Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp Gia Lách mở rộng tại xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư tháng 11/2024. Dự án do Công ty CP Đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long làm chủ đầu tư với quy mô diện tích 194,36 ha, tổng vốn trên 2.265 tỷ đồng.
Theo quy hoạch, dự án sẽ có 7,97% đất công trình dịch vụ; 66,9% đất công trình sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, kho; 25,95% đất hạ tầng giao thông, cây xanh.
Ngay sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, BQL khu kinh tế tỉnh, chính quyền xã Nghi Xuân đã phối hợp chặt chẽ với nhà đầu tư triển khai công tác giải phóng mặt bằng cho dự án.
Đến nay, tổng diện tích đất thu hồi, phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án là 185,78/194,36 ha, đạt hơn 95%; thực hiện giao đất đạt 108,86 ha (khoảng 56%).
Ngoài ra, các phần việc khác như di dời mộ, đường điện, kiểm đếm khối lượng tài sản trên đất đối với các trang trại đang được triển khai, đạt kết quả cao.
Về tiến độ triển khai thi công hạ tầng kỹ thuật, các tuyến đường phạm vi phía bắc tuyến ĐH.17 đã thông toàn bộ tuyến. Các tuyến đường nội bộ đã kết nối được với các tuyến đường đã có của KCN Gia Lách (giai đoạn trước).
Hiện nay, chủ đầu tư đang tổ chức thi công theo quy mô bài bản với 2 mũi triển khai song song, duy trì thường xuyên lực lượng từ 50–60 công nhân. Cùng đó, nhiều máy móc, thiết bị chuyên dụng như: máy đào, máy ủi, xe lu, xe ben… được huy động tối đa, tạo thành dây chuyền thi công khép kín, đảm bảo các hạng mục được triển khai đồng thời, liên tục.
Các mũi thi công đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều hạng mục hạ tầng quan trọng, từ nhà điều hành, hệ thống giao thông nội bộ đến hệ thống thoát nước, cống kỹ thuật. Việc tổ chức thi công theo hình thức cuốn chiếu, hoàn thiện đến đâu nghiệm thu đến đó không chỉ giúp rút ngắn thời gian mà còn đảm bảo tính kết nối đồng bộ giữa các hạng mục.
Đại diện chủ đầu tư phấn đấu ngay trong năm 2026 hoàn thiện khoảng 97ha về hạ tầng để có thể kêu gọi nhà đầu tư thứ cấp vào sản xuất, kinh doanh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm cho người lao động tỉnh nhà.
Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn những khó khăn, đặc biệt là nguồn vật liệu san lấp chưa đáp ứng nhu cầu. Hiện doanh nghiệp mới tiếp cận được một mỏ đất, chỉ đủ khoảng 1/3 khối lượng cần thiết. Đây là “nút thắt” cần sớm tháo gỡ để đảm bảo tiến độ chung của dự án.
Ngày 6/5, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Duy Lâm và đoàn công tác đi kiểm tra tình hình thực hiện, triển khai dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp Gia Lách mở rộng tại xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Qua kiểm tra thực tế và nghe các đơn vị liên quan báo cáo tình hình triển khai dự án, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương tập trung trong công tác giải phóng mặt bằng, nhằm đảm bảo tiến độ theo kế hoạch. Còn về chủ đầu tư cần tăng tốc thi công, sớm hoàn thiện hạ tầng dự án, đảm bảo tiến độ, an toàn, vệ sinh môi trường.
Nghị định 72 ngày 9.3.2026 của Chính phủ về điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu xuống mức 0% tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023, thời gian áp dụng đến hết ngày 30.4 năm nay.
Theo đánh giá của Bộ Công thương, ngay sau khi được ban hành, Nghị định 72 đã phát huy hiệu quả thiết thực, trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn cung và giảm thiểu các tác động tiêu cực từ biến động giá năng lượng toàn cầu.
