Ngày 13/5, bên lề hội thảo “Bất động sản Đà Nẵng: Đầu tư giá trị dài hạn và dòng chảy đô thị phía Nam”, trao đổi với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Đức Lập, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đào tạo Bất động sản, cho rằng không thể nhìn mặt bằng giá bất động sản Đà Nẵng bằng một nhận định chung cho toàn thị trường.
Theo ông, mỗi khu vực, mỗi dòng sản phẩm đang ở một trạng thái khác nhau. Có nơi giá đã vượt xa giá trị thực, nhưng cũng có khu vực vẫn còn trong “vùng trũng”, nhất là những nơi hạ tầng đang hoàn thiện và pháp lý có khả năng được tháo gỡ trong thời gian tới.
Thị trường Đà Nẵng đã trải qua chu kỳ tăng trưởng kéo dài từ cuối năm 2014, đầu năm 2015. Sau nhiều năm tăng giá, cộng với giai đoạn lãi suất cao và thanh khoản suy giảm, giá tại nhiều khu vực vẫn ở mức cao, đặc biệt là vùng lõi đô thị. Ở trung tâm thành phố, sản phẩm nhà đất trong tầm 2 đến 3 tỷ đồng gần như không còn nhiều lựa chọn, khiến người mua ở thực và nhà đầu tư nhỏ lẻ phải dịch chuyển ra xa hơn.
Trong khi đó, khu vực phía Nam Đà Nẵng được nhìn nhận như hướng mở tự nhiên của thị trường. Đây là trục kết nối Đà Nẵng – Điện Bàn – Hội An, có sự giao thoa giữa đô thị, du lịch, thương mại và dịch vụ. Khi giá vùng trung tâm đã cao, dòng tiền có xu hướng tìm đến những khu vực còn dư địa tăng trưởng, nhưng vẫn phải gắn với hạ tầng, nhu cầu ở thực và khả năng khai thác thực tế.
Ông Lập cho rằng dư địa của khu Nam có thể lớn hơn vùng lõi, một phần do thời gian qua khu vực Điện Bàn còn vướng nhiều vấn đề pháp lý. Nếu các điểm nghẽn này được tháo gỡ thông qua cơ chế, nghị quyết và nghị định hướng dẫn mới, nguồn cung có thể được khơi thông, tạo thêm động lực cho thị trường.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh điểm mấu chốt không phải là đẩy giá bằng kỳ vọng. Điều cần thiết là đưa thị trường về trạng thái cân bằng hơn. Việc xử lý các dự án tồn đọng, trong đó có hơn 100 dự án tại khu vực Quảng Nam cũ, nếu được thực hiện minh bạch, sẽ bổ sung nguồn cung, giảm áp lực tăng giá do kha hiếm và giúp dòng vốn dài hạn quay lại những nơi có nhu cầu thật.
Cùng quan điểm, ông Phạm Thành Hưng, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Bất động sản BHS Miền Trung, cho rằng trục phía Nam Đà Nẵng có lợi thế đặc biệt khi nằm giữa sông và biển, đồng thời đã hình thành hệ thống khu đô thị, resort ven biển trong nhiều năm qua.
Theo ông Hưng, hành lang từ phía Bắc Đà Nẵng đến khu vực cầu Cửa Đại đã định hình khá rõ một không gian đô thị hiện đại. Đà Nẵng có sân bay quốc tế, Hội An là di sản nổi tiếng toàn cầu, còn Điện Bàn sở hữu quỹ đất lớn để mở rộng không gian phát triển.
“Đây là khu vực có tiềm năng trở thành một siêu đô thị ven biển hàng đầu miền Trung nếu tận dụng tốt lợi thế thiên nhiên, vị trí và khả năng kết nối”, ông Hưng nói.
Dù vậy, sự phát triển của khu vực này thời gian qua được đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng. Việc Đà Nẵng và Quảng Nam trước đây thuộc hai địa phương khác nhau khiến quy hoạch, hạ tầng và phát triển đô thị thiếu đồng bộ. Khi hai địa phương “về chung một nhà”, doanh nghiệp kỳ vọng khu Nam sẽ có cơ chế điều phối tập trung hơn, hình thành một không gian kinh tế thống nhất, trong đó đô thị, du lịch, hạ tầng và dịch vụ bổ trợ cho nhau.
Ông Trần Văn Bình, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, chia sẻ, Đà Nẵng đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, yếu tố họ đặt lên hàng đầu vẫn là pháp lý, tiến độ thủ tục và sự đồng hành của chính quyền địa phương.
