Các cuộc tấn công của Nga nhằm phong tỏa hoàn toàn hành lang đường biển đến Ukraine vẫn tiếp diễn, với việc thành phố cảng Odessa một lần nữa trở thành mục tiêu vào đêm 27/4.
Đại tá Yuriy Ignat, người phát ngôn lực lượng không quân Ukraine, cho biết phòng không nước này đã bắn hạ 123 UAV Nga, nhưng vẫn có 28 chiếc lọt lưới, gây ra thiệt hại đáng kể.
Theo New Voice of Ukraine, nhiều vụ nổ và tiếng pháo phòng không đã vang lên trước bình minh. Các cuộc tấn công đã đánh trúng một khách sạn và cơ sở hạ tầng cảng, nhưng may mắn không có thường dân thiệt mạng.
Báo Odessa Journal nhận định, các sự kiện gần Odessa giống như sự khởi đầu của việc tái áp đặt lệnh phong tỏa hải quân. Một số tàu đang đậu tại cảng Odessa đã bị tấn công và hư hại.
Những diễn biến này đặt ra nghi vấn về tuyên bố của Bộ Quốc phòng Ukraine rằng lực lượng phòng không của họ đã bảo vệ được “hành lang vận chuyển ngũ cốc” an toàn. Về mặt hình thức, điều này đúng, nhưng chỉ dọc theo bờ biển các nước NATO (Romania, Bulgaria và Thổ Nhĩ Kỳ), nơi Nga không được quyền tấn công.
Tuy nhiên, tình hình gần các cảng Biển Đen lại khác, mặc dù cảng Odessa và khu vực ven biển được bảo vệ bởi hệ thống phòng không đa tầng vô cùng dày đặc của lực lượng vũ trang Ukraine (AFU), bao gồm các hệ thống phòng không Gepard, IRIS-T và NASAMS, cùng nhiều nhóm hỏa lực cơ động (MTF).
Nga thay đổi chiến thuật, sử dụng tên lửa mới
Trang Black Sea News dẫn nguồn tin từ AFU cho biết quân đội Nga (RFAF) liên tục thay đổi chiến thuật, ví dụ như phóng UAV tấn công lên độ cao trên 2.000-2.500m để vượt qua các khu vực tác chiến của pháo phòng không cỡ nhỏ và đơn vị phòng không cơ động.
Đáng chú ý, Tổng cục Tình báo quốc phòng Ukraine (GUR) xác nhận RFAF sử dụng tên lửa hành trình S-71K Kover mới, có khả năng vượt qua lưới lửa phòng không của AFU ở Odessa.
Tên lửa S-71K Kover, phóng từ máy bay chiến đấu tàng hình Su-57, được cho là mang theo đầu đạn nổ mạnh OFAB-250-270 nặng 250kg, có thể phá hủy các mục tiêu kiên cố chỉ bằng một đòn đánh trúng. Với động cơ phản lực R500 và tầm bay hơn 300km, việc phát hiện tên lửa này trở nên khó khăn hơn đáng kể.
Đại tá Ignat trấn an dư luận Ukraine rằng không nên quá lo lắng, vì máy bay chiến đấu tàng hình Su-57 với tên lửa S-71K Kover được cho là không có khả năng “phá hủy hoàn toàn” một cảng lớn như Odessa chỉ trong một hoặc nhiều lần tập kích. Tuy nhiên, ông lại giữ im lặng về việc tên lửa hành trình S-71K Kover được thiết kế chủ yếu để tấn công các mục tiêu điểm, ví dụ như hệ thống phòng không.
Chiến lược “vô hiệu hóa và gây sức ép kinh tế”
Đại tá Ignat nói đúng về một điều: cảng Odessa thực sự là một quần thể khổng lồ gồm các bến bãi, nhà kho và cầu tàu. Việc phá hủy hoàn toàn quần thể này sẽ đòi hỏi sử dụng một lượng lớn vũ khí chiến lược, hoặc hàng nghìn tên lửa chiến thuật.
