“Bây giờ tôi đi tiếp thì đơn độc mà quay về thì dang dở”, Phương Nhi, 31 tuổi, sống tại bang Illinois, Mỹ nói.
Năm 2004, bà Tô Thị Hồng (mẹ Nhi) ở phường Phú Định, TP HCM được chị ruột bảo lãnh sang Mỹ định cư theo diện F4. Hồ sơ cho phép chồng và các con dưới 21 tuổi độc thân đi kèm. Lúc đó, gia đình có 6 thành viên, gồm vợ chồng bà Hồng và bốn người con, trong đó Phương Nhi là con út.
Sau 15 năm chờ đợi, năm 2019 hồ sơ của bà Hồng được duyệt nhưng ba người con đã quá tuổi đi kèm. Vợ chồng bà và Phương Nhi (được tính dưới 21 tuổi nhờ Đạo luật CSPA) đủ điều kiện định cư.
Cuối năm đó, gia đình chia hai nửa tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Để đưa ba người con còn lại sang Mỹ, vợ chồng bà Hồng nộp hồ sơ diện F2B (con trên 21 tuổi chưa kết hôn của thường trú nhân). Họ dự kiến chờ 5 năm, nhưng đến nay hồ sơ vẫn chưa hoàn tất do hệ thống di trú đình trệ sau Covid-19.
Không chỉ chịu cảnh gia đình chia cắt, cuộc sống của 6 thành viên trong gia đình rơi vào cảnh dở dang. Tại Mỹ, vợ chồng bà Hồng không biết tiếng Anh để giao tiếp, không nghề nghiệp và thu nhập. Họ phụ thuộc hoàn toàn vào tiền từ Việt Nam gửi sang.
Ban đầu, bà Hồng thích không khí trong lành, yên tĩnh của nước Mỹ, nhưng sự hào hứng sau đó biến thành cảm giác ngột ngạt. Hàng ngày, bà đi bộ một vòng công viên rồi về nấu ăn, cuối tuần chờ con chở đi siêu thị châu Á. Chồng bà, ông Minh, nhiều lần học lái xe nhưng đều bỏ dở vì sợ tốc độ cao trên cao tốc. Không có bằng lái, ông ví mình như “người mất chân”. Nơi họ sống thưa dân và hiếm người Việt, ông quay quắt nhớ cảm giác đi xe máy uống cà phê hay trò chuyện với hàng xóm.
Cách đây bốn năm, người chị đứng đơn bảo lãnh qua đời vì ung thư khiến động lực ở lại Mỹ của vợ chồng bà Hồng càng mong manh. Vì cô đơn, cứ khoảng 6 tháng, vợ chồng bà Hồng lại mua vé bay về Việt Nam. Việc rời Mỹ nhiều tháng khiến ông bà bị ngắt quãng chuỗi cư trú liên tục, không đủ điều kiện thi lấy quốc tịch.
Cuộc sống của Phương Nhi cũng đảo lộn. Cô bỏ dở chương trình thạc sĩ tại Việt Nam để sang Mỹ. Nơi đất khách, Nhi học lại bằng đại học chuyên ngành marketing trong hai năm để tìm việc. Việc thay đổi môi trường cùng áp lực học hành khiến cô không thể hòa nhập. “Ở Mỹ tôi rất cô đơn vì không có bạn thân”, Nhi nói. Sau giờ làm, cô chỉ biết xem phim, đọc truyện để lấp đầy khoảng trống.
Ba anh chị của Nhi ở lại Việt Nam mắc kẹt theo một kiểu khác. Để không bị ảnh hưởng đến việc xét duyệt hồ sơ, hơn 20 năm qua họ không dám yêu đương, kết hôn.
Mỗi dịp Tết, cảm giác cô đơn và nhớ nhà của Nhi càng lớn. Cô muốn về nước. Nhưng cuối năm 2022, luật sư thông báo hồ sơ của ba anh chị em đã bước vào giai đoạn xử lý tại Trung tâm Thị thực Quốc gia (NVC). Cô đành tiếp tục ở lại Mỹ chờ đợi. “Chúng tôi chỉ muốn gia đình được ở cùng một nơi nhưng chờ đợi quá lâu khiến ai cũng mệt mỏi”, Nhi nói.
Tình cảnh của gia đình Nhi không hiếm gặp trên các hội nhóm của những người chuẩn bị di cư Mỹ. Dữ liệu năm 2025 của Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ghi nhận khoảng 2,4 triệu đơn I-130 (công dân hoặc thường trú nhân Mỹ bảo lãnh người thân sang định cư) đang chờ xét duyệt.
