Theo kiến nghị gửi Bộ Xây dựng, tuyến cao tốc có điểm đầu kết nối cao tốc Bến Lức – Long Thành tại xã Hưng Long, TP HCM; điểm cuối kết nối cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng tại khu vực TP Sóc Trăng trước đây.
Tuyến dự kiến đi qua TP HCM khoảng 1,7 km; Tây Ninh 28,5 km; Đồng Tháp 15,8 km; Vĩnh Long 79,1 km và Cần Thơ 24,9 km.
Theo nghiên cứu sơ bộ, lưu lượng phương tiện hiện nay trên hành lang tuyến đạt khoảng 6.791 xe/ngày đêm và có thể tăng lên khoảng 36.560 xe/ngày đêm vào năm 2050.
UBND tỉnh Vĩnh Long cho biết các địa phương liên quan cơ bản đã thống nhất phương án điều chỉnh cục bộ hướng tuyến sau quá trình nghiên cứu tổng thể nhằm lựa chọn phương án tối ưu về kỹ thuật, kinh tế và xã hội.
Nếu đầu tư hoàn chỉnh toàn tuyến với quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100 km/h, tổng mức đầu tư khoảng 70.188 tỷ đồng. Tuyến chủ yếu đi trên nền đường đắp, chỉ bố trí các đoạn trên cao tại khu vực vượt sông, địa hình phức tạp hoặc có công trình hiện hữu.
Trong trường hợp triển khai theo hình thức PPP, ngân sách nhà nước dự kiến vẫn phải tham gia khoảng 49.600 tỷ đồng để đảm bảo hiệu quả tài chính dự án, song có thể tiết kiệm khoảng 20.558 tỷ đồng so với đầu tư công toàn bộ.
Do khó khăn về nguồn lực, đơn vị nghiên cứu đề xuất phân kỳ đầu tư theo từng đoạn tuyến. Giai đoạn một dự kiến đầu tư khoảng 71 km cao tốc qua địa bàn Cần Thơ và Vĩnh Long. Phương án kết nối với cao tốc Bắc Nam phía Đông sẽ tận dụng, mở rộng một số tuyến hiện hữu như quốc lộ 57C, quốc lộ 54, quốc lộ 91B, quốc lộ 60 qua cầu Đại Ngãi, cầu Rạch Miễu 2 và tuyến nối nút giao Thân Cửu Nghĩa.
Giai đoạn hai sẽ đầu tư khoảng 79 km còn lại qua TP HCM, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ, phụ thuộc khả năng cân đối khoảng 41.990 tỷ đồng vốn đầu tư.
UBND tỉnh Vĩnh Long đề xuất điều chỉnh tiến độ đầu tư dự án sang giai đoạn 2026-2030 thay vì sau năm 2030 như quy hoạch hiện hành. Tỉnh cũng kiến nghị được giao làm cơ quan có thẩm quyền triển khai giai đoạn một theo hình thức PPP và đề xuất Trung ương bố trí khoảng 21.240 tỷ đồng vốn ngân sách tham gia dự án.
Tin Gốc: Vnexpress

Ông Hà Vĩ, Đại sứ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, nhấn mạnh như trên tại buổi họp báo trong khuôn khổ Diễn đàn Thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất, diễn ra ngày 24-6 tại TP.HCM. Diễn đàn có sự tham dự của đại diện nhiều bộ ngành Việt Nam và hàng trăm doanh nghiệp đến từ hai nước.
Phát biểu tại họp báo, Đại sứ Hà Vĩ cho biết năm 2025, kim ngạch thương mại song phương vượt 290 tỉ USD, trong đó nông sản đạt tăng trưởng nổi bật.
Đặc biệt, trong quý 1-2026, xuất khẩu nông sản và thực phẩm của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 37,4%, cao hơn 6 lần mức tăng trưởng xuất khẩu chung (5,9%). Việt Nam là nhà cung cấp rau quả lớn thứ hai của Trung Quốc, chiếm 22,55% thị phần. Năm 2025, xuất khẩu rau quả sang thị trường này đạt 5,5 tỉ USD.
Theo Đại sứ Hà Vĩ, hợp tác nông nghiệp giữa hai nước đang từng bước chuyển từ trao đổi thương mại nông sản đơn thuần sang phát triển chuỗi cung ứng toàn diện.
