Theo quy định mới ban hành, lần đầu tiên Bộ GD&ĐT đưa yêu cầu về năng lực số và năng lực ngoại ngữ vào tiêu chuẩn đánh giá. Theo đó, giáo viên mầm non không chỉ đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo yêu cầu vị trí việc làm.
Thông tư quy định rõ hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp theo 3 hạng chức danh (hạng III, II, I), được thiết kế theo hướng phân hóa năng lực và vai trò. Giáo viên ở hạng cao hơn có vai trò dẫn dắt, hỗ trợ đồng nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tài liệu và lan tỏa các mô hình giáo dục.
Khả năng cá nhân hóa hoạt động giáo dục, vận dụng phương pháp tiên tiến và tham gia phát triển chuyên môn cũng là những yếu tố để đánh giá, xếp hạng giáo viên.
Về trình độ đào tạo, giáo viên mầm non hạng III và II phải có bằng cao đẳng sư phạm trở lên, trong khi hạng I yêu cầu tối thiểu trình độ cử nhân. Tất cả các hạng đều phải có chứng chỉ bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non.
Theo Bộ GDĐT, việc bổ sung các năng lực mới như năng lực số, ngoại ngữ và tự học, phát triển nghề nghiệp được xem là bước tiến nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập trong giáo dục mầm non, đồng thời cụ thể hóa các quy định của Luật Nhà giáo.
Thông tư quy định việc đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn mới sẽ là căn cứ quan trọng trong tuyển dụng, sử dụng và đào tạo giáo viên mầm non.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, việc đánh giá giáo viên mầm non vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành đến hết năm học 2025-2026. Các chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp được cấp trước ngày 31/12/2026 được công nhận tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng theo chuẩn mới.
Thông tư cũng quy định rõ, giáo viên đã được tuyển dụng trước thời điểm văn bản có hiệu lực nếu chưa có chứng chỉ theo chuẩn mới, thời hạn hoàn thiện là 12 tháng kể từ khi chương trình bồi dưỡng chính thức được triển khai.
Tin Gốc: Dân Trí
Giáo Dục
Nghi vấn đề tiếng Hàn TOPIK rò rỉ trước giờ thi, giá bán hơn trăm triệu

Theo tin độc quyền từ tờ The Korea Herald, chỉ cần gõ từ khóa "TOPIK" trên mạng xã hội Xiaohongshu của Trung Quốc, người dùng có thể lập tức truy cập hàng loạt bài đăng quảng cáo các dịch vụ thi cử "đi chung nhóm", "đảm bảo điểm số", "đậu ngay lập tức" được đăng tải công khai bởi những tài khoản Trung Quốc.
Thực chất, đây là những từ lóng chỉ các dịch vụ gian lận như thi hộ, cung cấp đề thi và đáp án trước ngày thi, hỗ trợ trực tiếp 1:1 trong lúc làm bài thi thông qua tai nghe siêu nhỏ. Môi giới Trung Quốc còn nhấn mạnh, đề và đáp án có thể được gửi trước 6, 8 và 12 giờ với "tỷ lệ trúng" lên tới 90%. Trong khi đó, nếu chọn gói hỗ trợ 1:1, người mua sẽ được cung cấp khóa huấn luyện cách dùng tai nghe siêu nhỏ - được quảng cáo là có kích thước chỉ 1mm.
Những người này cũng cam kết hoàn tiền nếu dịch vụ gian lận không đạt kết quả như mong đợi. Theo đó, khách hàng đăng ký dịch vụ hỗ trợ 1:1 qua tai nghe phải trả 20.000 nhân dân tệ (77 triệu đồng), còn muốn mua đề và đáp án trước giờ thi thì cần chi 25.000-35.000 nhân dân tệ (96-135 triệu đồng) tùy thời điểm muốn nhận là trễ hay sớm. Người môi giới bật mí thêm rằng các câu hỏi được lấy từ một nhân viên tại điểm thi tổ chức ở Hàn Quốc.