Tình trạng tồn đọng kéo dài khiến thời gian chờ đợi ngày càng tăng. Nghiên cứu của Viện Cato (Mỹ) chỉ ra thời gian chờ trung bình cho các diện bảo lãnh gia đình tăng từ 4 năm 3 tháng (năm 1991) lên 8 năm 1 tháng (năm 2018). Trong đó, diện F4 có thời gian chờ lâu nhất, trung bình 14 năm 7 tháng. Sự chậm trễ khiến nhiều người bỏ lỡ các cột mốc quan trọng cuộc đời như học hành, kết hôn, sinh con, chăm sóc cha mẹ. Đặc biệt, việc phải hoãn hay bỏ dở học tập, mua nhà do tình trạng pháp lý không rõ ràng để lại ảnh hưởng rất lâu dài.
Ông José Latour, Luật sư trưởng của Văn phòng Luật di trú LatourLaw, trụ sở ở TP HCM, cho biết nhóm hồ sơ toàn cầu diện F4 hiện mới giải quyết đến các đơn nộp trước năm 2008.
“Trong nền văn hóa coi trọng gia đình như Việt Nam, sự chậm trễ này tạo ra áp lực lớn, đôi khi trở nên đau lòng”, luật sư nói. Trong 33 năm hỗ trợ các gia đình bị xáo trộn vì chính sách di trú của Mỹ, ông từng chứng kiến nhiều người phải hoãn việc học của con, hoãn nghỉ hưu, đám cưới hay lễ tốt nghiệp. “Họ không biết mình nên chờ đợi cơ hội định cư hay từ bỏ để ổn định cuộc sống tại quê nhà”, ông José Latour nói.
Ông dẫn chứng trường hợp một người cha nộp hồ sơ diện F4, luôn giữ tâm thế sẵn sàng lên máy bay nên dừng mọi kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam với hy vọng các con được sang Mỹ học tập. Khi con ông đã tốt nghiệp đại học, đi làm và quá 21 tuổi khi người cha được cấp thị thực và không còn đủ điều kiện đi cùng. Người con này rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa việc chờ khiếu nại để giữ cơ hội định cư Mỹ hay kết hôn ở Việt Nam để ổn định cuộc sống và chấp nhận từ bỏ quyền lợi di trú.
Từ thực tế trên, đại diện LatourLaw khuyên các gia đình nên chủ động chuẩn bị kế hoạch học tập, nghề nghiệp và tài chính theo kịch bản thời gian chờ kéo dài, thay vì phụ thuộc vào mốc xét duyệt của cơ quan di trú.
Dù hệ thống di trú Mỹ gặp nhiều khó khăn và tồn đọng lớn, ông José Latour vẫn đánh giá lạc quan về tương lai. Ông tin rằng Mỹ sẽ sớm quay lại truyền thống đón nhận người nhập cư hợp pháp và quy trình xử lý hồ sơ bảo lãnh gia đình sẽ hiệu quả hơn trong vài năm tới.
Ngôi làng Miejsce Odrzańskie - một cộng đồng nông nghiệp nhỏ nằm ở phía nam Ba Lan, từng trở thành tâm điểm chú ý của truyền thông quốc tế bởi hiện tượng sinh nở kỳ lạ kéo dài suốt hơn một thập kỷ: Toàn bộ trẻ em sinh ra tại đây đều là bé gái.
Với dân số chỉ khoảng 300 người, Miejsce Odrzańskie nằm ở rìa tỉnh Opole - khu vực nhỏ nhất và ít dân nhất Ba Lan. Theo hồ sơ khai sinh địa phương, kể từ năm 2009, tất cả trẻ em chào đời trong làng đều là bé gái. Tính đến năm 2019, đã có tổng cộng 13 bé gái được sinh ra liên tiếp mà không xuất hiện thêm bé trai nào. Khi đó, bé trai nhỏ tuổi nhất làng đã khoảng 12 tuổi.
Thông tin về sự mất cân bằng giới tính đặc biệt này bắt đầu lan rộng sau khi Miejsce Odrzańskie cử một đội toàn nữ tham dự cuộc thi dành cho lực lượng lính cứu hỏa tình nguyện trẻ cấp khu vực - sân chơi vốn lâu nay thường do nam giới chiếm ưu thế. Hình ảnh đội cứu hỏa toàn nữ khiến truyền thông Ba Lan và nhiều nước châu Âu đổ dồn sự chú ý về ngôi làng nhỏ này.