Trung tâm Nghiên cứu Hòa bình (CPS) của Thụy Sĩ đưa ra một tính toán đáng quan tâm, cho rằng, trong bối cảnh quân sự và địa chính trị hiện tại (tính đến tháng 4), Nga không thể phá hủy hoàn toàn cảng Odessa về mặt vật chất, mà chỉ có thể ưu tiên chiến lược “vô hiệu hóa và gây sức ép kinh tế”.
Tất cả những gì đang diễn ra liên quan đến các cuộc tấn công của Nga đều phù hợp với mô hình gây áp lực kinh tế hơn là phá hủy. Điều này thể hiện rõ qua những mục tiêu mà RFAF đang tấn công vào Odessa.
Thay vì phá hủy hoàn toàn các nhà ga và bến cảng, UAV tự sát và tên lửa của Nga đang tiến hành tập kích vào những mục tiêu trọng yếu (kho chứa ngũ cốc, kho nhiên liệu, dịch vụ kỹ thuật) để khiến hoạt động cảng biển trở nên bất khả thi hoặc tốn kém đối với Ukraine. Điều này làm mất đi nguồn thu xuất khẩu của Kiev và gây ra sự sụp đổ về mặt hậu cần mà không cần đến một cuộc tấn công trực diện.
Tầm quan trọng của cảng Odessa
Mặt khác, các cảng của vùng Odessa vẫn nằm trong số những cảng quan trọng đối với an ninh lương thực toàn cầu. Theo Thông tấn xã Quốc gia Ukraina (UNN), cảng Odessa là cảng thương mại đường biển lớn nhất Ukraina và là một trong những cảng quan trọng nhất ở Biển Đen.
Cảng có diện tích khoảng 1.410 ha, bao gồm 21km đường sắt và 8,2km đường nội bộ. Tổng chiều dài khu vực neo đậu tàu thuyền là hơn 10km cầu cảng. Cảng có 55-56 bến, đủ khả năng tiếp nhận nhiều loại tàu khác nhau.
Từ thời Liên Xô, cảng Odessa được thiết kế để xử lý từ 40 đến 50 triệu tấn hàng hóa mỗi năm (bao gồm tới 25 triệu tấn hàng rời dạng lỏng và từ 15 đến 25 triệu tấn hàng rời dạng khô).
Odessa là mục tiêu số một của RFAF, vì phần lớn hàng xuất nhập khẩu của Ukraine đều đi qua đây. Theo số liệu chính thức, kể từ đầu năm, đã có 63 cơ sở hạ tầng cảng bị hư hại do các cuộc tấn công, điều này chắc chắn ảnh hưởng đến việc bốc xếp hàng hóa.
Theo Sergei Lebedev, điều phối viên của tổ chức kháng chiến ngầm Nikolaev (thân Nga), thông tin từ thành phố Izmail về các cuộc tấn công của Nga vào Odessa cho biết: “Cảng Odessa vẫn đang hoạt động, tuy nhiên hai phần ba cảng đã bị san bằng thành đống đổ nát, nhưng các bến tàu còn lại vẫn chưa bị phá hủy”.
"Sau khi tàu Trung Quốc, Nhật Bản và Pakistan đi qua eo biển Hormuz an toàn với sự cho phép của hải quân Iran, một số quốc gia châu Âu đang muốn chúng tôi chấp thuận để phương tiện của họ di chuyển trên tuyến đường biển này", đài truyền hình nhà nước Iran IRIB cho biết hôm nay, song không nêu rõ đó là những nước nào.
Ebrahim Azizi, lãnh đạo Ủy ban An ninh Quốc gia và Chính sách Đối ngoại quốc hội Iran, cùng ngày cho biết Tehran đã chuẩn bị cơ chế quản lý giao thông trên eo biển Hormuz và sẽ sớm công bố. Theo ông, chỉ có tàu của các bên hợp tác với Iran mới được hưởng lợi và nước này sẽ thu phí với "các dịch vụ đặc biệt được cung cấp theo cơ chế".
