Suốt gần hai năm, bà Hoa, ở Hoàng Mai, kê chiếc gối nghiêng sang một bên hông, không dám ngồi một cách thoải mái, vì cơn đau sẽ ập đến buốt nhói.
Bà thuộc lòng lịch trình của các con. Đứa lớn vừa trả xong khoản vay mua nhà, đứa nhỏ gồng gánh học phí cho cháu. Mỗi lần định mở lời về bệnh tình, người phụ nữ lại nhẩm tính con số viện phí rồi im lặng.
Với bà, một ca phẫu thuật đồng nghĩa các con phải xin nghỉ làm, rút tiền tiết kiệm, thức đêm canh giường bệnh. Người mẹ thà chịu đau còn hơn nhìn thấy vẻ mệt mỏi trên gương mặt chúng.
Ngày bước vào Khoa Ngoại, Bệnh viện Bưu điện hồi tháng 7, bà không thể ngồi mà phải đứng khom người chờ đến lượt. Bác sĩ Hoàng Việt Hưng sững lại khi thăm khám. Búi trĩ sa hẳn ra ngoài, to như bông cải, ở độ 4, giai đoạn nặng nhất với nguy cơ hoại tử. “Sao bác để đến mức này mới đến?”, bác sĩ hỏi. Bà cúi mặt, giọng nhỏ đi: “Tôi sợ phiền các cháu”.
Người phụ nữ không lường trước sự chịu đựng ấy biến một ca tiểu phẫu đơn giản thành cuộc mổ phức tạp, kéo dài ngày nằm viện và khiến các con lo lắng gấp bội so với những gì bà cố tránh né.
Cùng hoàn cảnh, ông Hòa, 67 tuổi, không còn nhớ nổi lần cuối cùng mình có thể bước đi mà không phải bám vào tường là khi nào. Mỗi lần con trai hay con dâu gõ cửa hỏi thăm, ông lại vội vàng với lấy tờ báo, cố nở nụ cười gượng gạo: “Bố vẫn khỏe, chỉ là mỏi người do thời tiết thôi”.
Sự im lặng của ông không xuất phát từ việc thiếu hiểu biết y khoa, mà từ nỗi sợ vô hình là trở thành gánh nặng tài chính cho các con. Vài năm nay, con ông làm ăn khó khăn, mỗi tháng phải gồng gánh lãi ngân hàng, cả nhà thắt chặt chi tiêu, không khí gia đình bức bối.
Trong khi đó, một ca mổ thay khớp háng nhân tạo tiêu tốn hàng trăm triệu đồng là điều ông không bao giờ dám nghĩ tới. Người đàn ông chọn cách làm bạn với những viên thuốc giảm đau không nhãn mác mua ở tiệm thuốc đầu ngõ, âm thầm chịu đựng sự tàn phá của bệnh tật.
Việt Nam thuộc nhóm quốc gia già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Người cao tuổi thường mang trong mình nhiều bệnh mạn tính cùng lúc như tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm khớp, suy tim, bệnh thận mạn tính, trầm cảm hay Alzheimer. Thay vì tìm kiếm điều trị sớm, không ít người chọn giấu bệnh cho đến khi thân thể không còn chịu đựng nổi.
Tiến sĩ Cao Trần Thành Trung, Giám đốc Điều hành Trung tâm Tham vấn Trị liệu Tâm lý Lumos, gọi đây là tâm lý “sợ lụy” con cái. Người bệnh lo con phải thắt lưng buộc bụng, vay mượn khắp nơi hoặc cắt xén quỹ nuôi dạy cháu để chạy chữa cho mình. Họ sợ trở thành nỗi phiền toái bất đắc dĩ, làm đảo lộn cuộc sống của cả gia đình.
