Trong hành trình khám phá những làng nghề truyền thống của Hà Nội, phóng viên Người Đưa Tin đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Đình Đảm – Trưởng thôn Cầu Bầu (xã Ứng Thiên, Hà Nội), Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Du lịch làng nghề Tăm hương Quảng Phú Cầu để lắng nghe câu chuyện về sự ra đời và phát triển đầy ấn tượng của mô hình du lịch cộng đồng đang thu hút hàng nghìn du khách mỗi tháng tại nơi đây.
Hợp tác xã Dịch vụ Du lịch làng nghề Tăm hương Quảng Phú Cầu chính thức được thành lập ngày 6/11/2025. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đình Đảm, bước ngoặt của làng nghề đã bắt đầu từ năm 2020.
“Năm 2020, nhiếp ảnh gia Nông Thanh Toàn chụp một bức ảnh tại làng nghề và tham dự cuộc thi ảnh quốc tế Agora. Bức ảnh đã vượt qua khoảng 10.000 tác phẩm trên thế giới để giành giải Nhất. Sau đó, Quảng Phú Cầu được nhiều người biết đến hơn và khách nước ngoài bắt đầu tìm về”, ông Đảm chia sẻ.
Nhận thấy tiềm năng và sự quan tâm ngày càng lớn của bạn bè quốc tế, đặc biệt sau đại dịch Covid-19 vào năm 2022, ông Đảm với cương vị là Trưởng thôn đã có ý tưởng xây dựng mô hình du lịch làng nghề. Được sự đồng thuận và ủng hộ từ Đảng ủy, UBND xã Quảng Phú Cầu (cũ), ông và cộng sự bắt tay vào thử nghiệm mô hình. Năm 2023, điểm du lịch được khởi xướng và đến ngày 25/12/2024, điểm đến du lịch làng nghề tăm hương Quảng Phú Cầu đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận là điểm du lịch cấp thành phố, mở ra một giai đoạn phát triển mới.
Đằng sau sự phát triển của điểm đến hôm nay là hành trình không ít gian nan của những người tiên phong. Ông Nguyễn Đình Đảm nhớ lại, những ngày đầu xây dựng mô hình, nhiều người dân còn hoài nghi về hiệu quả của việc làm du lịch.
“Rất nhiều khó khăn. Ban đầu người dân chưa hiểu, còn nghi ngại. Nhưng khi mô hình dần ổn định, mọi người đã thay đổi cách nhìn và cùng chung tay phát triển”, ông nói.
Hợp tác xã ban đầu có 8 thành viên, đều là người dân địa phương gắn bó với nghề làm tăm hương. Đến nay, hợp tác xã có 10 thành viên chính thức và thường xuyên tạo việc làm cho khoảng 10 lao động thời vụ khi lượng khách tăng cao.
Một trong những người đồng hành từ những ngày đầu là bà Trần Thị Minh (51 tuổi), hiện là Kiểm soát viên Hợp tác xã cho biết, khi tham gia xây dựng mô hình du lịch, bà cùng các thành viên gần như phải bắt đầu từ con số không.
“Lúc ấy khách bắt đầu đến nhiều, địa phương có chủ trương xây dựng điểm du lịch làng nghề. Chúng tôi tham gia với mong muốn nhiều người biết đến Quảng Phú Cầu hơn, nhưng thực sự rất vất vả. Ngoài sự quyết tâm thì gần như không có gì trong tay”, bà kể.
Theo bà Minh, từ việc đón khách, hướng dẫn tham quan đến chuẩn bị cơ sở vật chất đều do các thành viên tự bỏ tiền và công sức thực hiện.
“Địa phương chỉ hỗ trợ mặt bằng. Còn lại mọi người đều tự bỏ tiền, tự bỏ công để làm. Có lúc khó khăn đến mức nghĩ rằng không thể tiếp tục nữa”, bà Minh bày tỏ.
Khó khăn kéo dài khiến nhiều người bỏ cuộc. Từ 8 thành viên ban đầu, có thời điểm chỉ còn hai gia đình tiếp tục duy trì hoạt động.
“Có tháng tổng kết, lãi chỉ hơn 50.000 đồng. Có tháng còn lỗ gần 100.000 đồng. Bản thân tôi cũng từng chán nản. Nhưng rồi mọi người lại động viên nhau cố gắng vì tương lai của làng nghề”, bà Minh nhớ lại.
