chia sẻ với quý vị về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua.
Gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Đất nước vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, nguồn lực phát triển rất hạn hẹp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới.
Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Chúng tôi nhận thức rằng để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của Nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò quản lý, định hướng và kiến tạo phát triển của Nhà nước; đồng thời tôn trọng quy luật thị trường, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Trong nông nghiệp, Việt Nam trao quyền nhiều hơn cho người nông dân, khơi thông năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước chuyển từ tình trạng thiếu ăn sang tự chủ lương thực và trở thành một trong những quốc gia có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản.
Trong công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, thúc đẩy thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Từ thực tiễn ấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện qua các con số thống kê về kinh tế, xã hội (từ chỗ thiếu lương thực và nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nằm trong số 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP năm 2025 đạt mức 514 tỉ USD, GDP đầu người trên 5.000 USD/năm; là một trong 15 quốc gia có quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, tham gia trên 20 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế quan trọng trên thế giới...).
Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Năng suất lao động cần tiếp tục nâng cao; chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và những biến động của thương mại toàn cầu đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những kết quả đã đạt được không làm chúng tôi tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có thể có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển.
Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh.
Độc lập, tự chủ là nền tảng để mỗi quốc gia bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là có đủ bản lĩnh, năng lực và niềm tin để hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi.
Việt Nam luôn coi nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là quan trọng. Nội lực là con người, thể chế, văn hoá, truyền thống, khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân. Ngoại lực là tri thức, thị trường, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế. Sức mạnh của phát triển nằm ở khả năng kết hợp hài hòa giữa hai nguồn lực đó.
Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa rất lớn, nhưng năng lực nội sinh vẫn mang tính quyết định. Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng không đủ. Phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đang nỗ lực chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ hai, phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển; đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế.
Phát triển bền vững cần một nền tảng pháp lý ổn định, minh bạch, công bằng và có khả năng thích ứng với thay đổi. Nếu Chính phủ mở đường bằng chính sách, thì Quốc hội bảo đảm con đường ấy được soi sáng bởi pháp luật, trách nhiệm giải trình và ý chí của Nhân dân.
Ở Việt Nam, Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong thể chế hóa đường lối phát triển, ban hành pháp luật, quyết định các vấn đề lớn của đất nước, giám sát hoạt động của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của Nhân dân. Hôm nay phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, tôi càng thấy rõ hơn vai trò của các cơ quan lập pháp trong việc tạo dựng niềm tin, thúc đẩy cải cách và bảo đảm phát triển bao trùm.
Một chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến trong một lĩnh vực. Nhưng một tư duy phát triển đúng có thể mở ra con đường cho cả quốc gia. Đổi mới ở Việt Nam không chỉ là thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là thay đổi cách nhìn về phát triển, về vai trò của Nhà nước, thị trường, người dân và doanh nghiệp.
Chúng tôi vừa làm vừa tổng kết, vừa thí điểm vừa nhân rộng, không nóng vội, không cực đoan, nhưng kiên trì đổi mới. Bài học của Việt Nam là phải xuất phát từ thực tiễn đất nước mình, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời biết học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển.
Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP. Phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm ổn định của người lao động, bằng sự an toàn của cộng đồng và bằng niềm tin của Nhân dân.
Với quan điểm "dân là gốc", Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn và nâng cao chất lượng sống. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo, người tham gia và người làm chủ tiến trình phát triển.
Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân cảm thấy họ là người thụ hưởng, người tham gia và người làm chủ của tiến trình phát triển ấy.
Thứ tư, coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế. Nông nghiệp còn gắn với an ninh lương thực, sinh kế của hàng triệu người dân, ổn định xã hội, văn hóa cộng đồng và khả năng chống chịu trước khủng hoảng.
Việt Nam bắt đầu nhiều bước đổi mới từ nông nghiệp và nông thôn. Từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi nhận thấy rằng bảo đảm sinh kế của nông dân, phát triển hạ tầng nông thôn, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, chế biến sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột rất quan trọng của phát triển bền vững.
Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho mọi quốc gia.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chúng tôi hiểu rõ khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn.
Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka: làm thế nào để phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn; hiện đại hơn nhưng bao trùm hơn; hội nhập sâu hơn nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.
Mỗi quốc gia có lịch sử, văn hóa, điều kiện, nguồn lực và lựa chọn phát triển riêng. Điều chúng tôi mong muốn chia sẻ là hành trình mà chúng tôi đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, chúng tôi mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tôi vui mừng thông báo với Quốc hội và Nhân dân Sri Lanka rằng trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Với khuôn khổ quan hệ mới này, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để làm sâu sắc hợp tác chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục, văn hoá, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phối hợp đa phương.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số hướng hợp tác lớn.
Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện.
Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương.
Đặc biệt, Quốc hội hai nước có thể tăng cường trao đổi kinh nghiệm về lập pháp, giám sát, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ nhóm yếu thế, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo cơ hội cho thanh niên. Việt Nam mong muốn hai Quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Thứ hai, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Sri Lanka còn nhiều dư địa. Hai nước có thị trường, sản phẩm, vị trí địa lý và năng lực bổ trợ cho nhau. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Hai bên đã thống nhất mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 1 tỉ USD trong tương lai gần; đồng thời khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại.
Mục tiêu 1 tỉ USD không chỉ là một con số. Đó là biểu tượng cho niềm tin mới, động lực mới và không gian hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Tôi đề nghị các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hóa các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Các lĩnh vực có thể ưu tiên gồm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất, năng lượng tái tạo, linh kiện điện tử và ô tô, dược phẩm, bệnh viện, viễn thông, logistics, hạ tầng, du lịch, dịch vụ và công nghệ thông tin. Đây là những lĩnh vực mà Sri Lanka đã bày tỏ quan tâm thu hút đầu tư và hợp tác với Việt Nam.
Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn.
Nông nghiệp là lĩnh vực rất gần gũi với cả hai quốc gia. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Sri Lanka như tinh thần Tuyên bố chung năm 2025. Tôi tin rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho người dân nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.
Thứ tư, phát triển các động lực hợp tác mới: kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh.
Sri Lanka có vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, là điểm kết nối quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế. Việt Nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Hai nước có thể hợp tác trong logistics, cảng biển, vận tải, thương mại hàng hải, bảo vệ môi trường biển, ứng phó thiên tai và phát triển kinh tế biển xanh.
Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong chuyển đổi số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, chính phủ số, dịch vụ công số, giáo dục số, y tế số, năng lượng tái tạo và tài chính xanh. Hai nước đã cam kết hợp tác trong khai thác các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và chuyển đổi số, phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Trí tuệ, công nghệ, sáng tạo và dữ liệu có thể trở thành những cây cầu mới nối liền Việt Nam và Sri Lanka.
Thứ năm, tăng cường giáo dục, văn hoá, du lịch và giao lưu Nhân dân.
Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thật sự bền chặt khi được nuôi dưỡng không chỉ bằng thỏa thuận và văn kiện, mà bằng sự hiểu biết, giao lưu và tình cảm của người dân hai nước.
Việt Nam và Sri Lanka có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, du lịch Phật giáo, du lịch di sản, du lịch biển và du lịch sinh thái. Hai bên đã nhất trí tầm quan trọng của kết nối hàng không và khuyến khích các hãng hàng không sớm mở đường bay trực tiếp; đồng thời thúc đẩy các biện pháp tạo thuận lợi cho du lịch, kinh doanh và giao lưu Nhân dân.
Hai nước cũng cần tăng cường trao đổi sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp trẻ; mở rộng học bổng; thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Sri Lanka và Sri Lanka tại Việt Nam. Việt Nam trân trọng việc Sri Lanka sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về khảo cổ học, bảo tồn di sản văn hóa; đồng thời Việt Nam cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong nghiên cứu Phật giáo, văn hóa và lịch sử giữa hai nước.
Tôi cũng mong Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại và đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.
Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia đang phát triển cần tăng cường đoàn kết, hợp tác và tiếng nói chung. Việt Nam và Sri Lanka cùng coi trọng chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, vai trò của Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác khu vực.
Hai nước cần tiếp tục phối hợp trong các vấn đề cùng quan tâm như hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải; chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, tội phạm mạng, nhập cư bất hợp pháp; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; ứng phó biến đổi khí hậu; thúc đẩy tài chính khí hậu cho các quốc gia đang phát triển; và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Tuyên bố chung năm 2025 cũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việt Nam hoan nghênh định hướng của Sri Lanka tăng cường hợp tác với Đông Nam Á và ASEAN. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để Sri Lanka mở rộng hợp tác với ASEAN; đồng thời mong muốn Sri Lanka tiếp tục là cầu nối để Việt Nam tăng cường quan hệ với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Các quốc gia vừa và nhỏ không tìm kiếm sức mạnh bằng đối đầu. Chúng ta tìm kiếm sức mạnh bằng đoàn kết, bằng luật pháp quốc tế, bằng năng lực tự cường, bằng chất lượng quản trị, bằng niềm tin của Nhân dân và bằng sự tin cậy giữa các dân tộc.
Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, bởi chúng tôi đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập, bởi chúng tôi đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển, bởi chúng tôi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của Nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước.
Tôi tin tưởng rằng với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội,
Thưa các vị nghị sĩ,
Từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, chúng ta có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, Nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Chúc Quốc hội Sri Lanka tiếp tục là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân Sri Lanka.
Chúc Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng.
Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Sri Lanka không ngừng phát triển, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.
Trân trọng cảm ơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Rạng sáng 1/3, còi báo động tấn công tên lửa hú inh ỏi tại trung tâm tác chiến của Mỹ ở cảng Shuaiba, miền nam Kuwait. Khoảng 60 binh sĩ đã nhanh chóng chạy vào hầm trú ẩn bằng bê tông khi một tên lửa đạn đạo của Iran bay qua phía trên đầu họ.
Đó là thời điểm Iran tiến hành đòn tập kích bằng nhiều loại tên lửa và máy bay không người lái (UAV) vào loạt mục tiêu Mỹ ở khắp vùng Vịnh, nhằm đáp trả chiến dịch tấn công do Mỹ - Israel phát động hôm 28/2.
Đến 9h15, tín hiệu báo an toàn vang lên tại căn cứ Shuaiba. Các binh sĩ tháo mũ bảo hiểm và quay trở lại bàn làm việc. Tại căn cứ này, họ đang điều hành việc vận chuyển thiết bị, đạn dược và nhân sự quân đội Mỹ khắp Trung Đông.
Khoảng 30 phút sau, "mọi thứ rung chuyển" khi một UAV Iran lao vào căn cứ, một binh sĩ kể lại với CBS News ngày 9/4. "Nó giống như những gì bạn thấy trong phim. Tai ù đi và mọi thứ trở nên mờ mịt. Chúng tôi thấy chóng mặt".
Trong trạng thái bàng hoàng, quân nhân này quan sát hiện trường xung quanh. "Mảnh đạn văng khắp nơi. Nhiều người bị thương ở đầu, bụng và tay chân, máu chảy nhiều. Có người còn bị thủng màng nhĩ", anh kể.
Đây là một thành viên trong nhóm binh sĩ Mỹ tại căn cứ Shuaiba lần đầu tiên lên tiếng về đòn tập kích tên lửa, UAV của Iran vào khu vực này. Các binh sĩ không tiết lộ danh tính, do quy định hạn chế tiếp xúc với truyền thông của quân đội Mỹ.
Cuộc tập kích đã khiến 6 người thiệt mạng và hơn 20 người bị thương, trở thành vụ tấn công đẫm máu nhất đối với quân đội Mỹ kể từ năm 2021.
Khoảng một tuần trước khi Chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng bắt đầu hôm 28/2, hầu hết binh sĩ và phi công Mỹ đồn trú tại Kuwait đã được chuyển đến căn cứ ở Jordan, Arab Saudi và những nơi nằm ngoài tầm bắn của tên lửa Iran.
Một số binh sĩ cho biết chỉ huy thông báo họ sẽ không chuyển đi lâu, chỉ cần chuẩn bị đồ đạc cho 30 ngày và để lại hầu hết thiết bị cá nhân, gồm cả máy tính do quân đội cấp. Một binh sĩ giải thích mệnh lệnh "rời khỏi điểm X" có nghĩa là tránh xa vùng nguy hiểm.
Nhưng đối với vài chục thành viên của Bộ Tư lệnh Hậu cần số 103 thuộc Lục quân Mỹ tại căn cứ lớn phía nam thủ đô Kuwait City, họ có một lệnh khác là thu dọn mọi thứ và chuyển đến cảng Shuaiba.
Bộ Tư lệnh Hậu cần số 103 gồm 62 đơn vị trực thuộc, thực hiện chỉ huy và kiểm soát gần 6.000 binh sĩ thuộc Lực lượng Dự bị Lục quân Mỹ. Họ có nhiệm vụ cung cấp lực lượng đã qua huấn luyện và luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu để hỗ trợ các chiến dịch trên toàn cầu của quân đội Mỹ.
Trung tâm chiến thuật ở cảng Shuaiba được xây dựng tương tự các căn cứ trong cuộc chiến của Mỹ ở Iraq hay Afghanistan, thời kỳ UAV chưa xuất hiện phổ biến.
Các tòa nhà tại đây được bảo vệ bằng những tấm bê tông cốt thép chữ T xếp cạnh nhau, được thiết kế để bảo vệ quân nhân trước các vụ nổ từ đạn cối hoặc rocket, nhưng không có tác dụng bảo vệ trước các cuộc tập kích từ trên không.
