Cuối năm 2017, con trai chị Bảo Yến sốt cao và co giật. Lúc đó, người mẹ là nhân viên kế toán, đang bận quyết toán sổ sách, còn chồng đi công tác xa. Trong tình huống khẩn cấp, mẹ chồng chị cầm lái xe máy, mẹ đẻ bế cháu đưa thẳng vào bệnh viện. Trở về nhà, nhìn hai người mẹ phờ phạc, chị nhận ra mình đang để họ bước vào hành trình “nuôi con mọn” lần nữa. Ý định sinh thêm con khép lại.
Chị Yến kết hôn năm 2013 và sinh con đầu lòng một năm sau. Khi bé ba tháng tuổi, chị quay lại công việc. Dù hai bên nội ngoại sống cùng chung cư ở phường An Lạc, việc chăm con không dễ san sẻ. Bé ốm đau liên tục, bên nội phải lo cho hai cháu nhỏ khác, mẹ đẻ không thể gánh vác hết. Chị trở nên ít nói, dễ kích động, cảm giác tách khỏi mọi người. Ban ngày làm việc trong trạng thái kiệt sức, về nhà lại căng thẳng, nhiều lần không kiểm soát được cảm xúc với chồng con.
Khi con vào lớp 1, tình trạng dần cải thiện. Vợ chồng chị nghĩ đến việc sinh thêm nhưng e ngại bài toán kinh tế. Hiện chi phí nuôi con khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng, chiếm 35% thu nhập gia đình, gồm học bán trú, các lớp năng khiếu và các khoản phát sinh. Nếu có con thứ hai, chi phí sẽ tăng lên 70% thu nhập của vợ chồng. “Thà một con nhưng đảm bảo chất lượng sống, vì người lớn có thể nhịn chứ trẻ nhỏ không thể thiếu thốn”, chị Yến nói.
Chị từng chứng kiến những gia đình “rơi từ tầng lớp trung lưu xuống nhóm khó khăn” do sinh con thứ hai. Một người bạn của chị từng vay mượn để xoay xở khi sinh bé thứ hai ngoài kế hoạch. Một người khác ở Phan Rí Cửa (Bình Thuận), từng là kỹ sư IT, nghỉ việc 10 năm chăm hai con và không thể quay lại thị trường lao động. “Tôi chọn không đi vào con đường đó”, Yến nói.
Tại TP HCM, số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh sản là 1,51, tăng nhẹ so với mức 1,43 của năm trước nhưng vẫn ở mức thấp kéo dài. Theo Chi cục Dân số TP HCM, mức sinh này dưới xa ngưỡng thay thế 2,1 con, gây áp lực lớn lên hệ thống an sinh tương lai.
Tiến sĩ Phạm Thị Thúy, giảng viên Học viện Chính trị khu vực II, nhận định xu hướng phụ nữ đô thị 25-40 tuổi chọn sinh một con đang gia tăng. Quyết định này là kết quả từ những thay đổi cấu trúc xã hội, trong đó áp lực kinh tế là rào cản lớn nhất, chi phí nuôi dạy trẻ ngày càng đắt đỏ.
Theo tính toán của Đại biểu Quốc hội, GS TS Nguyễn Thiện Nhân, để nuôi một người con đến năm 18 tuổi, gia đình cần chi ít nhất 900 triệu đồng. Tại các đô thị lớn như TP HCM, giáo dục và y tế là hai khoản ngốn nhiều tiền nhất, có thể đến hàng chục triệu đồng mỗi tháng.
Trên bình diện quốc tế, gánh nặng này cũng đang là “nút thắt” đánh gục mức sinh của nhiều nền kinh tế. Báo cáo của Viện Nghiên cứu Dân số YuWa chỉ ra Hàn Quốc là quốc gia tốn kém nhất thế giới để nuôi một đứa trẻ, với chi phí cao gấp 7,79 lần GDP bình quân đầu người. Tại Mỹ, viện Brookings ước tính chi phí này đã vượt 300.000 USD cho một trẻ dưới 17 tuổi do lạm phát.