Theo bà, điều giữ chân những người tiên phong không phải lợi nhuận mà là mong muốn đưa Quảng Phú Cầu trở thành điểm đến được nhiều người biết tới.
Bước ngoặt chỉ thực sự đến khi mô hình nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền thông qua các chương trình tập huấn, xúc tiến thương mại và quảng bá du lịch.
“Những năm đầu khách còn ít, nhưng sang năm thứ hai lượng khách tăng lên rõ rệt. Chúng tôi được tham gia nhiều hoạt động quảng bá nên ngày càng có nhiều người biết đến làng nghề”, bà Minh nói.
Giữa những bó hương đỏ rực trải dài dưới nắng, chị Lê Thị Anh (36 tuổi), phụ trách marketing của hợp tác xã, vẫn đều đặn đón tiếp và hướng dẫn du khách trải nghiệm.
Theo chị Anh, những mô hình như bản đồ Việt Nam làm từ hàng nghìn que hương, các cụm hoa hay tiểu cảnh nghệ thuật đều được chính các thành viên hợp tác xã lên ý tưởng và tự tay thực hiện.
“Ban đầu chỉ xuất phát từ tình yêu với nghề truyền thống và mong muốn làng nghề phát triển. Anh em cùng nhau nghĩ ý tưởng, tự làm từng mô hình. Có thời điểm rất ít người tham gia vì chưa ai tin mô hình sẽ thành công”, chị nhớ lại.
Theo chị Anh, sau nhiều năm đầu tư, các không gian trải nghiệm ngày càng được hoàn thiện, tạo nên những góc chụp ảnh độc đáo thu hút đông đảo du khách. Đặc biệt khách quốc tế đều rất thích thú khi được tận mắt nhìn thấy những bó hương đỏ rực từng xuất hiện trên mạng xã hội và các cuộc thi ảnh quốc tế.
“Tất cả đều rất vui khi được nhìn thấy khung cảnh ngoài đời. Tuy nhiên, cũng có những người nghĩ rằng không gian sẽ rộng lớn như trên ảnh. Chúng tôi giải thích để họ hiểu nhiều bức ảnh được chụp từ trên cao hoặc xử lý nhằm tăng tính nghệ thuật”, chị Anh giải thích.
Không chỉ dừng lại ở việc tham quan, hợp tác xã còn tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm như se hương, chẻ tăm, làm hương thủ công, tham quan xưởng sản xuất và tìm hiểu quy trình làm nghề truyền thống.
“Khách được trực tiếp trải nghiệm nên rất hào hứng. Nhiều người ở lại lâu hơn dự kiến để thử các công đoạn làm hương. Đây cũng là lý do điểm đến nhận được rất nhiều đánh giá tích cực trên Google Maps”, chị Anh cho biết.
Theo ông Nguyễn Đình Đảm, yếu tố quan trọng nhất tạo nên thành công của mô hình chính là chất lượng dịch vụ. Hiện khoảng 90% lượng khách đến Quảng Phú Cầu là khách quốc tế. Vì vậy, hợp tác xã luôn đặt tinh thần hiếu khách và trải nghiệm của du khách lên hàng đầu.
“Quy chuẩn đầu tiên là chất lượng phục vụ và sự hiếu khách của người Việt Nam. Chúng tôi xây dựng quy trình đầy đủ từ bán vé, hướng dẫn tham quan, chụp ảnh đến trải nghiệm thực tế quy trình sản xuất tăm hương”, ông Đảm cho biết.
Song song với đó, công tác quảng bá cũng được đẩy mạnh trên Facebook, Zalo, TikTok và đặc biệt là Google Maps.
Hiện điểm du lịch đã nhận hơn 1.000 lượt đánh giá với điểm trung bình 4,8/5 trên Google Maps. Mỗi tháng, hợp tác xã cùng các hộ dân trong khu vực đón khoảng 9.000 lượt khách, tương đương gần 300 lượt khách mỗi ngày.