Theo ông Bình, cơ hội đầu tư chỉ có thể chuyển hóa thành dòng vốn khi dự án minh bạch, thủ tục được rút ngắn và môi trường đầu tư đủ ổn định. Với bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng, bài toán hiện nay không còn dừng ở việc phát triển một tài sản riêng lẻ, mà phải xây dựng được hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Ông cho rằng Đà Nẵng cần hướng tới các sản phẩm cho nhóm khách hàng giàu có, chuyên gia và khách quốc tế thường xuyên lưu trú. Muốn vậy, thành phố phải tạo thêm lý do để họ ở lại lâu hơn, quay lại nhiều hơn và gắn bó với địa phương như một nơi sống, làm việc, nghỉ dưỡng, thay vì chỉ là điểm đến ngắn ngày.
Hội An là điểm đến quốc tế nổi tiếng, trong khi Đà Nẵng có sân bay, hạ tầng đô thị và dịch vụ ngày càng hoàn thiện. Nếu trục kết nối này được tổ chức tốt, dòng khách du lịch có thể chuyển hóa thành dòng cư dân, nhà đầu tư và người sử dụng dịch vụ lâu dài. Phát triển kinh tế đêm, tổ hợp vui chơi giải trí, dịch vụ cao cấp và các không gian trải nghiệm được xem là những hướng đi cần thiết để gia tăng thời gian lưu trú và khả năng chi tiêu của du khách.
Ông Lê Văn Tuấn, Phó giám đốc Sở Xây dựng Đà Nẵng, cho biết trong điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, khu vực phía Nam được xác định giữ vai trò quan trọng trong tái cấu trúc không gian phát triển.
Theo ông Tuấn, đây không chỉ là trục kết nối trung tâm Đà Nẵng với Điện Bàn, Hội An, Chu Lai, mà còn là hành lang hội tụ các động lực mới như cảng biển, logistics, công nghiệp công nghệ cao, đô thị, du lịch sinh thái và hạ tầng giao thông chiến lược.
Theo báo cáo của Sở Tài chính Thành phố Hải phòng, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, song với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố cùng sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, kinh tế - xã hội thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.
GRDP 6 tháng đầu năm của Hải Phòng ước tăng 11,31% - cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 113.552 tỷ đồng, bằng 58,3% dự toán năm, thu hút đầu tư nước ngoài đạt khoảng 3,1 tỷ USD, gấp 1,75 lần cùng kỳ, giải ngân vốn đầu tư công đạt 40% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và HĐND thành phố giao.
Các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu, logistics, du lịch tiếp tục tăng trưởng khá; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 25,9 tỷ USD, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt 96 triệu tấn, du lịch đón hơn 8,7 triệu lượt khách.
Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, cải cách hành chính, chuyển đổi số, quốc phòng - an ninh tiếp tục được quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực.
Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ rõ một số chỉ tiêu chưa đạt kịch bản đề ra, như tốc độ tăng trưởng GRDP, chỉ số sản xuất công nghiệp, phát triển doanh nghiệp mới; một số dự án trọng điểm còn gặp khó khăn trong giải phóng mặt bằng, tiến độ triển khai chưa đáp ứng yêu cầu; áp lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm còn rất lớn.
Tại phiên họp thường kỳ tháng 6/2026, ông Đỗ Thành Trung - Chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng cho biết, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, Hải Phòng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, giữ vững môi trường an ninh, trật tự, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, dư địa phát triển và hoàn toàn có thể làm tốt hơn nếu các cấp, ngành phát huy tinh thần chủ động, quyết liệt hơn trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng là nhiệm vụ trọng tâm của 6 tháng cuối năm, Chủ tịch UBND Thành phố yêu cầu các sở, ngành phối hợp với cơ quan thống kê, tài chính rà soát, làm rõ các số liệu tăng trưởng, bảo đảm tính chính xác, thống nhất, phục vụ hiệu quả công tác điều hành.
Thêm vào đó, các cơ quan chức năng chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp, tập trung tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp đang hoạt động, nhất là những doanh nghiệp có đóng góp lớn vào tăng trưởng, ngân sách và giải quyết việc làm. Đối với những khó khăn phát sinh từ cơ chế, chính sách, các sở, ngành phải chủ động nghiên cứu, đề xuất giải pháp, không chờ đợi hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Văn phòng UBND Thành phố theo dõi, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các sở, ngành, địa phương, kiên quyết xử lý tình trạng né tránh, chậm trễ hoặc để tồn tại những nội dung thuộc thẩm quyền nhưng không chủ động giải quyết, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh.