Theo bà Thúy, nhiều phụ nữ không dám sinh thêm bởi thị trường lao động chưa tạo cơ hội cho phụ nữ vừa sinh con vừa phát triển sự nghiệp. Với nhóm người có học vấn cao, việc có thêm con thường đồng nghĩa với lộ trình thăng tiến bị bỏ dở. Nhiều bà mẹ hiện đại còn lo ngại về chất lượng dịch vụ xã hội. Các nhu cầu về trường lớp, an toàn thực phẩm và y tế hiện chưa đáp ứng được kỳ vọng.
Việc chuyển sang mô hình gia đình hạt nhân khiến các cặp vợ chồng mất đi mạng lưới hỗ trợ từ ông bà. Khi sự giúp đỡ từ người thân trở thành điều xa xỉ, mọi áp lực chăm sóc dồn hết lên vai người mẹ. “Lựa chọn sinh một con trở thành giải pháp an toàn để họ bảo toàn chất lượng sống”, bà Thúy nói.
Đó cũng là lý do Minh Hạnh, 29 tuổi, quê Bình Dương, thường cười khi bạn bè khuyên sinh thêm để nhận hỗ trợ từ thành phố. “Không ai sinh con chỉ để nhận 5 triệu đồng”, chị nói.
Vợ chồng chị đón con đầu lòng năm 2022. Chồng làm thiết kế đồ họa, chị từng làm marketing nhưng chấp nhận ở nhà làm hậu phương. Nội ngoại ở cách 40 km nên vợ chồng tự xoay xở. Chị thường thức trắng đêm khi con ốm, đến việc mua cháo cũng phải nhờ người trông con giúp. Trở ngại lớn nhất của Hạnh là sự tự ti về công việc sau 5 năm nghỉ chăm con và dịch bệnh, kỹ năng dần tụt hậu giữa thị trường cạnh tranh khắc nghiệt.
Chuyên gia Phạm Thị Thúy cho rằng mức sinh dưới ngưỡng thay thế kéo dài đang để lại nhiều hệ quả. Đầu tiên là già hóa dân số, lực lượng lao động thu hẹp, tạo gánh nặng cho thế hệ trẻ. Những gia đình một con dễ khiến người cao tuổi sống một mình khi con cái đi làm xa, gia tăng nguy cơ cô đơn. Trẻ em thiếu tương tác với anh chị em dễ chịu kỳ vọng lớn, tạo thêm căng thẳng cho cả phụ huynh và trẻ.
Về chính sách, chuyên gia đánh giá các quy định hiện nay chưa đủ. Cần cải cách chế độ thai sản cho nam giới, tăng cường các lớp kỹ năng tiền hôn nhân và cải thiện chất lượng dịch vụ công thay vì chỉ dừng ở việc miễn phí y tế, giáo dục.
Cuối năm ngoái, chị Yến mở một sổ tiết kiệm cho tuổi già của mình. Là con một trong gia đình có cha mẹ ly hôn, chị hiểu cảm giác một mình gánh vác trách nhiệm. “Khoản tiết kiệm là cách tôi tự lo cho bản thân, không tạo gánh nặng cho con sau này”, chị nói.
Giáo dục hòa nhập cho đến nay vẫn thường bị hiểu khá đơn giản là đưa sinh viên khuyết tật vào học chung trường, chung lớp với sinh viên không có khuyết tật. Nhưng việc được chấp nhận vào học không đồng nghĩa với được hòa nhập.
Một sinh viên có thể hiện diện trong lớp học, nhưng vẫn bị loại trừ khỏi những cơ hội học tập.
Trong gần 5 năm làm công việc hỗ trợ sinh viên khuyết tật tại một trường đại học quốc tế, tôi đã đồng hành cùng nhiều sinh viên với những dạng khuyết tật và tình trạng sức khỏe rất khác nhau. Mỗi bạn là một câu chuyện riêng, với những khó khăn rất riêng trong học tập và sinh hoạt, và với những nhu cầu hỗ trợ cũng rất riêng.
Tôi vẫn nhớ một bạn sinh viên khiếm thị bối rối trong lớp khi giảng viên bất ngờ yêu cầu tất cả sinh viên phải liên tục di chuyển từ bàn này sang bàn khác và trả lời những câu hỏi trắc nghiệm chỉ trong 30 giây - khoảng thời gian quá ngắn để người hỗ trợ kịp đọc đáp án cho bạn lựa chọn.
