Phía sau mỗi ca ghép thận thành công là một cuộc đời được tái sinh từ ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.
Điển hình là trường hợp anh D.V.B (30 tuổi, Cần Thơ), người từng suy kiệt hoàn toàn vì suy thận mạn giai đoạn cuối vào năm 2021. Ở tuổi trai tráng, anh Bảo nặng chừng 37 kg, phải đối mặt với hàng loạt biến chứng nguy hiểm như suy tim độ 3, phù phổi cấp.
Nhưng rồi, trong lúc tuyệt vọng nhất, người cha 58 tuổi của anh Bảo đã quyết định hiến tặng một phần cơ thể để cứu con trai khi biết kỹ thuật ghép thận đã được triển khai tại Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ. Ca phẫu thuật kéo dài hơn 6 giờ vào tháng 8.2024 như nối lại mầm sống cho anh Bảo từ chính tình thương của cha.
Giờ đây, sau 20 tháng kể từ khi được ghép thận, anh Bảo đã hồi phục sức khỏe kỳ diệu, có thể lao động mưu sinh và vỡ òa hạnh phúc khi đón con gái nhỏ vừa chào đời. Một niềm hạnh phúc mà trước đây anh Bảo chưa từng dám mơ tới.
Khác với anh Bảo, câu chuyện của ông T.V.U.E (59 tuổi, Vĩnh Long) lại là minh chứng đầy xúc động cho nghĩa cữ nhân văn và sự tiếp nối sự sống từ người hiến chết não.
Sau nhiều năm kiệt quệ vì bệnh tật, ông E. may mắn khi nhận được quả thận phù hợp từ một người hiến chết não vào tháng 11.2025. Đây cũng là ca ghép tạng từ người chết não đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ.
Ca ghép thành công giúp ông E. trở lại với nghề thợ may để mưu sinh, sống những ngày tháng ý nghĩa với lòng biết ơn sâu sắc dành cho người ân nhân quá cố đã trao cho mình cơ hội sống thứ hai.
BS.CK2 Phạm Thanh Phong, Phó giám đốc Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ cho biết, đến nay, 20 bệnh nhân được ghép thận tại bệnh viện – bao gồm 15 ca cùng huyết thống, 3 ca vợ chồng và 2 ca từ người chết não – đều có sức khỏe ổn định, chức năng thận tốt và chất lượng cuộc sống đều được nâng lên rõ rệt. Hiện có 11 cặp ghép khác đang hoàn tất thủ tục và sẽ được ghép trong thời gian tới.
Thành quả của 20 ca ghép thận là minh chứng rõ nét cho năng lực làm chủ kỹ thuật khó và sự phối hợp nhịp nhàng của ê-kíp y bác sĩ Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ. Tuy nhiên, để có được thành tựu này, bệnh viện đã chuẩn bị một lộ trình dài hơi, đào tạo bài bản cũng như chuyển giao từ Bệnh viện Chợ Rẫy. Chính việc đầu tư có hệ thống này đã tạo nền tảng vững chắc để bệnh viện thực hiện thành công ca ghép đầu tiên vào ngày 25.4.2024. Đây cũng là ca ghép tạng thành công đầu tiên tại ĐBSCL, đưa Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ trở thành trung tâm ghép tạng thứ 26 của cả nước.
PGS-TS-BS Thái Minh Sâm (nguyên Trưởng khoa Ngoại Tiết niệu – Bệnh viện Chợ Rẫy), nhận định, đội ngũ bác sĩ tại Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ đã cho thấy sự tiến bộ vượt bậc về chuyên môn. Các ca phẫu thuật đều đạt kết quả tốt, minh chứng cho khả năng tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật hiệu quả. Tuy vậy, ghép thận là kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi đội ngũ y tế phải không ngừng học hỏi, cập nhật kiến thức và nâng cao kỹ năng để duy trì chất lượng điều trị lâu dài.
Dấu mốc 20 ca thành công đã góp phần quan trọng khẳng định vị thế của Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ là trung tâm ghép tạng uy tín. Quan trọng hơn, tiến bộ này đã và đang giúp người dân miền Tây tiếp cận với các kỹ thuật y tế chuyên sâu nhất ngay tại địa phương, giảm bớt gánh nặng đường xa và thắp lên hy vọng cho nhiều cuộc đời cần được hồi sinh.
Cảm giác ngứa ngáy hay khó chịu ở mắt thường khiến nhiều người vô thức đưa tay lên dụi, song hành động này có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, tổn thương giác mạc và thậm chí dẫn đến các bệnh lý nghiêm trọng ảnh hưởng lâu dài đến thị lực, theo trang ScienceAlert ngày 28-5.