Một số bài đăng khác cũng trên Xiaohongshu lại thông tin rằng một số thí sinh thi múi giờ sớm hơn như ở châu Âu đã cố nhớ đề và bán cho môi giới, sau đó môi giới tổng hợp lại và bán cho thí sinh các khu vực thi muộn hơn. Điều này phản ánh một đường dây gian lận bài bản và có tổ chức.
Kể với tờ The Korea Herald, một thí sinh dự thi TOPIK được tổ chức lần thứ 105 khẳng định một số đáp án do môi giới đăng trên Xiaohongshu trùng khớp với đề thi thực tế. Trong khi đó một sinh viên ở Hàn Quốc kể rằng, các bạn học người Trung Quốc nói họ đã nhận được đáp án phần đọc, nghe trước khi thi và chỉ cần học thuộc.
Trước đó, tờ Chosun đưa tin trong kỳ thi TOPIK lần thứ 105 tổ chức ngày 12.4, cán bộ coi thi tại một điểm thi TOPIK ở Hàn Quốc đã bắt quả tang một du học sinh người Trung Quốc đang xem tờ giấy được cho là chứa đáp án. Giám thị đã lập tức hủy tư cách dự thi của người này và chuyển vụ việc cho cảnh sát. Hiện, vụ việc vẫn đang được tiến hành điều tra để xác định các đối tượng liên quan.
Chính phủ Hàn Quốc nhận định ngoài trường hợp bị bắt quả tang nêu trên, có thể còn nhiều thí sinh khác đã thuộc lòng đáp án bị rò rỉ để làm bài. Trên thực tế, chỉ vài giờ trước khi kỳ thi TOPIK diễn ra tại Trung Quốc ngày 12.4, một tài liệu được cho là đáp án TOPIK đã lan truyền trên Xiaohongshu và gây tranh cãi trong cộng đồng người nước ngoài.
TOPIK được tổ chức bởi Viện Giáo dục quốc tế quốc gia Hàn Quốc (NIIED) thuộc Bộ Giáo dục Hàn Quốc) và kết quả bài thi này được các ĐH Hàn Quốc sử dụng trong tuyển sinh, xét tốt nghiệp. Theo giới chức giáo dục, tính đến tháng 9.2025, kỳ thi được tổ chức ở 17 quốc gia, trong đó có Việt Nam, với khoảng 550.000 thí sinh tham dự. Số thí sinh cũng tăng đều qua các năm, khi vào năm 2022 chỉ thu hút khoảng 360.000 lượt tham dự.
NIIED cho biết cơ quan này nhận thức được tình trạng gian lận và đang nỗ lực đa dạng hóa đề thi cũng như điều chỉnh lịch thi. Hiện, NIIED đang tổ chức hai mã đề chính là Form A và Form B.
"Chúng tôi biết điều gì đang diễn ra trên mạng xã hội", một quan chức tại Trung tâm TOPIK của NIIED nói, cho biết thêm việc tăng quy mô thí sinh và cơ sở chấp nhận TOPIK đã dẫn tới việc "gia tăng các hành vi gian lận". "Chúng tôi đang áp dụng nhiều biện pháp ứng phó khác nhau nhưng thực tế là không thể ngăn chặn 100%", người này thừa nhận.
NIIED và Bộ Giáo dục Hàn Quốc cùng nhấn mạnh, để chặn tận gốc tình trạng rò rỉ đề nhờ lợi dụng chênh lệch múi giờ giữa các quốc gia, cả hai cơ quan sẽ triển khai nhiều biện pháp tăng cường tính công bằng, trong đó có việc đảm bảo đề thi giữa các châu lục sẽ không còn giống nhau.
Các biện pháp này dự kiến áp dụng ngay từ đợt thi tháng 7 sắp tới.
