Ngày 17.4, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức lễ khởi công, động thổ xây dựng Trường tiểu học Tân Đông, xã Tân Đông (Đồng Tháp).
Tham dự chương trình có đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, cùng lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Tháp.
Đây là công trình trọng điểm, có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp giáo dục địa phương; đồng thời thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng và chính quyền tỉnh Đồng Tháp đối với người dân.
Dự án Trường tiểu học Tân Đông có tổng mức đầu tư 49 tỉ đồng, từ nguồn kinh phí hỗ trợ của Binh đoàn 20. Công trình được đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại, khang trang với các hạng mục khối phòng học, khối nhà làm việc, nhà đa năng, nhà ăn và các cơ sở vật chất phụ trợ kèm theo.
Khi hoàn thành, công trình sẽ đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Đây cũng là công trình có ý nghĩa thiết thực trong việc củng cố “thế trận lòng dân”, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân trên địa bàn.
Phát biểu tại lễ khởi công, đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa chia sẻ, việc khởi công xây dựng Trường tiểu học Tân Đông không chỉ là dựng nên một công trình giáo dục, mà còn xây dựng niềm tin, ươm mầm cho thế hệ trẻ. Đại tướng yêu cầu lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp chỉ đạo các đơn vị phối hợp chặt chẽ với Binh đoàn 20 và các đơn vị thi công trong suốt quá trình xây dựng dự án; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện để công trình được triển khai nhanh chóng, hiệu quả.
Tin Gốc: Thanh Niên

Thông tin từ Trường Phổ thông Năng khiếu, năm nay có hơn 4.700 thí sinh đăng ký dự thi lớp 10 vào trường, tăng hơn 1.000 thí sinh so với năm ngoái.
Tổng chỉ tiêu năm nay của trường là 595 học sinh, tỷ lệ cạnh tranh ở mức tương đương 1 “chọi” 8.
Năm 2025, có hơn 3.500 thí sinh dự thi vào trường, tỷ lệ chọi trung bình là 1/6. Điểm chuẩn lớp chuyên toán dẫn đầu với 33,75 điểm, còn các lớp còn lại ở mức 24,4 đến 33 điểm.
Kỳ thi vào lớp 10 Trường Phổ thông Năng khiếu năm nay được tổ chức vào ngày 23-24/5.
Để vào trường, thí sinh sẽ thi ít nhất 4 môn toán, văn, tiếng Anh và môn chuyên. Các em có thể thi tối đa 2 môn, miễn không trùng lịch.
Đề thi môn không chuyên có 2 phần tự luận và trắc nghiệm. Với môn chuyên, đề chỉ có tự luận, trừ môn tiếng Anh.
Điểm xét tuyển lớp 10 là tổng điểm 4 bài thi, môn chuyên nhân hệ số 2, không bài thi nào dưới 2 điểm.
Với các lớp chuyên tuyển bằng 2 tổ hợp, căn cứ kết quả thi và số lượng nguyện vọng, trường sẽ quyết định điểm xét tuyển với từng nhóm.
Thí sinh được đăng ký nhiều nguyện vọng vào các lớp chuyên, xếp theo thứ tự ưu tiên. Các em được xét theo kết quả thi, không phân biệt thứ tự nguyện vọng nhưng chỉ trúng tuyển 1 nguyện vọng cao nhất.
Tin Gốc: Dân Trí

