Gia đình cô T.H (67 tuổi, ở TP.HCM) thường pha 1 bình trà lớn rồi uống trong ngày, gần như thay thế nước lọc.
“Nhà tôi duy trì thói quen này nhiều năm rồi. Ngày nào không uống là thấy thiếu, hôm sau lại phải pha ngay. Có thời gian tôi uống trà lài, nhiều nhất vẫn là trà atisô, hoa đậu biếc và nước đậu đen vì nghe nói giúp mát gan”, cô H. chia sẻ.
Ngược lại, chị V.Q.G (33 tuổi, ở TP.HCM) cho biết: “Ông bà tôi thường uống trà thay nước lọc, nhưng riêng tôi, mỗi ngày chỉ uống 1 – 2 ly trà là đủ vì nếu uống nhiều sẽ dễ mất ngủ, vàng răng, chát miệng. Tôi cũng lo việc uống quá nhiều trà có thể ảnh hưởng đến sức khỏe”.
Theo bác sĩ Chu Thị Dung, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM – cơ sở 3, việc dùng một loại trà hoặc nước lá có hoạt tính sinh học làm nguồn nước duy nhất trong thời gian dài thường không được khuyến khích.
Bác sĩ Dung cho hay, cần phân biệt trà được làm từ cây trà với các loại nước pha hoặc sắc từ hoa, lá, thân, rễ của dược liệu. Trà xanh và phần lớn trà lài có chứa caffeine cùng nhiều hợp chất polyphenol. Trong khi đó, trà atisô và nước lá cây dân gian có thành phần rất khác nhau tùy loại dược liệu, bộ phận được sử dụng, cách chế biến, nồng độ và lượng uống. Vì vậy, không thể xem tất cả nước trà, nước lá là một nhóm có tác dụng và mức độ an toàn giống nhau.
Caffeine trong trà có thể giúp tỉnh táo, nhưng nếu uống quá nhiều hoặc cơ thể nhạy cảm, người dùng có thể bị hồi hộp, bồn chồn, đánh trống ngực, khó ngủ hoặc tăng cảm giác lo âu.
Trà đặc uống lúc đói còn có thể gây cồn cào, buồn nôn, đau thượng vị hoặc làm các triệu chứng trào ngược trở nên khó chịu hơn. Một số hợp chất trong trà cũng có thể làm giảm hấp thu sắt từ thức ăn nếu thường xuyên uống ngay trong hoặc sát bữa ăn.
“Theo y học cổ truyền, mỗi loại trà hoặc dược liệu đều có tính vị, công năng và phạm vi sử dụng riêng. Thanh nhiệt không đồng nghĩa với giải độc gan theo y học hiện đại, còn lợi thủy không có nghĩa là uống càng nhiều thì thận càng khỏe. Những công năng này chỉ phát huy hiệu quả khi được sử dụng đúng thể bệnh, đúng liều lượng và đúng thời gian”, bác sĩ Dung nhấn mạnh.
Theo bác sĩ Chu Thị Dung, với người khỏe mạnh, trà xanh, trà lài hoặc một số loại trà thảo dược có nguồn gốc rõ ràng vẫn có thể được sử dụng hằng ngày ở lượng vừa phải nếu cơ thể dung nạp tốt.
Khi sử dụng đúng loại và đúng lượng, trà có thể mang lại hương vị dễ chịu, giúp tỉnh táo hoặc thư giãn tùy loại, đồng thời cung cấp một số hợp chất có hoạt tính sinh học. Một số dược liệu dưới dạng trà cũng được sử dụng theo y học cổ truyền cho những thể bệnh phù hợp.
Tuy nhiên, trà và nước lá cây không nên được xem là phương pháp tự điều trị mọi triệu chứng hoặc là cách chắc chắn để phòng bệnh, làm sạch cơ thể hay thay thế thuốc đang dùng.
Điều cần thận trọng là những loại nước lá được phối hợp từ nhiều thành phần nhưng không rõ tên dược liệu, liều lượng và nguồn gốc. Việc tự gom nhiều loại lá để nấu chung rồi uống liên tục trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng có thể gây tác động ngoài dự kiến. Một số thành phần có thể ảnh hưởng đến huyết áp, đường huyết, đông máu, chức năng gan, thận hoặc tương tác với thuốc đang sử dụng.