Gốc rễ của hành vi này nằm ở lòng tự trọng. Người từng đóng vai trò che chở, chăm sóc con giờ khó chấp nhận việc đảo ngược vị thế thành người cần được hỗ trợ. Khi sức khỏe và thu nhập suy giảm, họ dựng lên vỏ bọc “vẫn ổn” để con yên tâm làm ăn. Nhiều người còn tự nhủ đau nhức, mệt mỏi thuộc về “chuyện bình thường của tuổi già”, nên trì hoãn thăm khám.
“Chính sự hy sinh thầm lặng nhưng sai cách này đẩy họ vào vòng lặp nguy hiểm, giấu bệnh khiến bệnh chuyển nặng, rồi tạo ra gánh nặng lớn hơn nhiều lần cho con cái khi phải điều trị biến chứng muộn”, ông Trung nói.
Bên cạnh tâm lý, rào cản từ chính hệ thống y tế cũng đẩy người già xa dần bệnh viện. PGS Đỗ Văn Dũng, nguyên Trưởng khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP HCM, chỉ ra những trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ nuôi dưỡng nỗi e dè: thủ tục hành chính rườm rà, thời gian chờ đợi kéo dài, chi phí điều trị chồng chất. Từ đó, họ dễ sa vào bẫy thực phẩm chức năng hay thuốc gia truyền không rõ nguồn gốc. Văn hóa y tế hiện hành cũng nặng tư duy chờ triệu chứng mới đi khám, thay vì tầm soát chủ động. Thói quen hút thuốc, rượu bia và lối sống thiếu lành mạnh càng đẩy nhanh diễn tiến bệnh, tạo nên gánh nặng kép cho người cao tuổi.
Theo các bác sĩ, cái giá của sự im lặng đắt hơn nhiều so với những gì người bệnh hình dung. Phát hiện muộn khiến việc điều trị phức tạp, kéo dài và ngốn nhiều chi phí. Trong điều trị ung thư, phát hiện trễ trở thành điểm nghẽn lớn nhất, buộc bác sĩ can thiệp đa mô thức mà cơ hội sống vẫn thấp. Người bệnh sống trong lo âu kéo dài, vừa chịu đựng triệu chứng vừa thấp thỏm không biết bệnh nghiêm trọng đến đâu. Cảm giác bất lực và mất quyền kiểm soát lớn dần. Họ thu mình, ngại chia sẻ, rồi trượt vào cô đơn, buồn chán và trầm cảm.
“Càng giấu bệnh thì sức khỏe càng giảm, sức khỏe càng giảm thì họ càng phụ thuộc con cái; càng phụ thuộc, họ lại càng thấy có lỗi và tiếp tục che giấu nhu cầu của mình”, ông Trung phân tích.
Lối ra không dừng ở việc thúc giục người già đi khám, mà nằm ở cách gia đình gỡ bỏ mặc cảm cho họ. Con cái cần giúp cha mẹ hiểu rằng được chăm sóc không đồng nghĩa với trở thành gánh nặng. Phát hiện sớm vừa nâng tỷ lệ chữa khỏi, vừa bảo vệ túi tiền gia đình về lâu dài.
“Sự lắng nghe, tôn trọng và đồng hành của con cái mang ý nghĩa lớn trong việc giảm mặc cảm và củng cố cảm giác an toàn tâm lý cho người cao tuổi”, ông Trung nói.
Với bà Hoa, câu nói “tôi sợ phiền các cháu” cuối cùng lại dẫn đến điều bà lo sợ nhất. Ca mổ phức tạp, những đêm dài các con thay nhau túc trực, khoản viện phí đội lên gấp nhiều lần.
“Giá như bà lên tiếng sớm hơn hai năm, bà đã có thể ngồi thẳng lưng trong bữa cơm gia đình, thay vì đứng khom người chịu đựng cơn đau lẽ ra được chữa lành từ lâu”, bác sĩ Hưng chia sẻ.
Ngày 17/5, đại diện Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM cho biết, các bác sĩ nơi này vừa tiếp tục thực hiện ca ghép tim thứ 11.