"Nó chỉ là căn cứ quân sự kiểu cũ. Vài rào chắn nhỏ và loạt tòa nhà dựng bằng thùng container, nơi chúng tôi có thể lập văn phòng tạm bợ", một binh sĩ cho hay.
Các binh sĩ nói với CBS News rằng họ thắc mắc tại sao mình vẫn ở trong tầm bắn của tên lửa và UAV Iran, dù chỉ làm nhiệm vụ hậu cần, không trực tiếp tham chiến.
Một binh sĩ nói họ đã thấy thông tin tình báo chỉ ra căn cứ này nằm trong danh sách mục tiêu tiềm năng của Iran. "Chúng tôi đã tiến gần Iran hơn, vào một khu vực cực kỳ nguy hiểm và vốn là mục tiêu đã được xác định. Tôi chưa thấy có lý do rõ ràng cho việc này", người lính nói.
Khi được yêu cầu đánh giá về mức độ phòng thủ của căn cứ, anh trả lời "tôi sẽ xếp nó vào loại 'không có gì'. Còn xét về khả năng phòng thủ trước UAV, cũng là con số 0".
Người phát ngôn Lầu Năm Góc từ chối bình luận về thông tin trên và cho biết một cuộc điều tra về vụ tấn công tại cảng Shuaiba đang được tiến hành.
Trong một bài đăng trên X phản hồi thông tin mà CBS News đăng tải trước đó, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Sean Parnell cho biết "mọi biện pháp sẵn có đã được thực hiện để bảo vệ quân đội của chúng ta ở mọi cấp độ", thêm rằng "cơ sở được bảo vệ bằng các bức tường cao khoảng 1,8 m".
Khi xung đột nổ ra, Iran không chỉ phòng thủ đơn thuần mà chuyển hướng tấn công trả đũa, dựa vào kho UAV giá rẻ và tên lửa đã tích lũy trong nhiều năm. Một UAV Shahed của Iran đã phát nổ ngay tại chính giữa khu làm việc của các binh sĩ Mỹ tại trung tâm tác chiến ở cảng Shuaiba.
"Mọi thứ lúc đó hỗn loạn", một binh sĩ mô tả. "Người bị thương nằm la liệt, chẳng kịp phân loại".
Theo nhân chứng, các binh sĩ đã tự sơ cứu cho nhau bằng băng gạc, nẹp và garo tự chế. Họ sử dụng phương tiện dân sự để đưa người bị thương đến hai bệnh viện ở ngoại ô Fahaheel của thủ đô Kuwait City.
"Một trong những điều khiến tôi day dứt nhất là không thể đưa tất cả đồng đội ra ngoài. Tôi biết vẫn còn những binh sĩ bên trong chưa được nhận dạng và sơ tán", một người sống sót kể khi trên đường đến bệnh viện.
Trong buổi họp báo tại Washington sau đó, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth mô tả UAV của Iran đã "lọt lưới", ám chỉ nó đã vượt qua được hệ thống phòng thủ kiên cố của căn cứ ở Kuwait. "Nó đã vô tình đánh trúng trung tâm tác chiến được bảo vệ kiên cố", ông nói, nhưng thừa nhận đó là "vũ khí mạnh mẽ".
Nhiều binh sĩ tại căn cứ dường như không hài lòng về cách mô tả này. "Nói rằng đó chỉ là vũ khí bị lọt lưới là sai sự thật. Tôi muốn mọi người biết rằng căn cứ đã không được chuẩn bị để củng cố phòng thủ. Đó không phải là nơi được bảo vệ kiên cố", một binh sĩ cho hay.
Tuy nhiên, họ cũng không muốn những bình luận của mình bị hiểu sai. "Tôi không có ý chê bai Lục quân hay Bộ Quốc phòng, nhưng tôi nghĩ việc nói ra sự thật là quan trọng, để chúng ta rút ra bài học từ những sai lầm này", một binh sĩ khác nói.
Khi được hỏi liệu cuộc tấn công có phải là thực tế tất yếu khi tham gia chiến đấu hay không, anh nói "đúng là như vậy".
"Tôi rất buồn vì mất đi những đồng đội trong vụ tấn công và nó sẽ theo tôi suốt quãng đời còn lại", anh nói. "Nhưng tôi cùng gia đình họ cũng vô cùng tự hào về những người lính đó và sự hy sinh của họ".
Thanh Tâm (Theo CBS News, CNN)
Nguồn: https://vnexpress.net/linh-my-ke-ve-cuoc-tap-kich-uav-cua-iran-vao-can-cu-o-kuwait-5060675.html