Du lịch phát triển không chỉ mang lại nguồn thu cho các thành viên hợp tác xã, mô hình còn tạo sinh kế cho nhiều hộ dân thông qua việc bán sản phẩm hương, kinh doanh đồ uống và các dịch vụ phục vụ khách tham quan. Đặc biệt, vào dịp hè và cuối tuần, nhiều em nhỏ trong làng cũng chủ động tham gia các hoạt động trải nghiệm, tìm hiểu nghề truyền thống và rèn luyện kỹ năng giao tiếp với du khách nước ngoài.
Một ngày cuối tháng 5, chúng tôi tìm về cơ sở sản xuất nón ngựa của nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (79 tuổi) tại thôn Phú Gia, xã Xuân An (tỉnh Gia Lai). Khi vừa đến nơi, một không gian làng nghề bày ra trước mắt với lá, chỉ, vành nón xếp chống lên nhau. Ở đó các bà, các mẹ đang tỉ mẩn hoàn thành những công đoạn tạo hình chiếc nón ngựa. Giữa những lớp nón đang thành hình trải ra, cụ Lan cầm từng chiếc nói soi từng họa tiết, bàn tay cụ lật giở từng mặt trong, mặt ngoài, miết tay qua từng đường cước chằm lá, từng họa tiết hoa văn thêu trên nón.
"Một chiếc nón ngựa đúng chuẩn phải qua 10 công đoạn chính và 2 công đoạn phụ. Nhưng phần làm nên linh hồn của nón là 4 công đoạn quan trọng gồm: tạo sườn mê, thắt nan sườn, thêu hoa văn trên sườn và lớp lá. Thêu hoa văn không đơn thuần chỉ là sự khéo tay mà ở đó còn đòi hỏi người thợ phải có sự sáng tạo, thẩm mỹ riêng. Hoa văn không có khuôn sẵn mà phải nằm trong khối óc của người thợ", cụ Lan nói.
Làm nghề hơn 60 năm, cụ Lan học nghề từ ông nội rồi tới cha mẹ, đến sau năm 1975 cụ tự sản xuất và bán nón khắp vùng. Nón ngựa Phú Gia của gia đình cụ Lan có mặt ở những phiên chợ nón Gò Găng nức tiếng một thời ở vùng đất này. Ngày nay, phiên chợ nón Gò Găng đã không còn nhóm, cụ Lan chuyển về mua bán tại nhà. Cụ nhân đơn từ bạn hàng khắp nơi với 2 dòng sản phẩm chính là nón bình thường và nón ngựa gắn chụp đồng hoặc chụp bạc kiểu truyền thống.
Theo cụ Lan, nguyên liệu làm nón ngựa Phú Gia gồm lá cọ (lá kè), cây giang, rễ dứa và chỉ thơm. Đặc trưng để nhận ra nón ngựa Phú Gia đó là những chiếc chụp đồng hoặc chụp bạc gắn trên đỉnh nón. Chiếc nón dành cho nam được thêu hoa văn long – lân – quy – phụng, lưỡng long trâu châu; trong khi đó nón cho nữa thêu cảnh vật, hoa lá. Ngày trước, nón ngựa với những họa tiết khác nhau sẽ tượng trưng cho các chức sắc khác nhau của quan lại. Có lẽ vì thế, những người làm nón ngựa lành nghề không đơn thuần là thợ mà họ chính là những nghệ nhân.
Điều khiến chúng tôi hết sức ngạc nhiên đó là bộ sưu tập nón ngựa hơn 100 năm tuổi của gia đình cụ Lan. Chiếc nón ngựa cổ nhất của cụ cố, truyền đời đến nay đã 120 năm, nhưng đường kim, mũi chỉ vẫn sắc sảo, lớp lá lót vẫn dày dặn. Tiếp theo là những chiếc non 60 năm, 20 năm, 10 năm... cứ thế, mỗi một chiến nón và một câu chuyện về trăm năm đời nón – đời ngựa trải ra trước mắt.
Vẻ đẹp của nón ngựa Phú Gia là điều không ai phủ nhận. Sự độc đáo trong quá trình tạo nên chiếc nón là một hành trình hấp dẫn, đặc sắc, song sản phẩm lại khó bán.