Đặc biệt, trong bối cảnh xung đột tại khu vực Trung Đông gây đứt gãy chuỗi cung ứng từ các thị trường truyền thống (như Hàn Quốc và ASEAN), chính sách thuế 0% đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn hàng thay thế có xuất xứ ngoài khu vực ASEAN và Hàn Quốc góp phần quan trọng vào việc đảm bảo cung ứng cho thị trường nội địa.
Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, xung đột quân sự tại Trung Đông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, nguồn cung vẫn hạn hẹp, giá xăng dầu thế giới vẫn tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, thời gian áp dụng Nghị định 72 sẽ kết thúc vào ngày 30.4 tới, trong bối cảnh các doanh nghiệp đã phải đàm phán cho các lô hàng tháng 4, tháng 5, tháng 6.
Do vậy, điều này (mốc thời gian 30.4 của Nghị định 72 - PV) gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc chủ động xây dựng kế hoạch nhập khẩu, ký kết hợp đồng và tổ chức sản xuất kinh doanh một cách liên tục, hiệu quả, ổn định trong trung và dài hạn trong bối cảnh xung đột, chiến tranh trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp.
Từ đó, Bộ Tài chính xây dựng dự thảo nghị quyết của Chính phủ về việc kéo dài thời hạn áp dụng của Nghị định số 72, áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng nguyên liệu sản xuất xăng, dầu đến hết ngày 30.6.2026. Điều này nhằm góp phần ổn định thị trường xăng, dầu, đảm bảo an ninh năng lượng trong nước trước bối cảnh tình hình thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Đồng thời, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế; đảm bảo tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của pháp luật.
Bộ Tài chính đề xuất quy định trên có hiệu lực kể từ ngày ký đến ngày 30.6. 2026. Sau ngày Nghị quyết này hết hiệu lực, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu quy định tại Nghị quyết này và Nghị định số 72 thực hiện theo quy định tại Nghị định 26/2023.
Đồng thời, Moody's giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm cơ sở (Baseline Credit Assessment - BCA) của MB ở mức ba3, phản ánh đánh giá tích cực đối với năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động cũng như triển vọng tăng trưởng bền vững của ngân hàng.
Theo Moody's, quyết định nâng hạng đối với MB được hỗ trợ bởi khả năng sinh lời duy trì ở mức cao so với nhiều ngân hàng cùng quy mô, cùng với nền tảng huy động vốn ngày càng được củng cố. Tính đến cuối năm 2025, thị phần tiền gửi của MB đã tăng lên khoảng 5% toàn hệ thống, so với khoảng 3% vào năm 2021.
Moody's đồng thời đánh giá mức độ hỗ trợ từ Chính phủ Việt Nam đối với MB đã tăng từ "Trung bình" lên "Cao", phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của ngân hàng trong hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, cơ cấu cổ đông có liên hệ chặt chẽ với Nhà nước tiếp tục là một trong những yếu tố củng cố hồ sơ tín nhiệm của MB, với tỷ lệ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước tại ngân hàng đạt khoảng 48% vào cuối năm 2025.
Việc được Moody's nâng hạng lên Ba2 có ý nghĩa quan trọng đối với MB trong việc củng cố niềm tin của khách hàng, nhà đầu tư và các đối tác quốc tế, đồng thời tạo thêm dư địa thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực huy động vốn trên thị trường quốc tế và tiếp tục duy trì vị thế trong nhóm các ngân hàng hoạt động hiệu quả hàng đầu Việt Nam.
Kết thúc Quý I/2026, MB ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực với quy mô tổng tài sản hợp nhất vượt 1,61 triệu tỷ đồng. Đồng thời, MB luôn giữ vững định hướng quản trị rủi ro thận trọng, kỷ luật với việc duy trì các chỉ số an toàn hoạt động ở mức cao.
Khó khăn giảm phát thải với ngành xi măng là chia sẻ được ông Lương Đức Long, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nêu tại hội thảo "Vật liệu xây dựng xanh - xu thế phát triển bền vững", do Báo Xây dựng tổ chức chiều 5.5.