Ở Việt Nam, IIG Việt Nam là đại diện quốc gia đã được NIIED ủy quyền triển khai bài thi TOPIK kể từ đầu năm 2023, với nhiều điểm thi trên cả nước. Từ năm nay, TOPIK cũng lần đầu tiên được Bộ GD-ĐT cho phép sử dụng để miễn thi môn ngoại ngữ, là một trong số 22 chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế được công nhận bên cạnh tiếng Anh, tiếng Trung... và cũng là chứng chỉ tiếng Hàn duy nhất.
Để được miễn thi, Bộ GD-ĐT yêu cầu thí sinh đạt ít nhất cấp độ 3 (TOPIK 3), tương đương mốc B1 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam - cũng là chuẩn đầu ra ngoại ngữ trình độ THPT. Trong khi đó, cấp độ tối đa của TOPIK ở thời điểm hiện tại là 6.
Gần 116.000 người Việt du học Hàn Quốc tính đến tháng 1.2026 và người Việt là nhóm du học sinh đông nhất trong số khoảng 305.000 sinh viên quốc tế tại nước này, theo dữ liệu từ Bộ Tư pháp Hàn Quốc. Trong khi đó, dữ liệu từ Bộ Giáo dục Hàn Quốc nhiều năm qua đều chỉ ra rằng người Việt du học đông nhất ở các chương trình học tiếng, sau đó là hệ cử nhân. Thực tế này cho thấy nhu cầu thi TOPIK của người Việt ở mức đáng kể, cả ở Việt Nam và Hàn Quốc.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cuối tuần trước, Hà Nội phê duyệt đề án phát triển theo hướng tiệm cận "chuẩn quốc tế" với hai trường THPT chuyên Chu Văn An và Hà Nội - Amsterdam, ngay lập tức gây bàn luận trên các diễn đàn.
TS Nguyễn Quang Minh, chuyên gia giáo dục quốc tế và là Giám định viên Hội đồng các trường Quốc tế (CIS), cho rằng đây là hướng đi cần thiết.
Ông đánh giá đề án của hai trường có sự học hỏi từ các mô hình đào tạo tài năng ở Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Anh, song không sao chép máy móc mà vẫn giữ "tinh thần trường công" với ngân sách nhà nước làm nền tảng.
Các mục tiêu như tăng cường nghiên cứu khoa học, trí tuệ nhân tạo, học tập dự án và hội nhập học thuật quốc tế là phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.
Chuyên gia cũng đánh giá cao việc sử dụng khái niệm "tiệm cận quốc tế", thay vì ngay lập tức khẳng định sẽ trở thành một "trường chuẩn quốc tế".
"Đây là cách tiếp cận thận trọng và thực tế, bởi giáo dục quốc tế không chỉ là câu chuyện chương trình hay chứng chỉ, mà là cả một hệ sinh thái học thuật, văn hóa và quản trị cần thời gian dài để hình thành", ông Minh nói.
Điểm gây tranh luận nhất nằm ở tiêu chí cụ thể của trường chuyên Chu Văn An. Trường này đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 có ít nhất 150 học sinh trúng tuyển đại học tại Anh, Mỹ, Australia và 80 em nhận học bổng quốc tế. Trường cũng tổ chức các hoạt động để hỗ trợ học sinh làm quen, chuẩn bị cho các kỳ thi, chương trình chuẩn hóa quốc tế như SAT, ACT, AP, IB... - vốn được nhiều đại học trên thế giới dùng như một tiêu chí xét tuyển đầu vào.
Theo ông Quang Minh, một ngôi trường xuất chúng không phải là nơi "dạy học sinh vào Harvard", mà là nuôi dưỡng học sinh có nền tảng tư duy, năng lực nghiên cứu, khả năng tự học và thích nghi, để các em có đủ năng lực "vào Harvard".
Lãnh đạo một trường THPT chuyên ở phía Nam nhìn nhận rằng việc du học, thi chứng chỉ SAT, AP... nên là kế hoạch của học sinh và gia đình, không nên là mục tiêu của trường chuyên.