Tôi nhớ một sinh viên sử dụng xe lăn học rất giỏi nhưng chưa từng một lần được tham gia ngày hội thể thao cùng bạn bè, chỉ vì tất cả các hoạt động đều mặc định đòi hỏi thể lực và không ai nghĩ tới việc thiết kế để em có thể tham gia.
Tôi cũng nhớ những sinh viên rối loạn phổ tự kỷ, hoặc có rối loạn ngôn ngữ, hoảng hốt mỗi khi nhìn thấy yêu cầu phải thuyết trình trước lớp. Những tình huống ấy cho thấy rào cản không chỉ nằm ở cơ thể hay tình trạng sức khỏe của người học, mà còn nằm ở cách môi trường học tập được thiết kế.
Cũng cần nói rõ rằng đây không chỉ là vấn đề của riêng sinh viên khuyết tật. Giáo dục hòa nhập thực chất cần nhìn thấy sự giao thoa giữa khuyết tật với những yếu tố khác như giới, điều kiện kinh tế, nơi sinh sống và cơ hội tiếp cận dịch vụ.
Khi cơ hội giáo dục bị hạn chế, cơ hội việc làm cũng bị thu hẹp theo.
Năm 2023, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật chỉ là 23,9%, thấp hơn rất nhiều so với mức 77,4% ở người không khuyết tật; khoảng cách này đặc biệt lớn ở nhóm tuổi 18-40.
Nói cách khác, khuyết tật là một trong những "phép thử" rõ ràng nhất để nhìn ra liệu một hệ thống giáo dục có thực sự sẵn sàng cho sự đa dạng, hay vẫn đang âm thầm ưu tiên một nhóm người học "kiểu mẫu" và bỏ lại phía sau những người khác.
Các cơ sở giáo dục hiện nay thường coi việc tạo cơ hội học tập công bằng cho sinh viên khuyết tật chủ yếu là những điều chỉnh đơn lẻ cho từng cá nhân khi có yêu cầu.
Những điều chỉnh này dĩ nhiên rất cần thiết: thêm thời gian làm bài cho sinh viên có khó khăn về vận động; cung cấp tài liệu điện tử cho sinh viên khiếm thị; cho phép trình bày theo hình thức phù hợp hơn với sinh viên có khó khăn về giao tiếp.
Nhiều sinh viên sẽ không thể học tập hoặc hoàn thành chương trình nếu không có những hỗ trợ đó. Nhưng nếu hòa nhập chỉ phụ thuộc vào việc sinh viên phải tự giải trình, tự chứng minh và lặp đi lặp lại khó khăn của mình với từng môn học, từng giảng viên, thì gánh nặng vẫn đang được đặt nhiều hơn lên vai người học mà không có những cân nhắc chủ động từ phía hệ thống.
Trong bối cảnh Việt Nam, không phải sinh viên nào cũng dễ dàng có giấy tờ xác nhận "loại khuyết tật", đặc biệt với những tình trạng như khuyết tật học tập, rối loạn phát triển thần kinh hay các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Bên cạnh đó là những định kiến rất quen thuộc: rằng người xin hỗ trợ là "yếu đuổi", là "không đủ cố gắng", là "không đủ năng lực", thậm chí là đang đòi hỏi sự ưu ái quá mức. Chính những rào cản đó khiến nhiều sinh viên chọn im lặng, tự xoay xở một mình, cho đến khi các em kiệt sức hoặc bị bỏ lại phía sau.
Khi một hệ thống được thiết kế mà phụ thuộc quá nhiều vào các điều chỉnh cho từng cá nhân, thì sẽ luôn có rất nhiều sinh viên không bao giờ đi được đến bước nhận hỗ trợ. Đó là lý do vì sao giáo dục hòa nhập cần vượt lên trên những câu chuyện về sự cảm thông và những hỗ trợ mang tính "chữa cháy".
Điều chúng ta cần nói đến nhiều hơn là việc chủ động thiết kế hoạt động dạy học để thúc đẩy hòa nhập công bằng ngay từ đầu.
Giảng viên cần chuẩn bị tài liệu ở các định dạng tiếp cận hơn; sử dụng nhiều cách truyền đạt khác nhau thay vì chỉ dựa vào một hình thức duy nhất; thiết kế các hoạt động học tập linh hoạt để sinh viên có thể tham gia bằng nhiều cách; và xây dựng các hình thức đánh giá hơn để người học thể hiện được năng lực thực sự của mình.
