Shing Tung Yau (Khâu Thành Đồng) sinh năm 1949, là một trong những nhà toán học đương đại có ảnh hưởng nhất thế giới. Ông là người gốc Hoa đầu tiên giành giải Fields vào năm 1982, khi mới 33 tuổi.
Yau được ghi nhận vì những đóng góp cho phương trình vi phân đạo hàm riêng, giả thuyết Calabi trong hình học đại số, giả thuyết khối lượng dương của lý thuyết tương đối rộng, các phương trình Monge-Ampère thực và phức.
Ảnh hưởng từ công trình của Yau còn thể hiện trong lĩnh vực hình học lồi, hình học đại số, hình học đếm, đối xứng gương, thuyết tương đối rộng và lý thuyết dây. Nghiên cứu của ông cũng chạm đến toán học ứng dụng, kỹ thuật và phân tích số.
Yau là người con thứ 5 trong gia đình có 8 anh, chị em. Khi ông mới vài tháng tuổi, cả gia đình chuyển đến Hong Kong. Là nhà kinh tế học và triết gia, cha ông giảng dạy tại một trường cao đẳng, sau này thuộc Đại học Trung văn Hong Kong (CUHK).
“Gia đình chúng tôi rất nghèo, ban đầu gần như chết đói”, ông Yau nói trong cuộc phỏng vấn với tờ Discover Magazine năm 2010. Họ sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô, không có điện hay nước sinh hoạt. Yau thường xuyên trốn học, cầm đầu một nhóm lang thang khắp nơi, nhưng vẫn làm đủ bài tập mà cha giao ở nhà.
Dù khó khăn, cha của Yau luôn duy trì một nhóm sinh viên đến nhà để bàn luận về triết học và văn học. Ông cũng khuyến khích con quan tâm đến triết, toán, dạy các bài thơ và văn dài, nên khi mới 10-11 tuổi, Yau đã dần quen với lối suy luận trừu tượng.
Biến cố tới vào năm ông 14 tuổi, khi cha qua đời. Kinh tế kiệt quệ, mẹ ông phải làm hàng đan, móc để bán. Yau bắt đầu đọc và trân trọng những cuốn sách cha để lại, chú tâm học hành hơn. Ông vừa đi học, vừa làm gia sư để phụ giúp gia đình.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1965, ông học cử nhân toán tại Đại học Trung văn Hong Kong. Ông có sức học vượt trội, có thể làm bài thi của nhiều môn mà không cần đến lớp. Stephen Salaff, một giảng viên ở trường, đề nghị ông đến Đại học California, Berkeley (Mỹ) làm tiến sĩ vì thấy tiềm năng to lớn của học trò.
Salaff liên hệ với một phó giáo sư, thuyết phục trường miễn, giảm yêu cầu đầu vào. Ông cũng tìm cách để Yau được nhận một trong hai suất học bổng từ Tập đoàn International Business Machines (IBM) để thực hiện nghiên cứu.
“Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, tôi sẽ không trở thành nhà toán học như bây giờ”, ông Yau nói.
Năm 1969, Yau phải vay bạn bè để mua vé máy bay sang San Francisco, nhận học bổng 300 USD mỗi tháng nhưng gửi một nửa về cho gia đình.
Ông đăng ký nhiều lớp học cùng lúc và bắt đầu quan tâm đến hình học. Trong đó, một khóa về phương trình vi phân riêng phần phi tuyến do Charles Bradfield Morrey Jr. giảng dạy được ông đánh giá rất xuất sắc.
Vì không đủ tiền về nhà, Yau đã dành cả kỳ nghỉ Giáng sinh trong thư viện, vùi đầu vào các bài báo nghiên cứu và chuyên khảo, đặc biệt là Tạp chí Hình học Vi phân và các bài báo của John Milnor về lý thuyết nhóm hình học.