Chưa có quốc gia châu Âu nào lên tiếng về thông tin.
Trong thời bình, eo biển Hormuz là nơi tuyến vận chuyern khoảng 20% lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên toàn cầu.
Sau khi chiến sự với Mỹ - Israel bùng phát ngày 28/2, Iran đã chặn phần lớn hoạt động vận tải trên tuyến đường thủy trọng yếu này. Iran chỉ mở lại eo biển Hormuz trong thời gian ngắn sau lệnh ngừng bắn ngày 8/4. Mỹ sau đó tuyên bố phong tỏa các cảng của Iran để đáp trả.
Tàu thuyền bị tắc lại ở khu vực gây tác động lớn đến thị trường thế giới, đồng thời mang lại cho Iran lợi thế đáng kể trong đàm phán.
Tehran nhiều lần tuyên bố giao thông hàng hải qua Hormuz "sẽ không quay trở lại trạng thái trước xung đột". Giới chức Iran tháng trước thông báo đã nhận được khoản phí đầu tiên liên quan đến hoạt động đi lại trên tuyến hàng hải trọng yếu này.
Iran những ngày qua cũng cho phép hàng chục tàu thuyền, trong đó có các phương tiện của Trung Quốc, đi qua eo biển Hormuz sau khi một số nước "đạt thỏa thuận về các nghị định thư quản lý eo biển".
Theo kênh CNBC, trong phiên giao dịch chiều 1-5 (giờ Việt Nam), giá dầu thế giới lại đồng loạt tăng. Trong đó giá dầu Brent chuẩn quốc tế tăng hơn 1% lên 111,63 USD/thùng, còn dầu WTI của Mỹ tăng gần 1% lên 105,54 USD.
Trước đó, giá dầu thậm chí từng nhảy vọt qua mốc 126 USD/thùng, đánh dấu mức cao nhất kể từ năm 2022, phản ánh tâm lý lo ngại của thị trường trước bất ổn địa chính trị tại Trung Đông.
Mặc dù Mỹ - Iran đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hơn 3 tuần và chính quyền Tổng thống Donald Trump tuyên bố "chấm dứt" thù địch với Tehran, nhưng căng thẳng vẫn chưa thật sự hạ nhiệt. Các kịch bản quân sự vẫn đang được chuẩn bị, làm gia tăng nguy cơ xung đột bùng phát trở lại và gây cú sốc mới cho thị trường năng lượng.
Hiện Mỹ tiếp tục duy trì phong tỏa hải quân nhằm gây sức ép buộc Tehran quay lại bàn đàm phán, còn Iran kiên quyết từ chối mở lại eo biển Hormuz nếu các biện pháp này không được dỡ bỏ.
Trong khi đó, lưu thông qua eo biển Hormuz - tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới - vẫn bị gián đoạn nghiêm trọng và là điểm nghẽn lớn nhất của thị trường.
Nhà phân tích Anushree Ganeriwala của Economist Intelligence Unit nhận định thị trường đang phụ thuộc gần như hoàn toàn vào biến số này, do đó nếu dòng chảy dầu không sớm phục hồi, giá có thể tiếp tục leo thang.
Thực tế, việc đóng cửa kéo dài hơn 50 ngày đã khiến khoảng 13 triệu thùng dầu/ngày bị "kẹt", tạo ra cú sốc nguồn cung chưa từng có.
Bên cạnh đó, dù giá dầu chưa chạm mức lịch sử như năm 2008, tác động thực tế lên nền kinh tế vẫn rất lớn do thiếu hụt nguồn cung. Lý do là các quốc gia đang tiêu thụ nhanh chóng dầu dự trữ khẩn cấp để bù đắp sự thâm hụt đó.
Ngân hàng Goldman Sachs ước lượng dầu dự trữ toàn cầu có thể giảm từ 8,2 tỉ thùng trước chiến sự xuống dưới 7,4 tỉ thùng nếu khủng hoảng kéo dài đến cuối tháng 5.