Sau bài Sai chiến lược dễ trượt đại học, hàng loạt ý kiến gửi về cho rằng việc vào đại học không còn là hành trình học tập đơn thuần mà như cuộc đua thông tin, bài toán chiến lược cùng câu hỏi không mới "Bao giờ chấm dứt cảnh tuyển sinh năm nào cũng đổi?".
"Không biết đến bao giờ Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ngừng thay đổi tuyển sinh đại học?", bạn đọc Ly Lan đặt câu hỏi.
Nhiều phụ huynh cho biết năm nào cũng nghe thông tin "ổn định" nhưng thực tế lại xuất hiện những điều chỉnh mới khiến họ luôn trong trạng thái thấp thỏm.
"Quanh năm toàn nghe chuyện thay đổi quy chế tuyển sinh đại học, hết sức ngán ngẩm", một bạn đọc bày tỏ. Người khác than phiền: "Thay đổi hoài, học sinh, giáo viên, phụ huynh chạy theo mệt mỏi năm nào cũng vậy".
Ngay giáo viên phổ thông cũng lúng túng khi tư vấn cho học sinh. Bạn đọc Thu Thủy - một giáo viên, chia sẻ bản thân "không biết giải thích, tư vấn cho học sinh thế nào" trước những thay đổi liên tục.
Theo cô, năm nào cơ quan quản lý cũng khẳng định tuyển sinh sẽ ổn định nhưng thực tế lại khác: "Nhiều năm nay, năm nào quy chế tuyển sinh đại học cũng điều chỉnh, sửa đổi, toàn những thay đổi lớn, ảnh hưởng rất nhiều đến thí sinh".
Phụ huynh Trí có con cùng lúc thi vào lớp 10 và đại học cho biết chỉ riêng việc đọc và hiểu các thông tin tuyển sinh đã thấy "đau đầu" nên mong quy chế được xây dựng ổn định và trình bày thật rõ ràng, dễ hiểu.
Nếu trước đây việc vào đại học chủ yếu dựa vào kết quả thi thì nay nhiều ý kiến cho rằng tuyển sinh đã trở thành một "cuộc chơi nhiều biến số".
"Học sinh bây giờ không chỉ học, thi, chọn ngành mà còn phải tính chiến lược nguyện vọng, điểm cộng, tổ hợp, quy đổi điểm… nghe đã thấy mệt", một ý kiến nhận xét. Trong khi lẽ ra tuyển sinh phải giúp học sinh vào đúng ngành, đúng năng lực chứ không nên biến thành "bài toán mẹo cho ai có nhiều thông tin hơn thì thắng".
Nhiều ý kiến cũng chỉ ra sự chồng chéo giữa các phương thức xét tuyển. Việc vừa xét học bạ, vừa yêu cầu ngưỡng điểm thi tốt nghiệp THPT trong tổ hợp môn khiến không ít người cảm thấy khó hiểu.
Bạn đọc Huy cho rằng việc xét tuyển học bạ dựa trên đủ 6 học kỳ của ba năm THPT là hợp lý vì phản ánh cả quá trình học tập của học sinh. Tuy nhiên không nên kèm thêm điều kiện điểm thi tốt nghiệp THPT trong tổ hợp xét tuyển. "Nếu đã quy định như vậy thì không cần đến phương thức xét học bạ", bạn đọc Huy viết.
Cùng băn khoăn, ý kiến khác cho rằng các chính sách tuyển sinh nhiều năm qua tạo cảm giác chính ngành giáo dục chưa thực sự tin vào "sản phẩm" của mình.
Theo đó, việc vừa xét học bạ vừa bổ sung ngưỡng điểm từ kỳ thi tốt nghiệp THPT hay yêu cầu kết hợp thêm điều kiện với các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy khiến các phương thức trở nên chồng chéo, mất đi ý nghĩa ban đầu.
Việc quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển cũng gây nhiều tranh cãi. "Năm ngoái mỗi trường quy đổi một kiểu, chả hiểu được gì", một ý kiến phản ánh và đề nghị cần có quy định chung áp dụng toàn quốc.
Bạn đọc Minh Trí cho rằng mỗi phương thức tuyển sinh hướng đến những nhóm thí sinh khác nhau nên nếu vẫn yêu cầu quy đổi điểm như cách làm thời gian qua thì việc tồn tại nhiều phương thức trở nên thiếu ý nghĩa. Nếu bắt buộc quy đổi điểm thì nên quy định mỗi trường chỉ sử dụng một phương thức tuyển sinh để đảm bảo rõ ràng, tránh rối rắm.
Có nhiều đề xuất được đưa đều mong muốn hệ thống tuyển sinh phải rõ ràng hơn. Một bạn đọc mong quy chế cần ổn định trong vài năm, công bố sớm, viết thật dễ hiểu và quy đổi điểm minh bạch, đừng để chuyện vào đại học trở thành cuộc thử sức của phụ huynh trong việc đọc quy chế và đoán điểm chuẩn.
Ý kiến khác đề xuất đơn giản hóa các phương thức tuyển sinh. Bạn đọc Đỗ Dũng cho rằng cần tính toán lại khâu ra đề thi tốt nghiệp THPT theo hướng tăng tính phân loại để kỳ thi này phục vụ đồng thời hai mục tiêu: xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học.
"Đề thi chỉ cần 30% câu hỏi khó để phân loại thí sinh là có thể dùng cho tuyển sinh", bạn đọc này nêu quan điểm.
Đồng thời đã đến lúc cần nhìn nhận đúng giá trị thực của giáo dục, tránh nặng về thành tích khi tỉ lệ tốt nghiệp nhiều năm luôn ở mức rất cao nhưng chưa phản ánh rõ năng lực phân hóa.
Ở hướng khác, các ý kiến ủng hộ trao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học. Bộ chỉ nên tập trung giám sát, kiểm soát chất lượng đào tạo thay vì can thiệp sâu vào cách thức tuyển sinh.
Những ý kiến khác quan tâm đến chất lượng giáo dục đại học. "Tuyển sinh chỉ là một phần trong cả quá trình đào tạo. Nếu chỉ tập trung chọn đầu vào mà bỏ qua kiểm soát chất lượng trong quá trình học và đầu ra sẽ khó đảm bảo hiệu quả giáo dục", một giảng viên nhận định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn ngoại ngữ cần thoát khỏi lối mòn điểm số

Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra "điểm gãy" khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là "điểm bao nhiêu" mà là "bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ". Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển năng lực". Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị "lệch" do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ "đối sánh điểm thi" sang "đối sánh năng lực thực", từ "xếp hạng" sang "cải thiện chất lượng".
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là "mũi nhọn". Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép "đánh đổi" giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.