Hai bên đang chuyển hóa lợi thế địa lý thành lợi thế cạnh tranh trong vận tải xuyên biên giới, hình thành mạng lưới logistics đa phương thức với đường bộ giữ vai trò chủ đạo, kết hợp đường sắt, đường biển và hàng không.
Theo đại diện phía Trung Quốc, tại các cửa khẩu biên giới, cơ chế thông quan nhanh, "luồng xanh" dành cho nông sản cùng hệ thống kho lạnh hiện đại đã góp phần nâng cao hiệu quả vận chuyển và thông quan.
"Việc xây dựng hải quan thông minh và cửa khẩu thông minh giữa hai nước đã góp phần rút ngắn đáng kể thời gian xử lý thủ tục. Hiện thời gian thông quan giảm khoảng 30%, trong khi thời gian kiểm tra, kiểm dịch giảm 40% so với trước đây. Nhờ đó nhiều loại trái cây tươi của Việt Nam có thể được đưa tới siêu thị Trung Quốc ngay trong ngày hoặc chỉ sau một ngày vận chuyển".
Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam - ông Nguyễn Minh Vũ đánh giá dư địa hợp tác giữa hai nước vẫn còn rất lớn.
"Để khai thác hiệu quả tiềm năng này cần tập trung tăng chuyển từ giao thương đơn thuần sang xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng và tiêu thụ nông sản bền vững; đẩy nhanh quy trình, thủ tục mở cửa thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp hai nước cần tận dụng hiệu quả các nền tảng thương mại điện tử và kinh tế số để giảm chi phí trung gian".
Ông Nguyễn Đình Tùng, Phó chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng để khai thác hiệu quả, rất cần thêm nhiều giải pháp từ hai phía.
Cụ thể, ông Tùng đề nghị Tổng cục Hải quan Trung Quốc tăng cường năng lực kiểm tra trực tuyến đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã nộp hồ sơ hoặc xem xét có cơ chế phù hợp để thúc đẩy việc này thông qua các tổ chức giám định có uy tín. Thiết lập cơ chế ưu tiên trong hoạt động xuất nhập khẩu đối với những doanh nghiệp đã có vùng trồng chuẩn hóa, có lịch sử tuân thủ tốt.
"Phía Trung Quốc nên có cơ chế phân luồng, giảm tỉ lệ kiểm tra thực tế tại cửa ngõ để đảm bảo được độ tươi ngon nhất của nông sản Việt Nam khi đến tay người tiêu dùng. Và liên thông dữ liệu về kiểm soát vùng trồng, cơ sở đóng gói, xuất xứ... để hai nước nhanh chóng xây dựng và chia sẻ tổng thông tin dữ liệu chung".
Là doanh nghiệp chuyên xuất khẩu thanh long đi Trung Quốc, ông Võ Huy Hoàng, Giám đốc Công ty Hoàng Thọ (Lâm Đồng), cho rằng cái khó lớn nhất hiện nay là hầu hết hàng Việt được bán dưới dạng "ký gửi" khi sang thị trường Trung Quốc, nghĩa là đối tác Trung Quốc tiếp nhận hàng và chủ động hoàn toàn việc mua bán sau đó.
Tình trạng này dẫn đến doanh nghiệp Việt rất bị động, thường xuyên chịu cảnh "lời lỗ hên xui" do mọi khâu đều phụ thuộc vào tính chủ quan từ phía người mua.
Trong khi đó, Đại sứ Hà Vĩ cho biết thị trường Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến khả năng truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Đối với một số lô hàng chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, phía Trung Quốc đã phối hợp với Việt Nam để xác định nguyên nhân, đồng thời triển khai các biện pháp khắc phục. Một số nguyên nhân được chỉ ra gồm tập quán canh tác, chất lượng đất và nguồn nước, cũng như việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Tuyên bố chung Việt Nam - Sri Lanka về nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện

Tuổi Trẻ Online giới thiệu toàn văn "Tuyên bố chung Việt Nam - Sri Lanka về việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Sri Lanka từ ngày 7 đến 8-5-2026".
1. Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka từ ngày 7 đến 8-5-2026.