“Tôi thấy hình học rất thanh lịch và đẹp đẽ. Tôi rất hào hứng với việc không gian có thể có độ cong và làm thế nào để nắm bắt được chúng”, ông Yau nói sau khi nhận Huân chương Khoa học quốc gia Mỹ năm 1997.
Từ năm thứ hai, Yau dành phần lớn thời gian nghiên cứu về đa tạp phức, đặc biệt say mê với giả thuyết Calabi. Chỉ sau hai năm, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đồng thời có ba bài báo được xuất bản.
Vào thời điểm ấy, nhiều người cho rằng giải được giả thuyết Calabi là bất khả thi. Nhưng ông tin rằng ngay cả khi không thể, ông vẫn phải hiểu tại sao. Ông theo đuổi bài toán xuyên suốt những năm đầu sự nghiệp, như khi gia nhập Viện Nghiên cứu cao cấp tại Princeton năm 1971, làm giáo sư bậc một ở Đại học New York-Stony Brook năm 1972, lên giáo sư bậc hai ở Stanford,…
Cuối cùng, năm 1976, ông chứng minh thành công giả thuyết Calabi. Bài báo của ông cũng đặt nền móng cho lý thuyết dây 10 năm sau đó, cho thấy hầu hết 10 chiều không gian-thời gian cần thiết cho “lý thuyết vạn vật” có thể được cuộn lại, ẩn khuất trong một không gian mà ngày nay được gọi là Calabi-Yau.
Ba năm sau, ông Yau cùng công sự chứng minh được một kết quả quan trọng khác về thuyết tương đối rộng của Einstein: bất kỳ nghiệm nào của phương trình Einstein đều phải có năng lượng dương.
“Ông ấy là một nhà giải tích hình học với năng lực kỹ thuật phi thường và tầm nhìn sâu sắc. Ông giải quyết được những vấn đề mà tiến độ nghiên cứu đã đình trệ trong nhiều năm”, Louis Nirenberg, nhà toán học người Canada, viết vào năm 1982, khi Yau nhận giải Fields.
Sau giải thưởng này, Yau tới Đại học California-San Diego, rồi tới Harvard vào năm 1987, gắn bó hơn 3 thập kỷ sau đó. Ông được phong chức Giáo sư danh dự William Caspar Graustein về Toán học ở Harvard, trước khi hồi hương, về làm việc tại Đại học Thanh Hoa năm 2022.
Yau cũng đạt nhiều thành tựu trong hình học, tôpô học và vật lý, được vinh danh bằng các giải thưởng như Veblen về Hình học (1981), giải Crafoord của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển (1994), giải Wolf (2010) và gần đây nhất là giải Shaw (2023).
Ngoài nghiên cứu, ông dốc toàn lực để xây dựng nền toán học Trung Quốc. Ông thường về thăm Trung Quốc trong kỳ nghỉ hè khi còn dạy tại Harvard, giúp đỡ các sinh viên xuất sắc sang Mỹ học tiến sĩ.
Ông cũng góp phần gây quỹ để thành lập loạt viện toán học ở Trung Quốc, như Viện Khoa học Toán học ở CUHK (1993), Trung tâm Toán học Morningside thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (1995) và Trung tâm Toán học và Khoa học tại ba đại học lớn, gồm Chiết Giang, Thanh Hoa và Quốc gia Đài Loan.
“Mục tiêu của tôi rất đơn giản, đó là chứng minh rằng Trung Quốc có thể phát triển một môn học cơ bản như toán học”, ông Yau phát biểu vào năm 2015 tại lễ khánh thành Trung tâm Toán và Khoa học Yau-Đại học Thanh Hoa, nơi ông làm giám đốc cho đến nay.
Hiện, ông còn là chủ tịch Học viện Qiuzhen thuộc Thanh Hoa, nơi tập trung đào tạo các nhà toán học trẻ thông qua các chương trình đặc biệt. Ông cũng đang dẫn đầu nhóm 40 nhà toán học Trung Quốc và quốc tế, tham gia vận động để Hong Kong có thể đăng cai Đại hội Toán học quốc tế (ICM), nơi trao giải Fields, vào năm 2030.