Người được nhận tim hiến là một bệnh nhi 15 tuổi. Trước phẫu thuật, bệnh nhi trong tình trạng vô cùng nguy kịch do suy tim giai đoạn cuối. Kết quả siêu âm tim ghi nhận chức năng co bóp giảm sâu, phân suất tống máu chỉ còn khoảng 5%, đối mặt nguy cơ diễn tiến nặng và tử vong.
Chiều 15/5, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM nhận được thông tin có nguồn tim hiến phù hợp. Đáng chú ý, ở thời điểm trên, đơn vị đang theo dõi hai người bệnh suy tim giai đoạn cuối, đều có chỉ định chờ ghép tim.
Sau hội chẩn, căn cứ vào tình trạng lâm sàng, mức độ khẩn cấp và sự phù hợp giữa tạng hiến và người nhận, hội đồng chuyên môn thống nhất chỉ định ghép tim cho bệnh nhi nêu trên.
Dưới sự chỉ đạo của Giám đốc Bệnh viện là PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Bắc, quy trình cấp cứu ghép tạng nhanh chóng được kích hoạt. Ê-kíp ghép tim do GS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định, Phó Giám đốc Bệnh viện cùng các chuyên khoa, phòng chức năng và bộ phận hỗ trợ đã phối hợp triển khai các khâu cần thiết.
Khoảng 22h30 cùng ngày, quả tim hiến được đưa vào phòng mổ. Đến 23h45, những nhịp đập đầu tiên của quả tim mới đã xuất hiện trong lồng ngực người bệnh. Sau phẫu thuật, tim ghép hoạt động ổn định, bệnh nhi tiếp tục được theo dõi và chăm sóc tích cực theo quy trình sau ghép.
GS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định, phẫu thuật viên chính trong ca ghép tim cho biết, áp lực lớn nhất của cuộc mổ lần này là thời gian chuẩn bị gấp rút. Ê-kíp chỉ có khoảng 3 giờ để hoàn tất thủ tục, huy động nhân lực và chuẩn bị cho ca ghép sau khi xác định có nguồn tạng phù hợp.
Kinh nghiệm từ 10 ca ghép tim trước đó và sự phối hợp ngày càng đồng bộ giữa các ê-kíp là nền tảng quan trọng giúp ca ghép thứ 11 được triển khai kịp thời, an toàn.
"Hiện nay, vẫn còn nhiều người bệnh suy tim giai đoạn cuối đang chờ đợi nguồn tạng phù hợp để có thêm cơ hội điều trị. Vì vậy, mỗi nghĩa cử hiến mô, bộ phận cơ thể người đều mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Chúng tôi trân trọng tri ân người hiến và gia đình người hiến. Hy vọng nghĩa cử cao đẹp ấy tiếp tục lan tỏa trong cộng đồng, góp phần mở thêm cơ hội sống cho nhiều người bệnh đang chờ ghép", lãnh đạo Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM bày tỏ.
Trước đó, vào tối 10/5, một trái tim được hiến tặng từ người cho chết não tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Ninh đã đập trở lại trong lồng ngực người bệnh 23 tuổi bị suy tim giai đoạn cuối ở TPHCM, sau khi vượt khoảng cách hơn 1.700km. Đây cũng là ca ghép tim thứ 10 thực hiện thành công tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM.
Gia đình cô T.H (67 tuổi, ở TP.HCM) thường pha 1 bình trà lớn rồi uống trong ngày, gần như thay thế nước lọc.
“Nhà tôi duy trì thói quen này nhiều năm rồi. Ngày nào không uống là thấy thiếu, hôm sau lại phải pha ngay. Có thời gian tôi uống trà lài, nhiều nhất vẫn là trà atisô, hoa đậu biếc và nước đậu đen vì nghe nói giúp mát gan”, cô H. chia sẻ.