Ông Rajmund Frischko - người đứng đầu chính quyền địa phương, từng tuyên bố sẽ trao phần thưởng cho cặp vợ chồng đầu tiên sinh được bé trai tại làng. Dù không công bố cụ thể giá trị phần thưởng, ông khẳng định đây sẽ là "một món quà vô cùng hấp dẫn". Thậm chí, lãnh đạo địa phương còn gợi ý khả năng đặt tên một con phố theo tên cậu bé đầu tiên chào đời sau chuỗi năm toàn sinh con gái.
Và niềm mong mỏi của người dân đã được giải tỏa khi một bé trai khỏe mạnh chào đời vào ngày 2/5/2020, được đặt tên là Bartek. Mẹ của cậu bé, Anna Milek, gọi Bartek là một "phép màu kép" bởi cô đã phải trải qua một ca phẫu thuật nghiêm trọng vào năm ngoái, khiến khả năng sinh nở bị đe dọa.
Sự ra đời của Bartek mang lại niềm vui lớn cho cả ngôi làng, đặc biệt trong bối cảnh dân số khu vực đang suy giảm và thiếu hụt nam giới trẻ. Thị trưởng Frischko chia sẻ: "Đây là tin rất mừng. Mọi đứa trẻ ra đời đều đặc biệt, nhưng Bartek còn mang đến cho chúng ta hy vọng vào tương lai".
Cha của Bartek - anh Grzegorz, sau đó còn được người dân gọi vui là "anh hùng địa phương". Gia đình anh chị trước đó cũng đã có một cô con gái đầu lòng.
Ông Rajmund Frischko khi ấy cho biết, sự ra đời của Bartek mang ý nghĩa đặc biệt đối với cả ngôi làng, nhất là trong bối cảnh khu vực đang đối mặt tình trạng suy giảm dân số và thiếu hụt nam giới trẻ tuổi.
Ông Tomasz Golasz - người đứng đầu đội cứu hỏa địa phương và cũng là cha của 2 bé gái, cho biết hiện tượng này thực tế đã kéo dài nhiều thập kỷ.
"Nó đã diễn ra trong vài thập kỷ. Tôi chuyển đến làng, kết hôn với một cô gái địa phương và chúng tôi có 2 con gái. Những người hàng xóm của tôi cũng vậy", ông chia sẻ.
Giới khoa học khi đó cũng dành sự quan tâm đáng kể cho trường hợp của Miejsce Odrzańskie. Các chuyên gia di truyền học tại Ba Lan cho rằng cần kiểm tra thêm dữ liệu lịch sử, hồ sơ dân số và điều kiện sống để xác định liệu có tồn tại yếu tố sinh học đặc biệt hay không.
Về nguyên tắc, giới tính thai nhi được quyết định bởi nhiễm sắc thể từ tinh trùng của người cha. Tinh trùng mang nhiễm sắc thể X kết hợp với trứng sẽ tạo thành bé gái, trong khi nhiễm sắc thể Y tạo thành bé trai. Tỷ lệ thông thường dao động gần mức 50/50.
Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng lưu ý nhiều yếu tố có thể tác động đến tỷ lệ này, gồm yếu tố gene, môi trường sống hoặc đặc điểm sinh học của từng cộng đồng. Dù vậy, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào đưa ra kết luận cụ thể cho trường hợp của ngôi làng Ba Lan.
Một số chuyên gia thống kê lại cho rằng hiện tượng này hoàn toàn có thể xuất hiện do xác suất ngẫu nhiên. Theo tính toán, xác suất sinh liên tiếp 12 bé gái trong điều kiện tỷ lệ sinh trai - gái cân bằng là khoảng 1/4.096. Dù thấp, đây vẫn là khả năng có thể xảy ra về mặt toán học.
Dù chuỗi năm toàn sinh con gái tại Miejsce Odrzańskie đã kết thúc, hiện tượng này vẫn được xem là một trong những câu chuyện dân số hiếm gặp và gây tò mò nhất tại châu Âu trong nhiều năm qua.
Tiết khí này kéo dài khoảng 15 ngày, đánh dấu giai đoạn thời tiết trong lành, đã qua đợt lạnh ẩm của mùa xuân nhưng chưa chạm tới cái nóng gay gắt đầu hè.
Theo chuyên gia văn hóa Phạm Đình Hải, tên gọi "Thanh minh" có nghĩa là trong sạch và sáng sủa. Đây là thời điểm khí dương hưng thịnh, vạn vật tràn đầy sức sống. Do đó, Thanh minh mang hai ý nghĩa lớn: Đạo hiếu (tảo mộ) và di dưỡng tinh thần (hội đạp thanh).