Về đầu tư phát triển, Chủ tịch Hải Phòng khẳng định tăng trưởng không thể đạt được nếu thiếu động lực từ đầu tư. Vì vậy, các địa phương phải tập trung đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công; tháo gỡ các điểm nghẽn về chỉ số giá xây dựng, giải phóng mặt bằng, tái định cư, điều chỉnh dự án, đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ các dự án đầu tư ngoài ngân sách.
Do đó, ông Trung yêu cầu rà soát toàn bộ các dự án tồn đọng, các dự án nhà ở xã hội, khu xử lý chất thải tập trung, các cơ sở nhà đất và những dự án đang gặp khó khăn để tập trung xử lý dứt điểm, tạo nguồn lực mới cho tăng trưởng.
Ngân hàng Nhà nước cho biết, hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) đã gửi cảnh báo đến 4 triệu lượt khách hàng về giao dịch rủi ro. Sau khi nhận được cảnh báo, hơn 1,3 triệu lượt khách hàng đã chủ động tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch, qua đó ngăn chặn tổng số tiền giao dịch lên tới 4.400 tỉ đồng.
Với sự phát triển các kênh thanh toán đa dạng, việc cảnh báo từ SIMO đã mang lại tính hiệu quả của chuyển đổi số trong việc bảo vệ tài sản và quyền lợi hợp pháp của người dân, đồng thời góp phần tăng cường an toàn cho toàn hệ thống ngân hàng.
Tốc độ thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 tăng khoảng 38% so với cuối năm 2025. Trong đó, giao dịch trên internet tăng 66%, giao dịch trên kênh di động tăng 33%. Đặc biệt, thanh toán qua mã QR tăng trên 50%. Hạ tầng thanh toán số hiện nay đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thanh toán của người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, ngân hàng đã thực hiện thanh toán song phương với một số quốc gia. Từ đầu năm 2026 đến nay, Việt Nam đã triển khai kết nối thanh toán QR với Trung Quốc và Hàn Quốc. Dự kiến từ nay đến cuối năm, hệ thống sẽ tiếp tục mở rộng sang Singapore, Đài Loan (Trung Quốc) và Ấn Độ.
Đáng chú ý, ngân hàng đã đối chiếu sinh trắc học thành công cho hơn 163,39 triệu hồ sơ khách hàng (bao gồm 161,2 triệu hồ sơ cá nhân và 2,19 triệu hồ sơ tổ chức) qua CCCD gắn chip và VNeID, từ đó loại bỏ tài khoản ảo và kiến tạo một hệ sinh thái tài chính minh bạch, công bằng. Toàn bộ 154 triệu tài khoản và 36 triệu hồ sơ trong cơ sở dữ liệu phòng, chống rửa tiền, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đã được làm sạch triệt để. Đồng thời, Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam hoàn thành làm sạch gần 44,5 triệu hồ sơ khách hàng.
Tại hội thảo quản lý thuế theo dòng tiền do Cục Thuế (Bộ Tài chính) phối hợp Báo Tiền phong tổ chức sáng 20.5, tại Hà Nội, ông Nguyễn Tiến Trung, Trưởng ban Kiểm tra thuế (Cục Thuế), cho biết, cơ quan thuế nhận thấy một số hình thức, hành vi các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện có tiềm ẩn những dấu hiệu rủi ro về dòng tiền với quản lý thuế.
Thứ nhất là thông qua hợp đồng vay vốn nội bộ: công ty mẹ chuyển tiền cho công ty con thông qua các hợp đồng vay vốn với lãi suất cao bất thường hoặc ngược lại cho vay với lãi suất thấp hoặc thậm chí không có lãi suất.
Với dấu hiệu này, cơ quan thuế có thể xem xét bản chất của dòng tiền để xác định lại lãi suất cho vay, hoặc xem xét về tính hợp lý, hợp lệ của chi phí lãi vay tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ, hoặc xem xét chi phí lãi vay có bị khống chế theo quy định về giao dịch liên kết và công thức EBITDA (được tính bằng tổng thu nhập trước lãi vay, thuế, khấu hao và chi phí) hay không, qua đó truy thu, xử phạt về thuế.