Ngày 8-5 tại Phủ Tổng thống, thủ đô Colombo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự Lễ đón trọng thể với 21 loạt đại bác chào mừng và Hội đàm với Tổng thống Sri Lanka. Hai nhà lãnh đạo cũng đồng chủ trì Gặp gỡ báo chí chung, dâng hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Thư viện Công cộng Colombo.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến và cùng Thủ tướng Harini Amarasuriya dự Lễ khai mạc Diễn đàn thương mại - đầu tư - du lịch Việt Nam - Sri Lanka tại Colombo; hội kiến Chủ tịch Quốc hội Jagath Wickramaratne và phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka.
2. Chuyến thăm tái khẳng định tình hữu nghị truyền thống và sự tin cậy hơn 55 năm qua được vun đắp dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, các giá trị và cam kết chung vì hòa bình, ổn định và phát triển.
Quan hệ song phương càng được thúc đẩy bởi khát vọng chung về hòa bình, độc lập, tự cường, bởi tầm nhìn chung về an ninh, thịnh vượng kinh tế, phát triển bền vững, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên hợp quốc.
3. Tại hội đàm, Tổng thống Dissanayake gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhân dịp đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện sự tin tưởng và tín nhiệm sâu sắc.
Tổng thống Dissanayake bày tỏ tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những thành tựu to lớn và phát triển bền vững hơn nữa.
Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi toàn diện và thực chất về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hài lòng trước sự phát triển của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước và chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác toàn diện.
Với việc nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác toàn diện, hai nhà lãnh đạo cam kết tiếp tục củng cố và tăng cường hợp tác hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực. Việc nâng cấp này cũng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
4. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường tiếp xúc, trao đổi cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh, trong đó có giao lưu nhân dân để làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có.
5. Hai bên cũng nhất trí về tầm quan trọng và nhu cầu thúc đẩy hợp tác giữa Cơ quan lập pháp hai nước thông qua trao đổi giữa các Ủy ban, nhất là giữa Nhóm nữ Đại biểu Quốc hội, Nhóm Đại biểu Quốc hội trẻ; thúc đẩy thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Sri Lanka.
6. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011; khuyến khích các hoạt động hợp tác thực chất hơn, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; nhất trí hợp tác trong các lĩnh vực như dịch vụ sửa chữa và mua sắm thiết bị quốc phòng; đẩy nhanh đàm phán, hướng tới ký kết các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng để tạo cơ sở hợp tác; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng.
7. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh và nhất trí triển khai hiệu quả cơ chế Đối thoại An ninh; rà soát, cập nhật Thỏa thuận hợp tác về đấu tranh, phòng chống tội phạm ký năm 2009; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, khủng bố, nhập cư bất hợp pháp; mở rộng hợp tác an ninh hàng hải, cảnh sát và an ninh mạng.
8. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa hai nước thông qua việc đàm phán và ký kết Bản ghi nhớ hợp tác mới giữa hai Bộ Tư pháp để thay thế Bản ghi nhớ ký năm 2013 đã hết hiệu lực.
9. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác thương mại và đầu tư song phương. Hai bên nhất trí nâng cao hiệu quả thực chất cơ chế Tiểu ban Thương mại hỗn hợp và thực hiện các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường hợp tác thương mại, bao gồm tạo thuận lợi về thương mại, trao đổi thông tin và thúc đẩy doanh nghiệp.
Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng to lớn của việc mở rộng hơn nữa hợp tác kinh tế và nhất trí đạt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 1 tỉ USD vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, phía Việt Nam ghi nhận mong muốn của Sri Lanka về việc sớm trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
10. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư giữa hai nước. Phía Việt Nam đánh giá cao đầu tư của Sri Lanka tại Việt Nam; phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn thu hút thêm đầu tư từ Việt Nam.
Hai bên sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hướng đến một số dự án mang tính biểu tượng trong các lĩnh vực như hạ tầng, viễn thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, bán lẻ, logistics, hạ tầng du lịch và năng lượng tái tạo.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa; thúc đẩy ký kết văn kiện hợp tác về chuyển đổi số; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển, cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin.
12. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến chia sẻ kiến thức và nâng cao năng lực.