Theo các bác sĩ chuyên khoa mắt, nguyên nhân phổ biến nhất gây ngứa mắt là viêm kết mạc dị ứng, chiếm gần 50% các trường hợp.
Tình trạng này xảy ra khi các chất gây dị ứng như phấn hoa, bụi hoặc lông động vật kích hoạt phản ứng viêm ở kết mạc. Người bệnh thường xuất hiện các triệu chứng như đỏ mắt, sưng, ngứa dữ dội hoặc nổi các nốt nhỏ ở mặt trong mí mắt.
Ngoài dị ứng, cảm giác cộm, khô hoặc như có dị vật trong mắt cũng có thể khiến người bệnh muốn dụi mắt. Đây thường là dấu hiệu của hội chứng khô mắt hoặc viêm bờ mi.
Một số trường hợp khác liên quan đến viêm da vùng mí mắt, khiến da quanh mắt bị kích ứng và ngứa ngáy.
Các chuyên gia cho biết một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của việc dụi mắt thường xuyên là bệnh keratoconus (giác mạc hình chóp). Sự thay đổi này gây loạn thị không đều, làm giảm chất lượng thị lực và khiến hình ảnh trở nên mờ hoặc méo mó.
Hiện nay, bệnh có thể được điều trị bằng kỹ thuật liên kết chéo giác mạc nhằm tăng cường độ bền của mô giác mạc và ngăn bệnh tiến triển. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân vẫn cần sử dụng kính áp tròng chuyên biệt để nhìn rõ hơn, trong khi các trường hợp nặng có thể phải ghép giác mạc.
Dụi mắt mạnh còn có thể gây trầy xước giác mạc nếu móng tay vô tình chạm vào bề mặt mắt. Tình trạng này rất đau đớn và cần điều trị bằng thuốc kháng sinh để phòng ngừa nhiễm trùng.
Ngoài ra việc chà xát mắt cũng có thể làm vỡ các mạch máu nhỏ trên bề mặt nhãn cầu, gây xuất huyết kết mạc khiến mắt đỏ rực như bị bầm tím.
Các bác sĩ khuyến nghị thay vì dụi mắt, người bị ngứa hoặc kích ứng nên sử dụng nước mắt nhân tạo, chườm lạnh hoặc thuốc nhỏ mắt chống dị ứng phù hợp.
Việc hạn chế tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng và giữ vệ sinh tay sạch sẽ cũng giúp giảm nguy cơ viêm nhiễm. Nếu các triệu chứng kéo dài hoặc không cải thiện, người bệnh nên đến cơ sở chuyên khoa mắt để được thăm khám và điều trị kịp thời.
Vừa qua, phóng viên Dân trí nhận được thông tin từ gia đình bé gái tên B.N. (5 tuổi, ngụ tỉnh Đồng Tháp), cho biết bệnh nhi từng điều trị ung thư nguyên bào võng mạc 2 mắt ở Bệnh viện Ung bướu TPHCM, sau đó chuyển sang Bệnh viện Mắt TPHCM.
Bác sĩ Bệnh viện Mắt TPHCM đã hướng dẫn bệnh nhân sang một bệnh viện quốc tế để "hóa trị nội động mạch", với lý do các cơ sở y tế công lập khu vực phía Nam chưa triển khai kỹ thuật này. Tại bệnh viện quốc tế, kỹ thuật nêu trên có chi phí đắt đỏ, khiến gia đình bệnh nhi rất lo lắng vì hoàn cảnh kinh tế không cho phép.
Theo tìm hiểu, bệnh nhi B.N. trong thời gian điều trị ở Bệnh viện Ung bướu TPHCM được hưởng BHYT 100%, không có chỉ định hóa trị. Phía Bệnh viện Mắt TPHCM xác nhận, bác sĩ khoa Mắt Nhi của đơn vị đã giới thiệu bé sang một bệnh viện quốc tế, để có thể hóa trị nội động mạch điều trị ung thư nguyên bào võng mạc tối ưu.
Bác sĩ Huỳnh Hữu Danh, người trực tiếp thực hiện hóa trị nội động mạch cho bệnh nhi chia sẻ, sau 9 đợt điều trị với chi phí hàng trăm triệu đồng (được một tổ chức từ thiện tài trợ), bé gái giữ được một bên mắt, bên còn lại phải múc bỏ nhãn cầu vì tình trạng quá nặng.