Thứ 2 là thông qua hợp đồng mua - bán hàng hóa, dịch vụ: công ty mẹ bán hàng cho công ty con với giá bất thường (nhằm mục đích chuyển lợi nhuận) hoặc ngược lại công ty con mua các dịch vụ từ công ty mẹ với giá không hợp lý thông qua hình thức là các dịch vụ quản lý, tư vấn, giám sát…
"Cơ quan thuế có thể xem xét hồ sơ, chứng từ để điều chỉnh loại chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ, điều chỉnh giảm khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua, xem xét tính rủi ro đối với hóa đơn không hợp pháp nếu như dịch vụ không có thật", ông Trung nói.
Thứ 3 là thông qua hợp đồng hợp tác đầu tư, phân chia lợi nhuận: các doanh nghiệp có hình thức hợp tác đầu tư, góp vốn, song phân chia lợi nhuận không tương xứng với phần vốn góp, ghi nhận lợi nhuận về những đơn vị có thể được nhận ưu đãi về thuế.
Cơ quan thuế có thể xem xét tính hợp lý của các điều khoản trên hợp đồng, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thực hiện hợp tác đầu tư, phân chia lợi nhuận để nhận định các rủi ro về việc doanh nghiệp có tận dụng ưu đãi thuế hoặc điều chuyển lợi nhuận. Qua đó, xác định lại lợi nhuận tương xứng, truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Hình thức tiềm ẩn dấu hiệu rủi ro về dòng tiền khác được lãnh đạo Ban Kiểm tra đề cập là thông qua các khoản tạm ứng kéo dài.
Doanh nghiệp chuyển tiền cho doanh nghiệp (từ công ty mẹ sang công ty con hoặc ngược lại) hoặc chuyển tiền cho các cá nhân dưới hình thức là các khoản tạm ứng kéo dài không rõ mục đích hoặc các khoản tài trợ phi thương mại không có mục đích.
Cơ quan thuế có thể xem xét bản chất của các khoản tạm ứng và hồ sơ đính kèm, xác định khoản tiền nhận tạm ứng có thể là doanh thu, thu nhập khác để truy thu, xử phạt thuế thu nhập doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp), thuế thu nhập cá nhân (đối với cá nhân)…
Cuối cùng, về dòng tiền đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh), ông Trung nêu rõ các trường hợp, gồm: hộ kinh doanh có phát sinh doanh thu, dòng tiền lớn thông qua hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, song không thực hiện đăng ký, kê khai nộp thuế.
Hộ kinh doanh có thực hiện đăng ký thuế nhưng thực hiện phân chia doanh thu vào các tài khoản của cá nhân khác không phải tài khoản đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế; kết hợp giao dịch tiền qua ngân hàng và tiền mặt.
"Cơ quan thuế có thể kết hợp dữ liệu từ ngân hàng, sàn thương mại điện tử và các nguồn dữ liệu khác để truy thu, xử phạt về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, xử phạt về hành vi bán hàng không xuất hóa đơn hoặc thậm chí cả hành vi trốn thuế", ông Trung khẳng định.
Thời gian tới, Ban Kiểm tra đề xuất, kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế có thể không cần phải lập kế hoạch mà kiểm tra theo thời gian thực, chuyển sang cơ chế giám sát, phát hiện rủi ro hoàn toàn tự động từ hệ thống.
Đối với kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế: dựa trên kết quả phân tích rủi ro tự động từ hệ thống, cơ quan thuế sẽ tối ưu hóa nguồn lực để ưu tiên lựa chọn và lập kế hoạch kiểm tra đối với danh sách người nộp thuế có chỉ số rủi ro cao nhất...
Đề cập phương thức quản lý thuế hiện đại, theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam, việc kết nối hệ sinh thái số giữa ngân hàng - cơ quan thuế - nền tảng công nghệ là yêu cầu bắt buộc.
Thời gian tới, cần có giải pháp để người nộp thuế thuận tiện hơn trong kết nối, sử dụng nền tảng số. "eTax Mobile rất hữu ích nhưng cần cải tiến để người nộp thuế có thể sử dụng đơn giản hơn, phải triển khai bình dân học vụ về eTax Mobile. Với nợ thuế, làm sao để hệ thống có thể tự động thông báo giúp người nộp thuế nắm được", bà Cúc nói.
Bà Cúc cũng nhắc lại đề xuất không nặng về xử phạt hộ kinh doanh trong chuyển đổi từ khoán thuế sang kê khai thuế mà phải tăng cường hỗ trợ. Làm sao để có sự thống nhất quan điểm giữa cơ quan thuế - quản lý thị trường - công an, giúp hộ kinh doanh yên tâm chuyển đổi.