Hai bên cũng nhất trí tích cực triển khai kế hoạch công tác giai đoạn 2024 - 2026 trên cơ sở Bản ghi nhớ năm 2009 về hợp tác phát triển nông nghiệp và chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.
13. Phía Sri Lanka đề nghị Việt Nam cung cấp phân bón phục vụ canh tác lúa gạo theo thỏa thuận cấp Chính phủ. Xét tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với cả hai nước và những thách thức hiện tại về nguồn cung, phía Việt Nam xem xét tích cực đề nghị này.
14. Ghi nhận mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tình hữu nghị lâu đời, các hoạt động giao lưu Phật giáo trải dài qua nhiều thế kỷ và bắt nguồn từ những giá trị chung cũng như di sản văn hóa phong phú, hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình giao lưu, quảng bá văn hóa, lịch sử và thể thao; tăng cường kết nối giữa các tổ chức Phật giáo; thúc đẩy đối thoại liên văn hóa và nghiên cứu tổ chức các diễn đàn, hoạt động hành hương và tiến tới đồng đăng cai các sự kiện Phật giáo khu vực và quốc tế.
15. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm triển khai hiệu quả các cơ chế song phương hiện có trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nhất trí hợp tác sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình giới thiệu về văn hóa, con người và lịch sử của hai nước.
16. Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác giáo dục, hai bên nhất trí khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu hai bên, triển khai việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh hai nước.
17. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những chuyển biến trong nỗ lực sớm đưa vào vận hành các đường bay thẳng giữa hai nước ngay trong năm nay, nhằm tăng cường kết nối, thúc đẩy hiệu quả hợp tác du lịch, thương mại và giao lưu nhân dân.
18. Sri Lanka và Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của thúc đẩy hợp tác giữa các Hội hữu nghị, Hội đoàn kết hai nước; nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, trong đó có giao lưu thanh niên, phụ nữ và mở rộng hơn nữa giao lưu nhân dân.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác khu vực và đa phương, đặc biệt là trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), coi đây là nền tảng quan trọng cho đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực chất về các vấn đề cùng quan tâm.
Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, bao gồm việc đồng chủ trì cuộc họp giữa kỳ của ARF về cứu trợ thiên tai gần đây và nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác trong quản lý thiên tai và hỗ trợ nhân đạo. Phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn trở thành Đối tác Đối thoại theo lĩnh vực của ASEAN và cảm ơn sự ủng hộ liên tục của Việt Nam về vấn đề này.
20. Sri Lanka và Việt Nam tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tự do hàng hải, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế ổn định và hòa bình.
21. Hai bên nhất trí ủng hộ chủ nghĩa đa phương với vai trò trung tâm của Liên hợp quốc; nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết (NAM), Hợp tác Nam - Nam, Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện Châu Á - Thái Bình Dương (APPF) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
22. Hai nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các thách thức toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu; nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động chung, đặc biệt là hỗ trợ các nước đang phát triển thông qua khả năng tiếp cận tài chính khí hậu và chuyển giao công nghệ.
Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong phòng chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng. Sri Lanka bày tỏ ủng hộ sáng kiến thành lập Trung tâm khu vực về chống tội phạm mạng của Văn phòng Liên hợp quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) tại Hà Nội.
23. Nhân chuyến thăm, hai nước đã ký một số văn kiện hợp tác về an ninh, khoa học và công nghệ, tôn giáo, văn hóa, thông tin và truyền thông.
24. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chân thành cảm ơn Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka về sự đón tiếp trọng thị, thân tình và nồng hậu dành cho đoàn trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Làm việc với ngành giáo dục và đào tạo sáng 15/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá sau 10 tháng triển khai Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, ngành đã có những chuyển biến tích cực về nhận thức, thể chế và công tác chuẩn bị chính sách.
Tuy nhiên, ông cho rằng những chuyển biến thực chất trong nhà trường, lớp học, đời sống và điều kiện làm việc của giáo viên, cũng như trải nghiệm học tập của học sinh, sinh viên chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu đột phá của Nghị quyết.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, thiếu giáo viên vẫn là điểm nghẽn lớn của ngành giáo dục. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học chưa đáp ứng yêu cầu; chi phí học tập, thi cử, tuyển sinh và học thêm còn tạo áp lực lớn đối với nhiều gia đình. Môi trường giáo dục cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về an toàn, văn hóa ứng xử và sức khỏe tâm lý.
