Sáng 30/6, Tòa án quân sự Trung ương tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án liên quan việc giao trái phép 63 ha đất quốc phòng tại sân bay Nha Trang cho Tập đoàn Phúc Sơn.
Do phiên xử hôm qua có khoảng 160 bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với Nguyễn Văn Hậu, VKS tiếp tục làm rõ căn cứ của đề nghị này.
Đại diện nhóm bị hại cho rằng hành vi của Hậu gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng nghìn nhà đầu tư đã bỏ tiền mua đất tại dự án.
Theo họ, tin tưởng dự án được giao khu đất hơn 63 ha ven biển Nha Trang, nhiều người đã dồn tiền đầu tư, giúp Phúc Sơn thu hơn 7.000 tỷ đồng. Thiệt hại của họ không chỉ là số tiền đã nộp mà còn gồm khoản lợi ích bị mất sau nhiều năm dự án đình trệ.
Các bị hại cũng đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, làm rõ khoản lãi phát sinh từ số tiền Hậu sử dụng sau khi bán đất.
Hậu ‘Pháo’: Có nhiều anh em tốt sẵn sàng cho vay tiền
Trả lời thẩm vấn, Hậu khẳng định chắc chắn sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền theo bản án trong thời hạn tối đa 90 ngày.
Bị cáo cho biết có “nhiều anh em tốt” sẵn sàng cho vay để khắc phục hậu quả.
Hậu nói bản thân rất trăn trở về quyền lợi của khách hàng và sẵn sàng “buông hết”, không giữ lại bất cứ lợi ích nào để tập trung bồi thường.
Để việc khắc phục minh bạch, Hậu đề nghị các nhà đầu tư cử 5 người đại diện tham gia ban quản lý dự án; đồng thời cử kế toán hoặc thuê đơn vị chuyên môn trực tiếp kiểm soát dòng tiền và làm việc với ngân hàng.
Theo Hậu, bản thân sẽ không hưởng bất kỳ quyền lợi nào từ dòng tiền của dự án, mọi khoản thu chi đều được công khai để bảo đảm tiền được dùng cho việc hoàn trả khách hàng.
Bị cáo cũng cho biết toàn bộ khối tài sản khoảng 1.500 tỷ đồng cùng nhiều tài sản khác đã bị Bộ Công an phong tỏa; bản thân đang bị tạm giam, nợ xấu và bị hạn chế nhiều quyền dân sự.
Hậu nói mình là người “đau đớn nhất”, mong các nhà đầu tư tiếp tục đồng hành như nhiều năm qua thay vì để vụ việc rơi vào bế tắc.
Bị cáo cũng cho rằng nếu các nhà đầu tư không đồng ý hợp tác, Công ty Phúc Sơn sẽ phải tìm đối tác chuyển nhượng dự án và kết quả sẽ không tốt bằng việc để chính mình trực tiếp xử lý.
Kết thúc phần trình bày, Hậu đề nghị HĐXX cho tạm dừng phiên tòa một vài ngày để trực tiếp trao đổi với các nhà đầu tư nhằm thống nhất phương án giải quyết.
Hậu nói nếu sau thời gian này các bên vẫn không đạt được thỏa thuận, bị cáo sẽ chấp hành mọi phán quyết của tòa.
HĐXX nhận định có những tình tiết mới cần được thẩm tra, xác minh nhằm bảo đảm quyền lợi các bên nên quyết định tạm dừng phiên tòa 3 ngày và sẽ tiếp tục xét xử vào ngày 3/7.
Theo bản án sơ thẩm, khu sân bay Nha Trang cũ rộng hơn 238 ha, thuộc quyền quản lý của Trường Sĩ quan Không quân.