Ngược lại, chị V.Q.G (33 tuổi, ở TP.HCM) cho biết: “Ông bà tôi thường uống trà thay nước lọc, nhưng riêng tôi, mỗi ngày chỉ uống 1 - 2 ly trà là đủ vì nếu uống nhiều sẽ dễ mất ngủ, vàng răng, chát miệng. Tôi cũng lo việc uống quá nhiều trà có thể ảnh hưởng đến sức khỏe”.
Theo bác sĩ Chu Thị Dung, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3, việc dùng một loại trà hoặc nước lá có hoạt tính sinh học làm nguồn nước duy nhất trong thời gian dài thường không được khuyến khích.
Bác sĩ Dung cho hay, cần phân biệt trà được làm từ cây trà với các loại nước pha hoặc sắc từ hoa, lá, thân, rễ của dược liệu. Trà xanh và phần lớn trà lài có chứa caffeine cùng nhiều hợp chất polyphenol. Trong khi đó, trà atisô và nước lá cây dân gian có thành phần rất khác nhau tùy loại dược liệu, bộ phận được sử dụng, cách chế biến, nồng độ và lượng uống. Vì vậy, không thể xem tất cả nước trà, nước lá là một nhóm có tác dụng và mức độ an toàn giống nhau.
Caffeine trong trà có thể giúp tỉnh táo, nhưng nếu uống quá nhiều hoặc cơ thể nhạy cảm, người dùng có thể bị hồi hộp, bồn chồn, đánh trống ngực, khó ngủ hoặc tăng cảm giác lo âu.
Trà đặc uống lúc đói còn có thể gây cồn cào, buồn nôn, đau thượng vị hoặc làm các triệu chứng trào ngược trở nên khó chịu hơn. Một số hợp chất trong trà cũng có thể làm giảm hấp thu sắt từ thức ăn nếu thường xuyên uống ngay trong hoặc sát bữa ăn.
“Theo y học cổ truyền, mỗi loại trà hoặc dược liệu đều có tính vị, công năng và phạm vi sử dụng riêng. Thanh nhiệt không đồng nghĩa với giải độc gan theo y học hiện đại, còn lợi thủy không có nghĩa là uống càng nhiều thì thận càng khỏe. Những công năng này chỉ phát huy hiệu quả khi được sử dụng đúng thể bệnh, đúng liều lượng và đúng thời gian”, bác sĩ Dung nhấn mạnh.
Theo bác sĩ Chu Thị Dung, với người khỏe mạnh, trà xanh, trà lài hoặc một số loại trà thảo dược có nguồn gốc rõ ràng vẫn có thể được sử dụng hằng ngày ở lượng vừa phải nếu cơ thể dung nạp tốt.
Khi sử dụng đúng loại và đúng lượng, trà có thể mang lại hương vị dễ chịu, giúp tỉnh táo hoặc thư giãn tùy loại, đồng thời cung cấp một số hợp chất có hoạt tính sinh học. Một số dược liệu dưới dạng trà cũng được sử dụng theo y học cổ truyền cho những thể bệnh phù hợp.
Tuy nhiên, trà và nước lá cây không nên được xem là phương pháp tự điều trị mọi triệu chứng hoặc là cách chắc chắn để phòng bệnh, làm sạch cơ thể hay thay thế thuốc đang dùng.
Điều cần thận trọng là những loại nước lá được phối hợp từ nhiều thành phần nhưng không rõ tên dược liệu, liều lượng và nguồn gốc. Việc tự gom nhiều loại lá để nấu chung rồi uống liên tục trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng có thể gây tác động ngoài dự kiến. Một số thành phần có thể ảnh hưởng đến huyết áp, đường huyết, đông máu, chức năng gan, thận hoặc tương tác với thuốc đang sử dụng.