Ngày 7.4, Báo Thanh Niên tổ chức chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến 2026 "Cơ hội nghề nghiệp khối ngành xã hội nhân văn và sư phạm". Chương trình diễn ra đồng thời ở các kênh: thanhnien.vn, fanpage Facebook, kênh YouTube, TikTok Báo Thanh Niên.
Mới đây, ngày 28.3, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thành ủy TP.HCM và ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học xã hội và nhân văn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới".
Tại đây, khoa học xã hội và nhân văn được xác định có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với các lĩnh vực khoa học khác, là một trụ cột quan trọng của nền khoa học quốc gia. Công nghệ có thể phát triển rất nhanh, nhưng nếu thiếu nền tảng xã hội ổn định và hệ giá trị bền vững, sự phát triển đó khó có thể lâu dài. Từ đó, khoa học xã hội và nhân văn không thể chỉ "đi sau" để lý giải thực tiễn, mà cần "đi trước một bước" để định hình tương lai. Điều này đòi hỏi phải tích hợp khoa học xã hội và nhân văn vào mọi chiến lược phát triển, đồng thời chú trọng các yếu tố đạo đức, văn hóa và pháp lý trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với vai trò quan trọng đó, cơ hội nghề nghiệp khối ngành xã hội nhân văn và sư phạm ra sao? Những yếu tố nào cần thiết trong chọn ngành khoa học xã hội, nhân văn và sư phạm cùng với cơ hội nghề nghiệp của khối ngành này trong bối cảnh công nghệ phát triển? Năm nay, các trường ĐH đang đào tạo những ngành học nào thuộc khối xã hội nhân văn và sư phạm, chỉ tiêu, phương thức xét tuyển, tổ hợp môn ra sao?
Thông tin sẽ có trong chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến chiều 7.4. Chương trình diễn ra từ 14-15 giờ 10, gồm các chuyên gia:
Bạn đọc quan tâm tới việc chọn ngành học khối ngành khoa học xã hội nhân văn và sư phạm, có thể đặt câu hỏi để tương tác với chuyên gia chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến 2026 tại các địa chỉ trên.
Ngày 9/5, ngay sau lễ tốt nghiệp đợt 1 năm 2026 của Đại học (ĐH) Bách khoa Hà Nội, hình ảnh hàng nghìn bó hoa đặt ở tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ quốc” tại sân trường tiếp tục gây sốt trên mạng xã hội.
Hình ảnh chạm vào trái tim nhiều người. Những bó hoa như một lời tri ân của sinh viên Bách khoa dành cho những thế hệ đi trước.
Tượng đài khánh thành vào dịp kỷ niệm 35 năm (1971-2006) đợt cao điểm tuyển quân từ sinh viên, để phục vụ các trận đánh chiến lược 1972, thúc đẩy việc Mỹ ký Hiệp định Paris rút quân vào tháng 1/1973.
Vì ý nghĩa lịch sử đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp ghi lời đề tặng trên tượng đài tại Đại học Bách khoa: “Tổ Quốc ghi công lớp lớp thầy giáo, sinh viên đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu và đóng góp xứng đáng vào chiến thắng của dân tộc. Tinh thần yêu nước mãi mãi là ngọn lửa soi sáng các thế hệ thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước trở thành quốc gia giàu mạnh, hòa bình và hạnh phúc”.
Trả lời phóng viên Dân trí, đại diện Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, đã thành thông lệ, lễ tốt nghiệp hoặc các ngày lễ lớn, tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ quốc” luôn có hàng nghìn bó hoa tri ân thế hệ đi trước.
Dù thành thông lệ nhưng hình ảnh này vẫn luôn tạo nên cảm xúc mới, vì cảm xúc đó được thể hiện bởi thế hệ mới, như một dòng chảy không ngừng, tiếp nối từ quá khứ, hiện tại đến tương lai.