Theo ông Long, đầu năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026. Riêng ngành xi măng, có 51 doanh nghiệp sản xuất được giao hạn mức phát thải, dự kiến đến năm 2026 sẽ mở rộng lên hơn 60 doanh nghiệp.
Theo kế hoạch, đến năm 2027, toàn ngành xi măng được phân bổ tổng lượng phát thải khoảng 2,6 triệu tấn CO₂. Căn cứ theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng Ozone, giai đoạn thí điểm sẽ kéo dài đến hết năm 2028, sau đó hình thành thị trường carbon trong nước và bắt đầu phân bổ, giao dịch tín chỉ carbon từ năm 2029.
Tuy nhiên, theo ông Long, việc thực hiện các mục tiêu giảm phát thải còn gặp nhiều thách thức. Mặc dù đã phân bổ chỉ tiêu phát thải cho từng doanh nghiệp, nhưng khả năng cắt giảm trong thực tế còn hạn chế do ràng buộc về công nghệ.
Ví dụ, trong sản xuất clinker, công đoạn phát thải lớn nhất của ngành xi măng, hiện nay công nghệ trên thế giới cũng đã gần đạt giới hạn tối ưu, rất khó giảm sâu hơn. Một hướng đi là giảm tỷ lệ clinker trong xi măng, tuy nhiên, các nghiên cứu (như của AFC năm 2025 tại Việt Nam) cho thấy dù khả thi nhưng vẫn chịu áp lực về giá thành và thị trường.
Do đó, Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng kiến nghị Bộ Xây dựng giao Viện Vật liệu xây dựng tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Còn theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh, xanh hóa ngành vật liệu xây dựng không chỉ là một xu hướng, mà trở thành yêu cầu cấp thiết của phát triển. Các sản phẩm vật liệu xây không nung được hình thành và phát triển với nhiều chủng loại như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt, tấm tường rỗng đùn ép, tấm tường bê tông khí chưng áp.
Hiện, cả nước đã có khoảng 2.900 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung hoạt động với tổng công suất thiết kế khoảng 12,4 tỉ viên quy tiêu chuẩn/năm, chiếm khoảng 40% tổng công suất thiết kế vật liệu xây. Năm 2025, sản lượng sản xuất đạt trên 7,2 tỉ viên quy tiêu chuẩn, tiêu thụ khoảng 6,7 tỉ viên.
Nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đã từng bước tiếp cận các hệ thống chứng nhận xanh, chứng nhận môi trường và các yêu cầu kỹ thuật cao của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế...
Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ Xây dựng thừa nhận, quá trình chuyển đổi xanh của ngành vật liệu xây dựng vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, vướng mắc. Theo đó, áp lực về chi phí đầu tư ban đầu cho đổi mới công nghệ còn ở mức cao.
Sức ép cạnh tranh ngày càng lớn; người tiêu dùng vẫn quen sử dụng vật liệu truyền thống nên khả năng hấp thụ thị trường đối với vật liệu xanh còn chưa mạnh. Cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với một số loại vật liệu mới cần tiếp tục hoàn thiện.
Cơ chế khuyến khích thúc đẩy phát triển vật liệu xanh chưa thật sự đủ mạnh. Việc tiếp cận tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế và các công cụ tài chính hỗ trợ chuyển đổi xanh vẫn còn là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp quan tâm.
"Điều thị trường cần lúc này không chỉ là những nỗ lực đơn lẻ của từng doanh nghiệp, mà là một khung thể chế mới đủ sức dẫn dắt đầu tư, định hướng tiêu dùng và sàng lọc công nghệ mới, sản phẩm mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại lợi ích cho Nhà nước, doanh nghiệp, người dân", ông Sinh chia sẻ.
Với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, yêu cầu đặt ra không chỉ đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, mà còn phải đổi mới tư duy quản lý, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và quản trị chuỗi cung ứng trong toàn ngành.