Khi một lớp học được thiết kế theo hướng đó, không chỉ sinh viên khuyết tật được hưởng lợi. Sinh viên có lo âu, trầm cảm, rối loạn phổ tự kỷ hay giảm chú ý, bệnh lý mãn tính, hay đơn giản là có những cách học khác với số đông, cũng có thêm cơ hội để học tốt hơn. Hòa nhập không phải là sự ưu tiên dành cho một nhóm nhỏ; đó là cách làm giáo dục tốt hơn cho tất cả mọi người.
Nhưng để làm được điều đó, không thể chỉ trông chờ vào thiện chí của một vài giảng viên hay nỗ lực của một phòng ban chuyên trách.
Giảng viên và cán bộ nhân viên cũng cần được hỗ trợ một cách thực chất: được tập huấn, được cung cấp tài liệu, được tạo điều kiện về thời gian và cơ chế để linh hoạt hơn trong giảng dạy và đánh giá.
Sẽ là không đủ nếu chúng ta chỉ nói với giảng viên rằng họ cần phải "tạo điều kiện cho sinh viên nhiều hơn" mà không đi kèm với những hỗ trợ tương xứng.
Hòa nhập không nên là gánh nặng riêng của sinh viên khuyết tật, cũng không nên trở thành phần việc "làm thêm" của giảng viên. Đó phải là trách nhiệm chung của cả một cơ sở giáo dục.
Khi ngày càng nhiều sinh viên có cơ hội bước vào giảng đường đại học, sự đa dạng trong lớp học cũng sẽ ngày càng trở thành một thực tế hiển nhiên. Và khi đó, hòa nhập không thể tiếp tục được xem là sự ban ơn cho một nhóm thiểu số. Nó cần được nhìn nhận đúng như bản chất: một thước đo quan trọng của chất lượng giáo dục và của mức độ tiến bộ của một xã hội.
Sự việc hi hữu xảy ra vào khoảng 17h18 ngày 27/5 tại Batang Kali, Hulu Selangor, Malaysia.
Theo truyền thông địa phương, đại diện cơ quan chức năng cho biết nạn nhân dường như đã không kéo phanh tay khi đỗ ô tô trên bề mặt con dốc. Chiếc xe trong vụ việc là một chiếc Proton Saga.
Theo các thông tin ban đầu, người đàn ông 67 tuổi đã đỗ xe trong gara trên dốc trước khi ra ngoài đóng cổng. Chiếc xe sau đó lăn ngược lại và đâm vào ông, khiến nạn nhân ngã và bị mắc kẹt bên dưới.
Cảnh sát nhận được tin báo khoảng 12 phút sau vụ tai nạn. Lực lượng cứu hỏa tới hiện trường lúc 17h43 và hỗ trợ đưa người đàn ông ra khỏi xe.
Các cuộc điều tra sơ bộ sau đó cho thấy gara của ngôi nhà nằm trên mặt dốc hướng ra cổng nên chiếc xe đã tự lăn khi không được cố định bằng phanh tay.
Người đàn ông được xác định đã tử vong tại hiện trường. Ông bị chấn thương đầu nghiêm trọng và được đưa đến bệnh viện địa phương để khám nghiệm tử thi.
Hải sản là món khoái khẩu của nhiều người, особенно trong mùa hè, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ nếu không được bảo đảm an toàn. Thực tế đã ghi nhận trường hợp tử vong liên quan đến hải sản nhiễm khuẩn, gióng lên cảnh báo về thói quen ăn uống tiềm ẩn rủi ro.
Một người đàn ông 55 tuổi tại bang Missouri (Mỹ) đã tử vong sau khi ăn hàu sống nhiễm vi khuẩn Vibrio vulnificus-loại hải sản được nhiều người ưa chuộng.
Vụ việc được Sở Y tế Công cộng St. Louis xác nhận năm 2023. Nạn nhân mua hàu tại một cửa hàng địa phương trước khi xuất hiện triệu chứng. Cơ quan chức năng đã tiến hành truy vết nguồn gốc lô hàng và khuyến cáo người dân không sử dụng sản phẩm liên quan.