“Nên pha trà với nồng độ vừa phải, uống xen kẽ với nước lọc và theo dõi phản ứng của cơ thể. Nước lọc vẫn nên là nguồn nước chính hằng ngày. Dù có nguồn gốc tự nhiên, các loại đồ uống như trà hoặc lá cây vẫn có thể chứa hoạt chất, chống chỉ định hoặc tương tác với thuốc. Vì vậy, cần sử dụng đúng loại, đúng lượng và phù hợp với thể trạng”, bác sĩ Dung khuyên.
Từ 1-7, Chủ tịch UBND cấp tỉnh được phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
Cụ thể, Nghị quyết 21 của Chính phủ đã quy định nội dung đáng chú ý là phân cấp thẩm quyền cấp, quản lý giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh về Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh được thực hiện toàn bộ các thủ tục liên quan đến giấy phép hành nghề khám chữa bệnh, bao gồm cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ và thu hồi giấy phép hành nghề, áp dụng cho cả các chứng chỉ hành nghề đã được cấp theo quy định trước đây.
Như vậy, từ 1-7, Bộ Y tế không còn cấp giấy phép hành nghề và chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho người hành nghề.
Theo đó, Bộ Y tế còn thẩm quyền cấp mới giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, cấp điều chỉnh danh mục kỹ thuật loại đặc biệt đối với các bệnh viện tư nhân.
Cấp mới, cấp lại, cấp điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế. Xem xét khả năng điều chỉnh bổ sung danh mục kỹ thuật loại đặc biệt, xem xét khả năng thực hiện kỹ thuật mới, phương pháp mới đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc.
Bên cạnh việc phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, nghị quyết đơn giản hóa và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh.
Ví dụ, đối với thủ tục cấp mới giấy phép hoạt động khám chữa bệnh, cơ quan có thẩm quyền phải tổ chức thẩm định trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ và nếu đủ điều kiện thì phải cấp giấy phép trong 10 ngày làm việc kể từ ngày có biên bản thẩm định.
Trường hợp có yêu cầu sửa đổi, bổ sung phải nêu rõ trong nội dung của biên bản thẩm định.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo và tài liệu chứng minh đã hoàn thành việc khắc phục, sửa chữa của cơ sở đề nghị.
Cơ quan cấp giấy phép hoạt động có thể tiến hành kiểm tra thực tế việc khắc phục, sửa chữa của cơ sở đề nghị trong trường hợp cần thiết hoặc thực hiện việc cấp giấy phép hoạt động. Trường hợp không cấp giấy phép hoạt động phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Ngoài ra, đối với thủ tục điều chỉnh giấy phép hoạt động, nghị quyết cũng quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ, thời gian yêu cầu bổ sung, cũng như thời hạn giải quyết sau khi hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm quy trình minh bạch và có mốc thời gian cụ thể.
Đồng thời công khai thông tin sau khi cấp giấy phép hoạt động. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày cấp phép, cơ quan có thẩm quyền phải đăng tải các thông tin như tên cơ sở, địa chỉ, người chịu trách nhiệm chuyên môn, phạm vi hoạt động chuyên môn trên cổng thông tin điện tử và hệ thống quản lý.
Nội dung phân cấp thẩm quyền nêu trên sẽ có hiệu lực từ ngày 1-7. Toàn bộ nghị quyết có hiệu lực từ ngày 29-4-2026 đến hết ngày 1-1-2028.
Ngày 6/7, Sở Y tế TPHCM cho biết, tính đến nay, toàn thành phố đã có hơn 251.400 người dân được khám sức khỏe định kỳ theo Chương trình khám sức khỏe toàn dân.
Trong đó, khoảng thời gian cuối tháng 6 và đầu tháng 7 ghi nhận tốc độ triển khai tăng nhanh rõ rệt, nhiều ngày có trên 10.000 lượt người dân được khám sức khỏe. Đặc biệt, trong ngày 2/7 có gần 14.000 lượt khám, là số lượng khám trong ngày cao nhất kể từ khi chương trình được triển khai theo kế hoạch của UBND TPHCM.