Ông dẫn lại nhiệm vụ của trường chuyên được đề cập trong Luật Giáo dục, đó là phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trong các môn học, tạo nguồn nhân tài cho đất nước.
"Học sinh trường chuyên đi du học không phải là điều xấu nhưng không nên dùng nguồn lực nhà nước để thúc đẩy điều đó", ông nói.
Bởi dù còn hạn chế, trường chuyên đã và đang được ưu tiên hơn về ngân sách, đội ngũ giáo viên giỏi và những chính sách khác trong hệ thống giáo dục công lập nói chung.
"Việc phân bổ thêm ngân sách để tạo bệ phóng "tiếp cận quốc tế" cho một bộ phận nhỏ vốn đã được đầu tư nhiều hơn là thiếu công bằng cho số đông".
PGS. TS quản lý giáo dục Trương Đình Thăng, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị, cũng cảnh báo các mục tiêu "quốc tế hóa" có thể trở thành một cuộc đua thành tích, xem trường nào có nhiều học sinh đạt chứng chỉ, nghiên cứu khoa học... hơn. Khi đó, mô hình mới rất dễ lại đặt trọng tâm vào luyện thi, tăng áp lực cho học trò.
Ở chiều ngược lại, ông Đàm Quang Minh, Đồng chủ tịch khối Phổ thông, Tập đoàn giáo dục EQuest, thấy rằng cần đặt những tiêu chí về du học, chứng chỉ trong tổng thể định hướng hội nhập quốc tế của trường chuyên Chu Văn An.
Theo ông, đề án này theo đuổi mô hình tương tự một số trường công ở Singapore, khi triển khai các chương trình như tú tài quốc tế IB để học sinh tiếp cận chuẩn đầu ra toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam hiện chưa có đại học nào vào top 200 thế giới, nên học sinh "chỉ có lựa chọn du học" nếu muốn vào các trường như vậy.
Ông Minh cũng đánh giá cao việc đề án nhấn mạnh hỗ trợ học bổng cho học sinh khó khăn, để các em được tiếp cận chương trình quốc tế.
"Làm được điều này, các chương trình như IB sẽ không còn là đặc quyền của những gia đình giàu có", ông nói.
Dù có góc nhìn khác nhau, các chuyên gia đều cho rằng hai trường nên thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về chương trình, đội ngũ và tăng cường hợp tác quốc tế.
TS Nguyễn Quang Minh thấy cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực học thuật và nghiên cứu thực chất, bổ sung các chỉ số về sức khỏe tinh thần để bảo vệ học sinh, giúp các em phát triển toàn diện.
Đây cũng là quan điểm của PGS Trương Đình Thăng. Ông lưu ý các trường cân bằng giữa học thuật đỉnh cao và sức khỏe tinh thần của học sinh, hội nhập quốc tế và trách nhiệm đất nước, đào tạo cá nhân xuất sắc và xây dựng tinh thần phụng sự cộng đồng.
Các chuyên gia kỳ vọng hai đề án không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo của trường chuyên công lập, mà còn mở thêm cơ hội để học sinh Việt Nam tiếp cận môi trường học thuật và chuẩn đầu ra quốc tế ngay trong nước.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Cuộc thi nghiên cứu KHKT quốc gia: Biến dạng bản chất do 'hành chính hóa'

Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề về tính trung thực và liêm chính khoa học cần có giải pháp hiệu quả.
Trước năm 2012, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật (KHKT) của học sinh (HS) phổ thông ở VN chủ yếu mang tính phong trào, tự phát, thiếu chuẩn mực khoa học và chưa gắn với chương trình học chính khóa.