Tại châu Á, nhiều quốc gia đã bắt đầu "thấm đòn", áp dụng hàng loạt biện pháp như cắt giảm tiêu thụ nhiên liệu, thậm chí hạn chế cung cấp khí đốt và cắt giảm giao thông công cộng.
Theo JPMorgan, nhu cầu dầu toàn cầu đã giảm tới 4,3 triệu thùng/ngày trong tháng 4, chủ yếu tại châu Á và Trung Đông. Bà Bridget Payne (Oxford Economics) dự báo nhu cầu sẽ tiếp tục bị kéo giảm do chi phí nhiên liệu tăng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực như hàng không.
Hiện tượng này cho thấy giá dầu cao đang bắt đầu "phá hủy nhu cầu", buộc các nền kinh tế phải điều chỉnh hành vi tiêu dùng năng lượng.
Nhà kinh tế học Paul Krugman cảnh báo một cuộc suy thoái toàn diện trên toàn cầu là hoàn toàn có thể xảy ra nếu eo Hormuz tiếp tục bị đóng cửa trong 3 tháng tới.
Trong khi đó, chuyên gia Jim Reid từ Deutsche Bank cho rằng thế giới đang đối mặt với nguy cơ "cú sốc lạm phát đình trệ kéo dài", khi giá năng lượng tăng đẩy lạm phát lên cao trong lúc tăng trưởng suy yếu. Thực tế, lợi suất trái phiếu tại nhiều nền kinh tế lớn đã tăng mạnh, còn lạm phát tại Mỹ đang ở mức 3,3%.
Do đó, nếu khủng hoảng nguồn cung và xung đột Trung Đông không sớm được giải quyết, thị trường dầu mỏ không chỉ đối mặt với biến động giá mạnh mà còn có thể trở thành tác nhân kích hoạt tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu mới.
Đài Nippin ngày 24.6 đưa tin cảnh sát tỉnh Hyogo (Nhật Bản) hôm 23.6 đã bắt giữ bà Aki Mochizuki (50 tuổi) với cáo buộc phi tang thi thể chồng cũ. Theo các nguồn tin điều tra, bà Mochizuki đã thừa nhận hành vi giấu xác, đồng thời ám chỉ chính mình đã sát hại chồng cũ là ông Yutaka Nishiguchi.
Nghi phạm bị cáo buộc đã bỏ thi thể ông Nishiguchi vào túi và giấu trong tủ đông tại căn hộ ở thành phố Kobe từ khoảng năm 2012. Bà Mochizuki đã đứng tên thuê căn hộ này từ tháng 7.2002. Ban đầu, nghi phạm phủ nhận liên quan nhưng đến tối 22.6 đã gọi điện cho cảnh sát để đầu thú.
Sự việc được phơi bày khi một cư dân cùng tòa nhà báo cáo với ban quản lý về mùi hôi thối bốc ra từ căn hộ vào chiều 19.6. Đến ngày 20.6, cảnh sát tiến hành kiểm tra và phát hiện thi thể nạn nhân trong chiếc tủ đông, trong lúc nguồn điện căn hộ đã bị ngắt, The Japan Times đưa tin.
Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy ông Nishiguchi đã qua đời vào khoảng tháng 12.2011. Nhận định ban đầu cho thấy thi thể nạn nhân đã bị cắt làm đôi ở khu vực vùng bụng sau khi tử vong. Phần thân trên của nạn nhân mặc áo thun và phần thân dưới mặc quần đùi. Tại hiện trường, cảnh sát không phát hiện vết máu hay dấu hiệu lục lọi, cướp tài sản.
Sở Cảnh sát Hyogo hiện đã thành lập ban chuyên án để tiếp tục điều tra vụ việc theo hướng tội phạm phi tang thi thể, đồng thời mở rộng làm rõ nghi vấn giết người.