Đây là tín hiệu rất tích cực, cho thấy chương trình đang bước vào giai đoạn tăng tốc. Tuy nhiên, với quy mô dân số toàn thành phố, tỷ lệ người dân đã được khám sức khỏe mới đạt khoảng 1,8%.
Theo Sở Y tế TPHCM, trong khi đã có một số địa phương đạt tỷ lệ bao phủ trên 20% dân số, vẫn còn nhiều nơi tỷ lệ người được khám chưa đến 1%, thậm chí dưới 0,1%. Điều này cho thấy sự chênh lệch khá lớn về tiến độ triển khai giữa các địa phương, đòi hỏi sự quyết tâm mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Sở Y tế phân tích, theo số liệu tổng hợp được, địa phương đứng đầu việc khám sức khỏe đến nay là đặc khu Côn Đảo, với 35,4% dân số đã được khám sức khỏe (2.357/6.658 người).
Tiếp theo là các xã An Nhơn Tây (26,39%), xã đảo Thạnh An (18,11%), xã Bắc Tân Uyên (14,87%), xã Vĩnh Lộc (11,7%). Nhiều địa phương cũng đã đạt tỷ lệ khám sức khỏe 6-9% dân số.
Nếu tính từ ngày 25/5 - thời điểm chương trình chính thức được triển khai theo Kế hoạch của UBND TPHCM - hai địa phương có số lượng người dân được khám cao nhất toàn thành phố là xã An Nhơn Tây (hơn 11.000 người) và xã Bà Điểm (gần 10.000 người).
Điểm chung của các địa phương dẫn đầu là sự chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ giữa trạm y tế, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, các đoàn thể chính trị - xã hội và lực lượng tình nguyện viên.
Các địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch phù hợp với thực tiễn, tổ chức nhiều hình thức khám sức khỏe linh hoạt, đẩy mạnh truyền thông, vận động người dân tham gia, đồng thời cập nhật đầy đủ dữ liệu vào Hồ sơ sức khỏe điện tử.
Sẽ hoàn thành 100% nếu quyết tâm cao
Bên cạnh những kết quả tích cực, đến nay vẫn còn 41/168 xã, phường, đặc khu có tỷ lệ người dân được khám sức khỏe dưới 1%.
Trong đó, xã Minh Thạnh mới chỉ có 10 người được khám (0,05%), xã An Long có 7 người (0,09%). Các xã Bình Châu, phường Bàn Cờ, xã Bình Giã, xã Xuyên Mộc, xã Bàu Bàng, phường Bình Cơ và phường Sài Gòn đều có tỷ lệ khám dưới 0,3%.
Đây là những địa phương cần khẩn trương rà soát nguyên nhân, xây dựng kế hoạch tăng tốc phù hợp với điều kiện thực tế và có sự chỉ đạo quyết liệt hơn của cấp ủy, chính quyền địa phương.
Cùng với việc đẩy mạnh truyền thông, vận động người dân tham gia khám sức khỏe, địa phương cần tăng cường phối hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để mở rộng năng lực, tổ chức các hình thức khám linh hoạt, đưa dịch vụ đến gần người dân hơn và tạo điều kiện thuận lợi nhất để mọi người dân được tiếp cận dịch vụ.
"Thời gian còn lại của năm 2026 không còn nhiều. Khi mỗi địa phương đều tăng tốc với quyết tâm cao, TPHCM hoàn toàn có cơ sở để hoàn thành mục tiêu 100% người dân được khám sức khỏe trong năm 2026, đồng thời xây dựng Hồ sơ sức khỏe điện tử cho mỗi người dân và quản lý sức khỏe liên tục theo vòng đời.
Từ đó tạo nền tảng quan trọng để phát triển hệ thống y tế hiện đại, lấy dự phòng làm trọng tâm, lấy dữ liệu làm công cụ quản trị và lấy người dân làm trung tâm", Sở Y tế TPHCM nhấn mạnh.