Trao đổi với phóng viên bên lề hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện Ung bướu TPHCM diễn ra ngày 15/5, TS.BS Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc đơn vị cho biết, hóa trị nội động mạch là kỹ thuật truyền thuốc bằng đường động mạch, để thuốc tới trực tiếp khối u, thay vì truyền qua đường tĩnh mạch truyền thống.
Đây không phải kỹ thuật mới, nhưng là kỹ thuật khó. Trước đây, một bệnh viện tuyến cuối ở phía Nam đã từng ứng dụng kỹ thuật này cho các loại ung thư phần mềm, ung thư xương để khối bướu nhỏ lại, giúp hỗ trợ trong quá trình phẫu thuật.
Năm 2025 vừa qua, Bệnh viện Ung bướu TPHCM đã cử một ê-kíp sang Nhật Bản để tiếp cận và tập huấn ứng dụng hóa trị nội động mạch. Hiện tại, bệnh viện đang chuẩn bị các thủ tục để có thể sớm triển khai phương pháp này.
Với ung thư nguyên bào võng mạc, bác sĩ Tuấn chia sẻ, đây là loại ung thư ở mắt và việc điều trị cần sự phối hợp đa mô thức. Trong đó, chủ lực là phẫu thuật và xạ trị. Hóa trị chỉ dùng khi bệnh đã lan rộng, và hóa trị nội động mạch chỉ là một trong các phương thức hóa trị.
"Bệnh nhân ung thư nguyên bào võng mạc cần điều trị đa mô thức tùy theo giai đoạn, và các bệnh viện tuyến cuối đều có thể điều trị bệnh này. Nếu bệnh nhân đã mổ rồi thì nên tiếp tục xạ trị theo chỉ định của bác sĩ", TS.BS Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TPHCM nói.
Hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện Ung Bướu năm 2026 có chủ đề "Tiếp cận chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân ung thư trong thời đại mới".
Chương trình tập trung vào xu hướng phát triển mô hình chăm sóc toàn diện cho người bệnh ung thư ở bối cảnh y học hiện đại, với sự kết hợp đa chuyên khoa, cá thể hóa điều trị, phối hợp đông - tây y, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và ứng dụng các tiến bộ công nghệ khi thực hành lâm sàng.
Hội nghị có tổng cộng 10 phiên khoa học, bao gồm 2 phiên toàn thể và 8 phiên chuyên đề, với 47 bài báo cáo khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên sâu như: Tổng quát - Giải phẫu bệnh; Miễn dịch; Y học cổ truyền, Dinh dưỡng - Phục hồi chức năng; Xạ trị; Ngoại khoa; Tiêu hóa; Tuyến vú.
Các báo cáo tập trung cập nhật những tiến bộ điều trị đa mô thức, kỹ thuật chẩn đoán hiện đại, điều trị cá thể hóa, chăm sóc giảm nhẹ, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư.
Khoảng 17h40 ngày 25/4, khi chuẩn bị đến bệnh viện làm ca trực, BSCKI Lê Quang Huy (Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng) nghe tiếng hô hoán có người bất tỉnh tại sân pickleball đối diện nhà.
Tiếp cận hiện trường, bác sĩ Huy ghi nhận người đàn ông ngoài 50 tuổi đã mất ý thức, toàn thân tím tái, sùi bọt mép, mạch khó bắt và thở nhanh yếu. Nhận định nạn nhân bị ngưng tuần hoàn, bác sĩ lập tức khai thông đường thở và thực hiện hồi sinh tim phổi (CPR) bằng cách ép tim ngoài lồng ngực.
Sau hơn 5 phút ép tim liên tục, bệnh nhân bắt đầu có nhịp tim trở lại, mạch rõ hơn và dần hồi phục ý thức. Ngay sau đó, lực lượng cấp cứu 115 đã có mặt để chuyển người bệnh đến bệnh viện tiếp tục điều trị.
Ngày 26/4, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định và được xuất viện.
TS. BS Lê Đức Nhân, Giám đốc Bệnh viện Đà Nẵng, đánh giá đây là trường hợp điển hình cho thấy vai trò sống còn của sơ cứu ban đầu. "Trong cấp cứu ngưng tuần hoàn, từng phút đều có ý nghĩa quyết định. Nếu người bệnh được thực hiện hồi sinh tim phổi đúng kỹ thuật ngay tại hiện trường, cơ hội cứu sống sẽ tăng lên đáng kể", ông Nhân nói.
Lãnh đạo bệnh viện cho biết đơn vị thường xuyên tập huấn kỹ năng này cho nhân viên y tế và nỗ lực lan tỏa các kỹ năng sơ cấp cứu thiết yếu ra cộng đồng để ứng phó với các tình huống khẩn cấp tương tự.