Nói về nghịch lý này, bà Nguyễn Thị Xuân Lan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch tỉnh Gia Lai, chia sẻ thực tế bằng trải nghiệm của mình: "Cách đây vài năm, tôi nhập 30 chiếc nón ngựa từ cơ sở của cụ Lan về trưng bày và bán sản phẩm truyền thống của tỉnh. Cuối cùng chỉ bán được 2 chiếc, số còn lại đều làm quà tặng. Khách thấy đẹp nhưng không mua. Dẫn khách đi về làng nghề, chỉ duy nhất một vị khách từ Thái Lan mua một chiếc từ nhà nghệ nhân Đỗ Văn Lan với giá 1.200 USD- nhưng những vị khách như thế không nhiều. Khách mua chiếc nón ấy là mua cả một trải nghiệm, một câu chuyện đặc sản đi kèm, một không gian trải nghiệm làng nghề. Và điều này ở Phú Gia gần như chưa đáp ứng được".
Gắn bó với làng nghề nhiều năm, bà Xuân Lan nhận ra vấn đề cốt lõi đó là nghề có câu chuyện đặc sắc nhưng thiếu người kể chuyện hấp dẫn, thiếu không gian trải nghiệm, thiếu hạ tầng cơ bản phục vụ khách. "Bán rẻ thì không xứng với công sức người làm, bán giá cao thì khách không xuống tiền khi không có trải nghiệm đi kèm", bà Xuân Lan nói.
Trong dịp về khảo sát tại Phú Gia, bà Nguyễn Thị Thanh Lịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, cho rằng cách tốt nhất để di sản này thực sự phát huy giá trị đó là kiến tạo nó thành sản phẩm du lịch cộng đồng. Xây dựng không gian trải nghiệm tại làng nghề, tổ chức truyền nghề và phân nhóm sản phẩm phù hợp với từng phân khúc khách hàng.
"Sản phẩm cao làm 100% thủ công từ nghệ nhân như cụ Lan dành cho khách du lịch cao cấp và hướng tới xuất khẩu. Ngoài ra, địa phương phải hỗ trợ người dân tiếp cận thị trường, đa dạng hóa dòng sản phẩm như nón cách tân, nón làm lưu niệm", bà Lịch nói, đồng thời bà yêu cầu các đơn vị, sở ngành liên quan đưa làng Phú Gia – Xuân An thành điểm du lịch cộng đồng, ưu tiên làm ngay những gì có thể, như: xây dựng hạ tầng làng nghề, tập huấn du lịch trải nghiệm, hỗ trợ dạy nghề, quảng bá sản phẩm...
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Kim Chung, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai cho hay, đơn vị đã khảo sát và triển khai hỗ trợ cụ thể đối với làng nghề như tập huấn nghiệp vụ, xây dựng các tour trải nghiệm; tổ chức các đoàn farmtrip cho khách quốc tế. Trên cơ sở đó, lãnh đạo Sở cũng gợi ý xã Xuân An nên tính toán đưa thêm một số nghề truyền thống như làm bánh cốm, bánh tráng vào không gian trải nghiệm làng nghề; đồng thời phát triển thêm vài cơ sở làm nghề truyền thống bên cạnh cơ sở đang có của nghệ nhân Đỗ Văn Lan để tăng tính trải nghiệm và kéo dài thời gian lưu trú cho khách.
Ông Hồ Văn Tuấn, Phó Chủ tịch thường trực UBND xã Xuân An, cho biết ở Phú Gia, làng nghề có tuổi đời hơn 300 năm gắn với triều đại Tây Sơn của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Hiện, Phú Gia có 240 hộ làm nón ngựa, song thực tế số hộ hiện nay còn giữ nghề không nhiều và đều như trước. Nguyên nhân do sản phẩm làng nghề làm ra khó tiêu thụ, thu nhập không đảm bảo dẫn đến nghề bị mai một. Từ thực tế đó, giai đoạn 2026 – 2030, xã đã có kế hoạch bảo tồn làng nghề và phát triển kinh tế cho cho các hộ dân, trong đó đề xuất tỉnh hỗ trợ xây dựng hạ tầng, khu trưng bày, công nhận ngày 9/4 là ngày truyền thống của làng nghề; gắn phát triển làng nghề với du lịch. "Chúng tôi rất trăn trở, nhưng thực tế địa phương còn khó khăn trong đầu tư hạ tầng, kết nối và mở rộng thị trường tiêu thụ. Do vậy chúng tôi rất cần sự hỗ trợ từ chính quyền các cấp và sở ngành để thúc đẩy phát triển", ông Tuấn nói.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, ngày 24-25/5, khu vực Bắc Bộ, từ Thanh Hóa đến Tp.Huế và duyên hải Nam Trung Bộ: có nắng nóng và nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36-38 độ, có nơi trên 39 độ; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 40-45%.