Việc tu sửa phần mộ vào thời điểm vượng khí nhất trong năm là cách con cháu giúp nơi yên nghỉ của tổ tiên luôn sạch sẽ, khang trang. Bên cạnh đó, các hoạt động ngoài trời, dã ngoại (giẫm lên cỏ xanh) giúp con người hòa mình vào thiên nhiên, tăng cường gắn kết gia đình và cộng đồng.
Trong phần hội "đạp thanh" thời xưa, mọi người ăn mặc chỉnh tề, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thơ ca hò vè, các trò chơi dân gian. Nam nữ gặp gỡ, trao đổi tâm tình, hẹn ước.
Mỗi người đều muốn thể hiện rõ bản thân mình (thanh minh) để qua đó lựa chọn, cầu thân, kết bạn. Thời phong kiến, Tết Thanh minh là một dịp hẹn hò, xem mặt rất tốt của các gia đình, thanh niên nam nữ.
Hướng dẫn thực hành nghi thức
Chuyên gia Phạm Đình Hải cho biết, nghi lễ Thanh minh đề cao sự giản dị, lòng thành kính, không cầu kỳ về hình thức.
Về thời gian: Gia chủ có thể tiến hành tảo mộ vào bất kỳ ngày nào trong khoảng 15 ngày của tiết khí. Không nhất thiết phải xem ngày lành tháng tốt hay chọn giờ hoàng đạo. Quan trọng nhất là sắp xếp được thời gian để con cháu tề tựu đông đủ, tinh thần thoải mái.
Về lễ vật: Mâm cúng thường rất đơn giản, chỉ gồm: hương (nhang), hoa tươi, quả chín, trà, nước sạch và một ít vàng mã. Ở nhiều gia đình, chỉ cần một nén tâm nhang cũng đủ thể hiện lòng thành kính. Người dân được khuyến cáo hạn chế đốt vàng mã số lượng lớn để tránh lãng phí và bảo vệ môi trường.
Các bước tại mộ phần:
- Dâng hương, xin phép thần linh, thổ địa cai quản vùng đất trước khi dọn dẹp.
- Quét dọn, phát quang cỏ dại, đắp thêm đất và tu sửa những chỗ sạt lở, hư hỏng để phần mộ khang trang.
- Sau khi dọn dẹp xong, con cháu mới thắp hương tưởng nhớ gia tiên, mời tổ tiên thụ lộc.
Sau phần "lễ" là phần "hội", các gia đình thường tổ chức thụ lộc, ăn uống nhẹ nhàng ngay tại khuôn viên nghĩa trang (nếu cho phép) hoặc tổ chức dã ngoại cuối tuần. Điều này giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về cội nguồn và tự làm mới bản thân cả về thể chất lẫn tinh thần.
Bài văn khấn khi đi tảo một dịp Tết Thanh minh
Theo phong tục truyền thống, khi ra nghĩa trang, gia chủ không thể khấn trực tiếp gia tiên ngay mà phải tuân thủ nguyên tắc "xin phép thần linh trước, mời gia tiên sau".
Gia chủ thắp hương, chắp tay thành tâm khấn:
"Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật. Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Ngũ phương Ngũ thổ Long mạch cai quản khu vực này. Hôm nay nhân tiết Thanh minh, tín chủ con thành tâm sắm lễ, xin phép các ngài cho chúng con được dọn dẹp, tu sửa lại phần mộ của gia tiên họ... (tên họ của gia đình)."
Sau khi dọn dẹp xong, thắp hương lên mộ phần gia tiên và khấn:
"Con kính lạy gia tiên tiền tổ, hương linh cụ... (tên người đã khuất). Nhân tiết Thanh minh vượng khí, con cháu thành tâm sắm lễ, khang trang lại mộ phần, đắp bồi thổ địa. Cúi xin hương linh chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho gia đạo bình an, vạn sự hanh thông".
Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD) đã từng bước hoàn thiện pháp luật tiệm cận chuẩn mực quốc tế, với nền tảng là Luật Người khuyết tật 2010 và Hiến pháp 2013, qua đó xác lập nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử và bảo đảm quyền tiếp cận trong các lĩnh vực cơ bản.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa luật và thực thi vẫn còn lớn, đòi hỏi tiếp tục cải cách.
Pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ người khuyết tật trước các hành vi xâm phạm. Hệ thống trợ giúp xã hội được mở rộng đáng kể, bao gồm trợ cấp hằng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và hỗ trợ giáo dục thông qua miễn giảm học phí, học bổng.