Năm học 2026-2027 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết 71 trên diện rộng, vì vậy phải bảo đảm đủ trường lớp, sách giáo khoa, thiết bị dạy học tối thiểu và thực hiện nguyên tắc "ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mọi phương án sắp xếp mạng lưới trường học phải được đánh giá đầy đủ tác động đến khoảng cách đi học, sĩ số, chất lượng dạy học, giao thông và điều kiện làm việc của giáo viên; thực hiện thí điểm, tổng kết trước khi nhân rộng. "Kiên quyết không để học sinh nào vì hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường", ông nhấn mạnh.
Ông cũng yêu cầu các địa phương khi quy hoạch đô thị, khu dân cư mới phải đồng thời quy hoạch trường học và hạ tầng giáo dục phù hợp với quy mô dân số; tháo gỡ vướng mắc về quỹ đất và thủ tục đầu tư xây trường, nhất là tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, địa bàn tăng dân số cơ học và vùng khó khăn.
Đối với các xã biên giới, hệ thống trường phổ thông liên cấp nội trú cần được hoàn thành đúng tiến độ, đáp ứng đồng thời yêu cầu giáo dục, an sinh xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Các cơ quan nghiên cứu cơ chế khuyến khích sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, giáo viên giỏi ở đô thị luân chuyển công tác về nông thôn, vùng khó khăn và khu vực biên giới.
Không ép buộc, gợi ý hoặc gây áp lực để học sinh phải học thêm
Về chất lượng giáo dục, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu ngành giáo dục coi việc phòng chống bạo lực học đường, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên là nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2026-2027.
Các trường phải kiểm soát chi phí học tập, công khai các khoản thu chi, chấn chỉnh dạy thêm, học thêm và bệnh thành tích. Ông yêu cầu xử lý nghiêm tình trạng ép buộc, gợi ý hoặc gây áp lực để học sinh và phụ huynh phải tham gia học thêm.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, việc dạy thêm, học thêm cần được giải quyết từ gốc bằng cách nâng cao chất lượng giờ học chính khóa, giảm áp lực thi cử, minh bạch tuyển sinh, điều chỉnh chương trình phù hợp và cải thiện động lực làm việc của giáo viên.
Ông cũng đề nghị Chính phủ sớm có cơ chế chuyển đổi các trụ sở, công sở dôi dư thành cơ sở giáo dục và y tế, tránh lãng phí tài sản công trong khi nhiều nơi còn thiếu trường học và cơ sở khám chữa bệnh.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy "quản lý giáo dục" sang "quản trị phát triển giáo dục"; xây dựng hệ thống dữ liệu giáo dục thống nhất để sớm nhận diện tình trạng thiếu giáo viên, thiếu phòng học, trường quá tải, học sinh có nguy cơ bỏ học và những bất cập trong sử dụng ngân sách.
Giáo dục phải đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần giữ vai trò thống nhất về chuyên môn, tiêu chuẩn và chất lượng, đồng thời tăng quyền chủ động cho nhà trường, hiệu trưởng và giáo viên gắn với trách nhiệm giải trình.
Đối với giáo dục đại học, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ theo hướng xây dựng các đại học tinh hoa, trung tâm xuất sắc; đẩy mạnh tự chủ đi đôi với kiểm định chất lượng và trách nhiệm giải trình. Việt Nam sẽ đầu tư có chọn lọc cho một số đại học, viện nghiên cứu, trung tâm xuất sắc và phòng thí nghiệm trọng điểm trên cơ sở cạnh tranh về kết quả và hiệu quả hoạt động.
Ông giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng bộ chỉ số theo dõi công bằng giáo dục giữa các vùng, các nhóm dân cư và nhóm yếu thế. Chính sách phải theo nguyên tắc nơi nào khó khăn hơn được hỗ trợ nhiều hơn, giáo viên công tác ở địa bàn khó khăn hơn phải được đãi ngộ tốt hơn.
"Mọi chính sách giáo dục phải được đo bằng sự tiến bộ, hạnh phúc và tương lai của người học", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Tin Gốc: Vnexpress