Chia sẻ với phóng viên, Trần Thành Vinh, sinh viên Ngành Kỹ thuật điều khiển – Tự động hóa, Trường Điện – Điện tử, thủ khoa toàn Đại học Bách khoa năm nay, cho biết khoảng 9h, sau khi nhận tấm bằng tốt nghiệp loại xuất sắc, đã mang hoa ra đặt ở tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ quốc”.
“Sau khi trao bằng cũng là lúc thời gian gắn bó với chương trình cử nhân tại đại học đã kết thúc, tôi muốn thực hiện điều gì đó để thể hiện sự biết ơn đến ngôi trường này.
Tôi đồng thời muốn thể hiện lòng tri ân, sự biết ơn các thế hệ sinh viên Bách khoa đi trước. Đấy không đơn thuần chỉ có hoa mà còn là hành động tưởng nhớ để thể hiện văn hóa uống nước nhớ nguồn, sống có trước có sau”, Thành Vinh chia sẻ.
Tương tự, Minh Tú - sinh viên Khoa học Máy tính - thủ khoa tốt nghiệp Trường Đại học Công nghệ Thông tin, á khoa tốt nghiệp toàn Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 cũng đặt hoa tri ân tại tượng đài.
“Đây là những bông hoa đẹp nhất, được gia đình, bạn bè thân tặng trong lễ tốt nghiệp, tôi mang gửi lại tượng đài như lời tri ân công lao của người đi trước”, Minh Tú nói.
Chia sẻ thêm với phóng viên, đại diện nhà trường cho hay, tiếp nối thế hệ đi trước, những đóng góp lớn nhất của các thế hệ Bách khoa hôm nay là những công việc cụ thể trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học công nghệ, kinh tế - xã hội của đất nước.
Hình ảnh dâng hoa tại tượng đài cũng phản ánh thông điệp truyền thống đó của kỹ sư, cử nhân Bách khoa: Gửi những lời chúc mừng ở lại, để bước tiếp, chinh phục thử thách mới, với giá trị cốt lõi: "Trách nhiệm, sáng tạo, chính trực, xuất sắc".
Các thế hệ sinh viên Đại học Bách khoa lên đường chiến đấu có nhiều tấm gương tiêu biểu như: Anh hùng lực lượng vũ trang: Bùi Ngọc Dương, Vũ Xuân Thiều, Trần Thanh Hải, Nguyễn Tiến Sâm… Các chuyên gia, Anh hùng Lao động: Trần Tuấn Thanh, Trần Đình Long, Trần Vĩnh Diệu.
Đề Văn thi vào lớp 10 TP HCM có 2 phần, thí sinh làm trong 120 phút. Phần một 5 điểm, gồm hai câu đọc hiểu văn bản văn học (3 điểm) và viết đoạn văn (2 điểm). Phần hai yêu cầu đọc hiểu (1 điểm) và viết bài văn nghị luận xã hội (4 điểm).
Đề thi như sau:
Năm ngoái, khi chưa sáp nhập, phổ điểm Văn của học sinh TP HCM tập trung ở mức 5-7,5, chỉ hai bài thi đạt điểm 9,5. Khoảng 15% bài thi dưới điểm trung bình.
Trả lời VnExpress hôm 30/5, ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM, cho biết đề thi năm nay vẫn theo dạng mở, yêu cầu học sinh tư duy, vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề thực tiễn - vốn quen thuộc với học sinh nhiều năm nay. Tuy nhiên, đề được nghiên cứu, điều chỉnh độ khó để phù hợp với kỳ thi đầu tiên sau sáp nhập với Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Chiều nay, thí sinh làm bài thi Ngoại ngữ (chủ yếu Tiếng Anh) trong vòng 90 phút. Ngày 2/6, các em làm bài thi môn Toán với 120 phút. Những em có nguyện vọng vào các lớp chuyên sẽ thi thêm môn tương ứng, dài 150 phút.