Theo các chuyên gia vibrio vulnificus là loại vi khuẩn sống trong môi trường biển, thường tồn tại ở các loại hải sản như hàu, cá, tôm, ốc. Nếu ăn sống hoặc ăn chưa nấu chín, hoặc để vết thương hở tiếp xúc với nước biển chứa vi khuẩn này, con người có nguy cơ nhiễm bệnh nghiêm trọng.
Dù hiếm gặp, loại vi khuẩn này được đánh giá đặc biệt nguy hiểm. Nó có thể gây nhiễm trùng nặng, phá hủy mô cơ thể, thậm chí dẫn đến hoại tử, nhiều trường hợp phải cắt cụt chi. Theo thống kê, cứ 5 người nhiễm có khoảng 1 trường hợp tử vong, đôi khi chỉ sau 1–2 ngày phát bệnh.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết bệnh do Vibrio gây ra gọi là vibriosis-ghi nhận khoảng 52.000 ca mỗi năm, trong đó phần lớn do chủng Vibrio parahaemolyticus gây ra.
Được biết các triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 24 giờ, bao gồm sốt, ớn lạnh, buồn nôn, nôn, tiêu chảy và tổn thương da. Trong trường hợp nặng, bệnh có thể gây phồng rộp, viêm mô hoại tử, khiến nhiều người gọi đây là "vi khuẩn ăn thịt".
CDC cũng cảnh báo nguy cơ nhiễm bệnh không chỉ đến từ ăn hải sản sống mà còn từ việc bơi ở biển khi có vết thương hở.
Để phòng ngừa, ngộ độc chuyên gia khuyến cáo người dân tuyệt đối tránh ăn hải sản sống hoặc chưa nấu chín, đặc biệt là hàu. Nhiệt độ cao khi chế biến có thể tiêu diệt vi khuẩn nguy hiểm này.
Ngoài ra, trong mùa du lịch biển, người dân cần thận trọng khi tiếp xúc với nước biển, băng kín vết thương hở và vệ sinh sạch sẽ bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với hải sản sống.
Trong trường hợp nghi nhiễm, việc điều trị cần được tiến hành sớm bằng kháng sinh và bù dịch kịp thời, đặc biệt với người có bệnh nền như gan hoặc suy giảm miễn dịch, do nguy cơ biến chứng nặng cao hơn.
- Lựa chọn hải sản an toàn: Nên ưu tiên các loại hải sản phổ biến, có nguồn gốc rõ ràng và đã được kiểm chứng an toàn. Với hải sản lạ hoặc ít sử dụng, cần cân nhắc kỹ vì có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ngộ độc hoặc chưa được đánh giá đầy đủ về độ an toàn.
- Tránh xa các loài hải sản có độc tố: Một số loài như cá nóc, bạch tuộc vòng xanh, sam biển, sao biển… luôn hoặc có thể chứa độc tố nguy hiểm. Đáng lưu ý, các độc tố này không bị phá hủy dù đã nấu chín hay chế biến thông thường.
- Nên ưu tiên hải sản tươi, không dùng đồ để lâu: Chỉ nên sử dụng hải sản tươi sống và được chế biến ngay. Tránh ăn hải sản đã để lâu hoặc bảo quản không đúng cách vì dễ phát sinh độc tố gây hại.
- Nên cẩn trọng với môi trường biển ô nhiễm: Không nên ăn hải sản đánh bắt tại khu vực có dấu hiệu ô nhiễm hoặc hiện tượng "thủy triều đỏ" – khi nước biển đổi màu bất thường do tảo độc phát triển. Đặc biệt, các loài hai mảnh vỏ như sò, ngao, trai… rất dễ tích tụ độc tố trong môi trường này.
- Luôn ăn hải sản đã nấu chín kỹ: Nhiệt độ cao khi nấu giúp tiêu diệt phần lớn vi khuẩn và ký sinh trùng. Tuyệt đối không ăn sống hoặc tái khi chưa đảm bảo an toàn.
Ngộ độc hải sản có thể biểu hiện từ nhẹ như đau bụng, nôn, tiêu chảy đến nặng như tê liệt, rối loạn thần kinh, hô hấp hoặc tim mạch. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường, cần đến ngay cơ sở y tế để được xử trí kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.