Bên cạnh đó, giáo dục hòa nhập được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp ngày càng nhiều trẻ khuyết tật có cơ hội học tập trong môi trường phổ thông. Ngoài ra các quy định về tiếp cận hạ tầng và dịch vụ công, đặc biệt trong môi trường số, đã bắt đầu được triển khai.
Những thành tựu này là bước tiến quan trọng trong việc thiết lập khung chính sách và thể chế. Tuy nhiên phần lớn các kết quả vẫn dừng ở mức định hình chính sách, trong khi việc triển khai trên thực tế chưa đồng bộ. Nhiều công trình công cộng chưa bảo đảm tiêu chuẩn tiếp cận, nguồn lực dành cho giáo dục hòa nhập còn hạn chế.
Bên cạnh các thành tựu, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể.
Trước hết, cơ chế giám sát và chế tài còn yếu dẫn đến tình trạng nhiều quy định về tiếp cận công trình công cộng không được thực hiện đầy đủ, những tòa nhà thiếu đường dốc, thang máy hoặc hệ thống chỉ dẫn phù hợp. Điều này làm cho pháp luật có nguy cơ trở thành "luật trên giấy".
Thứ hai, các cơ quan và doanh nghiệp chưa có nghĩa vụ rõ ràng trong việc điều chỉnh môi trường làm việc, học tập hoặc dịch vụ để phù hợp với người khuyết tật. Thứ ba, chính sách hiện nay vẫn thiên về trợ cấp hơn là phát triển năng lực; các hỗ trợ về đào tạo nghề, khởi nghiệp và tiếp cận tín dụng còn hạn chế, làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc.
Thứ tư, sự thiếu liên kết liên ngành giữa giáo dục, y tế và lao động khiến quá trình hỗ trợ bị gián đoạn. Ví dụ, người khuyết tật có thể được học hòa nhập nhưng sau khi tốt nghiệp lại gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm.
Cuối cùng, định kiến xã hội vẫn là rào cản lớn khi nhiều người khuyết tật bị đánh giá thấp năng lực và bị hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động. Những hạn chế này cho thấy pháp luật Việt Nam hướng tới đảm bảo và tạo cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật song sự công bằng thực chất vẫn chưa đạt được.
Cần luật hóa rõ ràng yêu cầu các cơ quan và doanh nghiệp chủ động điều chỉnh môi trường làm việc, học tập và dịch vụ (ví dụ: phần mềm đọc màn hình, bàn ghế chuyên dụng). Đồng thời bảo đảm các công trình và sản phẩm được thiết kế để tất cả mọi người đều có thể sử dụng ngay từ đầu.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát độc lập và chế tài đủ mạnh nhằm xử lý hiệu quả các vi phạm. Đây là điều kiện then chốt để chuyển từ "có quyền trên giấy" sang "có khả năng thực hiện quyền".
Phát triển hạ tầng và khả năng tiếp cận, luật hóa tiêu chuẩn bắt buộc, tăng cường kiểm tra và áp dụng chế tài nghiêm minh. Đồng thời cần mở rộng khả năng tiếp cận trong môi trường số, bảo đảm các nền tảng như dịch vụ công trực tuyến, ngân hàng và giáo dục trực tuyến đều thân thiện với người khuyết tật.
Về công nghệ hỗ trợ, Nhà nước cần có chính sách trợ giá thiết bị hỗ trợ như xe lăn điện, máy trợ thính, phần mềm đọc màn hình. Cần khuyến khích phát triển công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, để hỗ trợ tiếp cận thông tin.
Việc tích hợp công nghệ vào giáo dục và việc làm cũng giúp người khuyết tật nâng cao khả năng tự chủ, giảm phụ thuộc vào trợ cấp.
Về hoàn thiện an sinh xã hội, cần điều chỉnh mức trợ cấp phù hợp với chi phí sống và "chi phí khuyết tật", mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế sang phục hồi chức năng và thiết bị hỗ trợ, cả phát triển nhà ở xã hội theo hướng tiếp cận. Điều này giúp chuyển từ bảo đảm tối thiểu sang tạo nền tảng phát triển năng lực.
Cần có chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, xây dựng quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới đào tạo nghề theo hướng gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ số. Những giải pháp này còn nâng cao phẩm giá và vị thế xã hội của người khuyết tật.
Cuối cùng, cần hoàn thiện cơ chế chống phân biệt đối xử thông qua việc bổ sung các chế tài cụ thể đối với hành vi kỳ thị. Tập trung đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức xã hội theo hướng tôn trọng và ghi nhận năng lực của người khuyết tật. Tăng cường sự tham gia của người khuyết tật trong quá trình xây dựng và giám sát chính sách, phát triển công tác xã hội chuyên nghiệp...