“Nên pha trà với nồng độ vừa phải, uống xen kẽ với nước lọc và theo dõi phản ứng của cơ thể. Nước lọc vẫn nên là nguồn nước chính hằng ngày. Dù có nguồn gốc tự nhiên, các loại đồ uống như trà hoặc lá cây vẫn có thể chứa hoạt chất, chống chỉ định hoặc tương tác với thuốc. Vì vậy, cần sử dụng đúng loại, đúng lượng và phù hợp với thể trạng”, bác sĩ Dung khuyên.
Một người dù nạp khá nhiều protein nhưng vẫn có thể bị mất cơ là do những nguyên nhân sau:
Cơ bắp hoạt động theo nguyên tắc rất đơn giản. Đó là cơ có vận động thì được duy trì, ít vận động thì suy giảm dần. Khi phải ngồi nhiều giờ liên tục mỗi ngày, các nhóm cơ ở chân, hông và thân mình hoạt động ít hơn bình thường. Theo thời gian, cơ thể có xu hướng giảm bớt khối lượng cơ bắp để tiết kiệm năng lượng, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Đây là lý do nhiều người dù ăn uống đầy đủ nhưng vẫn cảm thấy sức mạnh giảm dần, leo cầu thang nhanh mệt hoặc mang vác đồ vật khó khăn hơn trước. Những người thuộc nhóm ít vận động là người làm công việc phải ngồi nhiều, lười tập luyện và người già.
Protein rất quan trọng nhưng điều đó không có nghĩa là càng nhiều càng tốt. Sau khi được tiêu hóa, protein sẽ được phân tách thành các a xít amin để tham gia nhiều chức năng khác nhau, chẳng hạn duy trì cơ bắp, tạo enzyme, hoóc môn và duy trì hệ miễn dịch.
Tuy nhiên, khả năng tổng hợp cơ bắp từ protein có giới hạn nhất định. Khi lượng protein nạp trong một bữa ăn vượt quá nhu cầu cơ thể, phần dư thừa sẽ không tự động chuyển hóa thành cơ bắp. Thay vào đó, chúng sẽ được cơ thể dùng để tạo năng lượng và tích trữ lại dưới dạng mỡ thừa.
Vì vậy, thay vì cố gắng nạp thật nhiều protein, mọi người nên nạp với lượng phù hợp và duy trì đều đặn mỗi ngày, tiến sĩ Christopher Gardner, chuyên gia dinh dưỡng tại Trung tâm Nghiên cứu Phòng ngừa của Đại học Stanford (Mỹ), cho biết.
Nhiều người giảm cân thường tăng lượng protein với hy vọng bảo vệ cơ bắp không bị nhỏ lại. Đây là một chiến lược có lợi. Thế nhưng, nếu calo thâm hụt quá nhiều thì cách này sẽ không đủ.
Khi rơi vào tình trạng thâm hụt calo kéo dài, cơ thể buộc phải sử dụng các nguồn dự trữ để duy trì hoạt động. Trong quá trình đó, một phần khối cơ có thể bị phân giải để cung cấp năng lượng hoặc nguyên liệu cho các hoạt động cần thiết của cơ thể.
Protein có thể giúp làm chậm tốc độ mất cơ trong giai đoạn giảm cân. Thế nhưng, với chế độ ăn quá khắt khe hoặc kéo dài, nạp nhiều protein cũng không thể ngăn chặn hoàn toàn hiện tượng này.
Muốn tăng cơ, chúng ta không chỉ tập luyện chăm chỉ, nạp đủ dinh dưỡng mà còn phải ngủ nghỉ hợp lý. Ngủ không đủ giấc sẽ ảnh hưởng đến các hoóc môn điều chỉnh quá trình phục hồi cơ bắp. Điều này làm giảm hiệu quả phục hồi và tái tạo các sợi cơ sau hoạt động hằng ngày. Dù nạp đủ protein nếu cơ thể không ngủ đủ giấc thì cũng khó tăng cơ, theo Healthline.