Năm 2015, Chính phủ đồng ý chuyển khu đất này cho tỉnh Khánh Hòa để phát triển dự án kinh tế, đô thị và dịch vụ. Sau đó, tỉnh giao Công ty Phúc Sơn làm chủ đầu tư mà không qua đấu thầu. Khi chưa hoàn tất các thủ tục pháp lý, doanh nghiệp đã phân lô, ký gần 1.000 hợp đồng chuyển nhượng, thu hơn 7.000 tỷ đồng.
Ngày 21/6, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Hưng Yên cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Thị Bích Ngọc (SN 1973); Nguyễn Văn Luyện (SN 1965) và Phạm Thị Vân (SN 1968, vợ của Luyện), cùng trú tại phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên về tội Sản xuất hàng giả là lương thực, thực phẩm.
Trước đó, cơ quan chức năng tỉnh Hưng Yên tiến hành kiểm tra đột xuất đối với địa điểm sản xuất, kinh doanh của 2 hộ gia đình Phạm Thị Bích Ngọc và Nguyễn Văn Luyện, phát hiện hơn 2 tấn sản phẩm miến có dấu hiệu bị làm giả cùng các tang vật có liên quan.
Công an tỉnh Hưng Yên cảnh báo người tiêu dùng cần nâng cao cảnh giác, tuyệt đối không ham rẻ và chỉ lựa chọn các sản phẩm có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, nhãn mác đầy đủ.
Đồng thời, cơ quan công an cũng nhắc nhở các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tuân thủ nghiêm túc quy định pháp luật, không vì lợi nhuận trước mắt mà đánh đổi uy tín và sức khỏe của cộng đồng.
Quyền được Nhà nước bồi thường là quyền có tính chất hiến định, được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013.
Thể chế hóa nguyên tắc này, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường, từ Nghị định số 47-CP năm 1997, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Sau gần 8 năm thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động công vụ gây ra; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân và góp phần củng cố niềm tin vào pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật này cho thấy một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi.
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Từ Điều 8 đến Điều 12 của luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên thực tế xuất hiện trường hợp người bị thiệt hại đã có kết luận tố cáo đúng hoặc kết luận thanh tra xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng cá nhân vi phạm không bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính do hết thời hiệu hoặc chưa đến mức xử lý.
Hệ quả là người bị thiệt hại không có văn bản thuộc diện luật quy định để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung kết luận giải quyết tố cáo hoặc kết luận thanh tra theo quy định pháp luật xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là một trong các căn cứ phát sinh quyền yêu cầu bồi thường.
Thứ hai, về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Các Điều 17 đến Điều 21 luật hiện hành quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo hướng liệt kê. Tuy nhiên thực tiễn phát sinh nhiều trường hợp có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại thực tế nhưng không thuộc diện được bồi thường.
Ví dụ: Luật quy định trách nhiệm bồi thường đối với việc cấp hoặc thu hồi giấy phép trái pháp luật, nhưng chưa quy định trường hợp hủy bỏ giấy phép trái pháp luật; hoặc quy định trách nhiệm đối với cấp, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật nhưng chưa điều chỉnh trường hợp không cấp giấy chứng nhận trái pháp luật.
Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung cơ chế bồi thường trong trường hợp đặc biệt khi công lý không còn khả năng được thực hiện do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn đặt ra những vụ việc mà người bị hại hoặc thân nhân chịu thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nhưng cuối cùng không thể xử lý hình sự vì hết thời hiệu, trong khi quá trình giải quyết kéo dài có dấu hiệu gắn với trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trường hợp ông Đỗ Thanh An tại Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) mà báo Tuổi Trẻ nhiều lần phản ánh, là một ví dụ được dư luận quan tâm. Theo thông tin được báo phản ánh, gia đình nạn nhân nhiều năm cung cấp tài liệu, liên tục kiến nghị làm rõ cái chết của người mẹ. Tuy nhiên vụ việc kéo dài qua nhiều giai đoạn, đến khi xác định được đối tượng thì phát sinh vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ thực tiễn đó, câu hỏi pháp lý được đặt ra không chỉ là còn hay không còn thời hiệu xử lý hình sự, mà còn là: Ai chịu trách nhiệm đối với những tổn thất vật chất và tinh thần kéo dài của gia đình người bị hại khi công lý không thể thực hiện được bằng bản án?
Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền sống được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, bảo vệ quyền tiếp cận công lý không chỉ dừng lại ở việc thiết lập chế tài hình sự mà còn cần cơ chế khắc phục khi quyền đó không được bảo vệ hữu hiệu.
Đề xuất này không đồng nghĩa mở rộng vô hạn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế đặc biệt chỉ nên áp dụng khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng; có căn cứ cho thấy quá trình giải quyết vụ án kéo dài bất hợp lý hoặc có phần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; việc hết thời hiệu làm mất cơ hội phục hồi quyền lợi chính đáng của người bị hại.
Trong quá trình thảo luận chính sách sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, nhưng đồng thời khẳng định Quốc hội vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với những trường hợp đặc biệt phát sinh từ thực tiễn. Đó là một gợi mở đáng suy ngẫm: Pháp luật cần ổn định nhưng không nên khép kín trước những hoàn cảnh đặc biệt của đời sống.
Vì vậy, luật sửa đổi nên bổ sung trường hợp đặc biệt: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho thân nhân người bị thiệt hại trong vụ án hình sự bị đình chỉ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội như vụ án ông Đỗ Thanh An cả đời đi tìm công lý sau cái chết của mẹ.
Theo Cổng thông tin điện tử Công an tỉnh Quảng Trị, lực lượng công an vừa triệt phá một đường dây lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng hoạt động tại Campuchia với thủ đoạn "bẫy tình – đầu tư ảo", gây thiệt hại đặc biệt lớn cho nhiều nạn nhân trên cả nước.
Theo Công an tỉnh Quảng Trị, các đối tượng sử dụng mạng xã hội để tiếp cận phụ nữ trung niên, chủ động kết bạn, nhắn tin làm quen và từng bước tạo dựng mối quan hệ tình cảm nhằm chiếm lòng tin. Sau đó, các đối tượng dụ dỗ nạn nhân tham gia đầu tư tài chính trên các sàn giao dịch trực tuyến giả mạo do chúng tự thiết lập.
Kết quả điều tra cho thấy, đường dây này hoạt động có tổ chức, phân công nhiệm vụ chặt chẽ theo từng công đoạn. Mỗi đối tượng được giao danh sách số điện thoại, tài khoản mạng xã hội để tìm kiếm và tiếp cận nạn nhân phù hợp. Toàn bộ quá trình từ làm quen, tạo dựng tình cảm đến tư vấn đầu tư đều được xây dựng thành kịch bản chi tiết nhằm thao túng tâm lý bị hại.
Sau khi tạo được sự tin tưởng, các đối tượng hướng dẫn nạn nhân tải ứng dụng, mở tài khoản và chuyển tiền đầu tư. Ban đầu, hệ thống giả mạo luôn hiển thị lợi nhuận cao, thậm chí cho phép rút một phần tiền để tạo niềm tin. Khi nạn nhân tiếp tục nạp các khoản tiền lớn hơn, các đối tượng đưa ra nhiều lý do như đóng thuế, khắc phục lỗi giao dịch hoặc nâng cấp tài khoản để yêu cầu chuyển thêm tiền. Đến khi nạn nhân không còn khả năng tài chính, chúng lập tức cắt liên lạc và chiếm đoạt toàn bộ số tiền.
Theo cơ quan công an, nhóm đối tượng này có thể chiếm đoạt số tiền lên tới khoảng 3.000 tỷ đồng mỗi năm. Riêng tại Quảng Trị, đã có nạn nhân bị lừa hơn 2,5 tỷ đồng.
Trước tình hình trên, Công an tỉnh Quảng Trị đã xác lập chuyên án đấu tranh. Đến nay, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố và bắt giữ 61 đối tượng liên quan.