Giai đoạn 2009 - 2012, Bộ GD-ĐT bắt đầu tiếp cận mô hình Intel International Science and Engineering Fair (ISEF) thông qua các hội thảo tại Hà Nội và TP.HCM, đồng thời cử HS tham dự với tư cách dự thi độc lập. Bước ngoặt xuất hiện từ năm học 2012 - 2013 khi cuộc thi nghiên cứu KHKT cấp quốc gia chính thức được tổ chức theo mô hình này. Đây không chỉ là sự tiếp thu kỹ thuật tổ chức mà còn là bước đi chiến lược, giúp HS VN tiếp cận sớm với chuẩn mực nghiên cứu quốc tế.
Từ đó, cuộc thi từng bước hoàn thiện với hệ thống lĩnh vực đa dạng, quy trình tuyển chọn 3 cấp (trường, tỉnh, quốc gia) và cơ chế hướng dẫn bài bản.
Từ năm 2022 đến nay, trong bối cảnh triển khai Chương trình GDPT 2018, cuộc thi KHKT ngày càng gắn chặt với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Hoạt động nghiên cứu KHKT trở thành một phương thức học tập, thông qua các dự án học tập (project-based learning).
Do đó, cuộc thi có những giá trị không thể phủ nhận như đã góp phần hình thành văn hóa nghiên cứu trong trường phổ thông - điều vốn thiếu trước đây; tạo ra một sân chơi học thuật có tính hội nhập; góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và là kênh phát hiện, bồi dưỡng HS có năng khiếu nghiên cứu. Không ít HS trưởng thành từ cuộc thi đã tiếp tục theo đuổi con đường KHKT, trở thành nguồn nhân lực tiềm năng cho tương lai.
Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề bất cập. Trước hết là sự chênh lệch vùng miền. Các trường ở đô thị với cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tốt có lợi thế rõ rệt, trong khi HS nông thôn, miền núi thiếu thiết bị, thiếu người hướng dẫn và môi trường nghiên cứu. Khoảng cách này ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng của cuộc thi.
Một vấn đề đáng lo ngại khác là hiện tượng làm thay. Không ít đề tài vượt quá khả năng thực tế của HS. Khi giáo viên, phụ huynh hoặc chuyên gia can thiệp quá sâu, ý nghĩa giáo dục bị bóp méo: HS không học cách nghiên cứu mà chỉ trình diễn sản phẩm.
Bên cạnh đó, nhiều đề tài thiếu tính mới, trùng lặp hoặc chạy theo xu hướng to tát để đoạt giải, làm suy giảm tính sáng tạo. Áp lực thành tích cũng khiến cuộc thi ở một số nơi trở thành cuộc đua danh hiệu. Trong khi đó, quy chế đã quy định rõ về liêm chính học thuật. Do vậy vấn đề không nằm ở quy định mà ở việc thực thi và xây dựng văn hóa trung thực. Những trường hợp bị thu hồi giải gần đây cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về sự minh bạch và kiên trì với liêm chính khoa học.
Trước nhiều lùm xùm của cuộc thi nghiên cứu KHKT quốc gia, có ý kiến cho rằng nên bỏ cuộc thi này. Tuy vậy, vấn đề không phải là bỏ hay giữ mà là làm thế nào để trả lại đúng bản chất của nó.
Để làm được điều này, cần tách cuộc thi khỏi áp lực thi đua hành chính. Khi giải thưởng không còn là chỉ tiêu thì động cơ tham gia sẽ trở nên trong sáng hơn. Kế đến, cần chuyển trọng tâm từ sản phẩm sang quá trình. Một dự án chưa hoàn chỉnh nhưng trung thực có giá trị hơn một sản phẩm hoàn hảo nhưng giả tạo.
Cần siết chặt cơ chế kiểm chứng: bắt buộc nhật ký nghiên cứu, yêu cầu cung cấp dữ liệu thô, tăng cường phỏng vấn trực tiếp, mời chuyên gia độc lập phản biện đề tài... Ngoài ra, cũng cần minh bạch hóa vai trò của người hướng dẫn. Giáo viên và chuyên gia chỉ nên đóng vai trò định hướng, không làm thay. Mức độ hỗ trợ cần được quy định rõ ràng, và sự tham gia của các bên liên quan phải được công khai.