Khi nhiệt độ vượt 35 độ C, thực phẩm rất dễ trở thành môi trường cho vi khuẩn phát triển nhanh. Vì vậy, chú ý an toàn ăn uống và phòng ngộ độc thực phẩm là điều không thể xem nhẹ trong mùa nóng.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Bùi Thị Duyên, phụ trách khoa Dinh Dưỡng, Bệnh viện Quân y 175, việc để thức ăn chín ở nhiệt độ phòng nhiều giờ là nguy cơ ngộ độc thực phẩm phổ biến. Nhiều nơi chế biến thực phẩm sẵn nhưng không bảo quản đúng cách, khiến vi khuẩn phát triển nhanh. Bên cạnh đó, nhiễm khuẩn chéo do dùng chung dao, thớt cho đồ sống - chín, hoặc để lẫn thực phẩm sống với đồ ăn liền trong tủ lạnh cũng làm tăng rủi ro mất an toàn thực phẩm.
“Nếu khâu kiểm soát nguyên liệu đầu vào không chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng thực phẩm đã ôi thiu, biến chất vì mục tiêu lợi nhuận hoặc chủ quan cũng sẽ vô tình tạo ra các ‘ổ’ vi khuẩn phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn gây ngộ độc”, bác sĩ Duyên cảnh báo.
Thạc sĩ - bác sĩ Võ Thị Tố Hi, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Gia An 115, cho biết khoảng nhiệt độ 30 - 40°C thường được gọi là “vùng nguy hiểm” trong an toàn thực phẩm. Nhiều loại vi khuẩn có thể nhân đôi chỉ sau 20 - 30 phút, tức chỉ sau vài giờ, số lượng vi khuẩn có thể tăng lên hàng trăm đến hàng nghìn lần.
Do đó, mọi người cần lưu ý một nguyên tắc quan trọng: Thực phẩm chín không nên để ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ; nếu nhiệt độ môi trường trên 32 - 35°C, thời gian này nên rút ngắn còn khoảng 1 giờ. Sau mốc này, nguy cơ vi khuẩn phát triển và sinh độc tố tăng lên rõ rệt. Đáng lưu ý, một số độc tố vi khuẩn không bị phá hủy hoàn toàn khi hâm nóng lại, nên việc “nấu lại cho kỹ” không đồng nghĩa với an toàn.
Các thực phẩm như hải sản, món nhiều nước, sữa hoặc thức ăn chế biến sẵn là nhóm dễ hư hỏng nhanh nhất trong thời tiết nắng nóng. Từ đó, bác sĩ Tố Hi lưu ý khi thực phẩm có dấu hiệu mùi lạ, nhớt, đổi màu hoặc vị bất thường, người dân không nên cố sử dụng lại.
Để chủ động phòng tránh ngộ độc thực phẩm trong mùa nắng nóng, bác sĩ Duyên khuyên người dân cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc vệ sinh an toàn thực phẩm sau:
Thực hiện “ăn chín, uống sôi”: Tuyệt đối không sử dụng thức ăn ôi thiu, hỏng mốc hoặc quá hạn sử dụng. Hạn chế tối đa các món gỏi sống, đồ tái trong mùa hè. Thực phẩm thừa cần được đun lại ở nhiệt độ trên 70 độ C trước khi ăn.
Vệ sinh tay: Rửa tay bằng xà phòng ít nhất 20 giây trước và sau khi chế biến thực phẩm, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Giữ khu vực chế biến và vật dụng nấu nướng luôn sạch sẽ, khô ráo.
Bảo quản thực phẩm đúng cách: Thức ăn chín cần được đậy kín để tránh bụi và côn trùng. Nếu dùng tủ lạnh, phải sắp xếp ngăn nắp, tránh việc tích trữ quá tải dung tích tủ. Nhiệt độ ngăn mát nên giữ ở mức 5 độ C hoặc thấp hơn.
Lựa chọn thực phẩm an toàn: Ưu tiên thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng, không có mùi lạ hay màu sắc bất thường.
Bù nước và điện giải đúng cách: Uống đủ 1,5 - 2,5 lít nước/ngày tùy độ tuổi và mức độ hoạt động. Nên uống chậm, chia thành nhiều lần ngay cả khi không khát. Có thể dùng nước lọc, nước khoáng, nước dừa hoặc Oresol để bổ sung khoáng chất bị thất thoát qua mồ hôi.