Cuối cùng là xây dựng văn hóa liêm chính khoa học trong nhà trường. Khi HS hiểu rằng trung thực quan trọng hơn giải thưởng, thì cuộc thi sẽ tự điều chỉnh lành mạnh.
Cuộc thi không chỉ là sân chơi mà là tấm gương phản chiếu cách chúng ta hiểu giáo dục. Nếu vẫn thi để lấy giải thì mô hình tiên tiến cũng khó hiệu quả. Ngược lại, nếu nuôi dưỡng tinh thần khoa học - trung thực là nền tảng, sáng tạo là mục tiêu - cuộc thi có thể trở thành điểm sáng. Vấn đề cốt lõi không phải HS có gian lận hay không, mà là môi trường đã đủ tốt để không có gian lận.
Trong giáo dục, bất kỳ mô hình nào nếu mất đi niềm tin xã hội đều khó tồn tại lâu dài. Nhưng điều đáng nói là những vụ việc bị phát hiện và xử lý cũng cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh.
Một hệ thống không có sai phạm không phải là hệ thống tốt. Một hệ thống biết phát hiện và sửa sai mới là hệ thống có khả năng phát triển.
Cuộc thi KHKT dành cho HS trung học tại Mỹ, tiêu biểu là Regeneron International Science and Engineering Fair (ISEF), ra đời năm 1950 trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh giáo dục khoa học sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Từ quy mô phong trào, ISEF nhanh chóng phát triển thành sự kiện KHKT lớn nhất thế giới dành cho HS. Sau hơn 70 năm, ISEF trở thành biểu tượng của văn hóa khoa học thế giới.
Tại VN, cuộc thi KHKT cấp quốc gia (ViSEF) được Bộ GD-ĐT triển khai từ năm 2012 dựa trên mô hình ISEF. Từ thí điểm ban đầu, cuộc thi nhanh chóng mở rộng toàn quốc, trở thành sân chơi thường niên và kênh tuyển chọn HS dự thi quốc tế. Như vậy, cùng một mô hình nhưng tại VN lại vấp tranh cãi gian lận, thu hồi giải, niềm tin suy giảm.
Bản thân cuộc thi ViSEF không có lỗi. Tinh thần cốt lõi của các sân chơi này là tạo cơ hội để HS học cách làm khoa học - đặt câu hỏi, hình thành giả thuyết, tiến hành thử nghiệm, phân tích dữ liệu và bảo vệ kết quả của mình trước phản biện. Do đó, cuộc thi không phải là cuộc trình diễn sản phẩm mà là quá trình học tập thông qua nghiên cứu. VN đưa mô hình này vào giáo dục là bước đi đúng. Nhưng giáo dục không phải là câu chuyện của mô hình mà là môi trường học tập và trung thực.
Ở Mỹ, HS tham gia thi phần lớn xuất phát từ đam mê hoặc định hướng nghề nghiệp. Các cuộc thi như ISEF là nơi để các em thử sức, cọ xát, và nếu có thành tích, đó là kết quả tự nhiên của quá trình nghiêm túc. Trong khi đó, tại VN, cuộc thi nhanh chóng được gắn vào hệ thống thi đua. Thành tích của HS không còn là chuyện cá nhân mà trở thành của nhà trường, địa phương, thậm chí liên quan đến đánh giá giáo viên. Khi đó, áp lực không còn nằm ở việc HS học được gì, mà là phải có giải. Và khi có giải trở thành mục tiêu thì mọi phương tiện đều có nguy cơ được biện minh.
Chính sự hành chính hóa này đã làm biến dạng bản chất của cuộc thi. Một sân chơi học thuật bị kéo về logic của phong trào: thi để đạt chỉ tiêu, để đạt thành tích.