Do ảnh hưởng của rìa đông nam vùng áp thấp nóng phía tây phát triển và mở rộng về phía đông nam nên ngày hôm nay 24/5 và ngày mai 25/5, Tp.Hà Nội trời nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt. Nhiệt độ cao nhất phổ biến 37 - 39 độ C, có nơi trên 40 độ C. Độ ẩm tương đối thấp nhất khoảng 40 - 45%.
Riêng ngày 25/5, khu vực từ Thanh Hóa đến Tp.Đà Nẵng và phía Đông Quảng Ngãi có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37-39 độ, có nơi trên 40 độ; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 40-45%
Khu vực miền Đông Nam Bộ có nắng nóng với với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35-36 độ, có nơi trên 36 độ; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 45- 50%. Nắng nóng ở Bắc Bộ có khả năng kéo dài đến khoảng ngày 27-28/5, ở Trung Bộ đến khoảng ngày 28/5, ở miền Đông Nam Bộ đến ngày 27/5. Cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng: cấp 1.
Bắc Bộ: Khu vực này có nắng nóng và nắng nóng gay gắt từ 25-27/5. Từ khoảng chiều tối và đêm 27/5 có mưa rào và dông "giải nhiệt", kết thúc đợt nắng nóng như thiêu đốt.
Khu vực từ Thanh Hóa đến Tp.Đà Nẵng và phía Đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk và Khánh Hòa: có nắng nóng và nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt đến khoảng ngày 27-28/5, sau có nắng nóng cục bộ.
Nam Bộ: Chiều tối và tối có mưa rào rải rác và có nơi có dông. Từ khoảng chiều tối 27/5 có mưa rào và rải rác có dông, cục bộ có nơi mưa to.
Các khu vực khác: Dự báo thời tiết chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi; riêng cao nguyên Trung Bộ từ khoảng ngày 27/5 có mưa rào rải rác và có nơi có dông (mưa tập trung vào chiều tối); ngày nắng. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Do ảnh hưởng của nắng nóng, nắng nóng gay và nắng nóng đặc biệt gắt kết hợp với độ ẩm trong không khí giảm thấp nên có nguy cơ cao xảy ra cháy nổ và hỏa hoạn ở khu vực dân cư do nhu cầu sử dụng điện tăng cao và nguy cơ xảy ra cháy rừng. Ngoài ra, nắng nóng còn có thể gây tình trạng mất nước đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nền nhiệt độ cao.
Lưu ý nhiệt độ dự báo trong các bản tin nắng nóng và nhiệt độ cảm nhận thực tế ngoài trời có thể chênh lệch từ 2-4 độ, thậm chí có thể cao hơn phụ thuộc vào các điều kiện mặt đệm như bê tông, đường nhựa.
Cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng là cấp 1. Do ảnh hưởng của nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt kết hợp với độ ẩm trong không khí giảm thấp nên có nguy cơ xảy ra cháy nổ và hỏa hoạn ở khu vực dân cư do nhu cầu sử dụng điện tăng cao và nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Ngoài ra, nắng nóng còn có thể gây tình trạng mất nước, kiệt sức, đột qụy do sốc nhiệt đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nền nhiệt độ cao.
Ngôi làng Madhapar ở bang Gujarat trông giống như nhiều ngôi làng khác ở Ấn Độ nhưng ẩn sau vẻ ngoài bình dị đó là một trong những cộng đồng nông thôn giàu có bậc nhất.
Theo Times of India, ngôi làng Madhapar hiện có khoảng 17 chi nhánh ngân hàng đang hoạt động, bao gồm các ngân hàng lớn thuộc sở hữu nhà nước và tư nhân. Tổng số tiền gửi của người dân tại các ngân hàng khoảng 50 tỷ rupee (hơn 13.850 tỷ đồng).
Điều đặc biệt, đây là một ngôi làng nông thôn, không có các khu công nghiệp quy mô lớn hay những tập đoàn kinh tế khổng lồ.
Nguồn gốc của sự thịnh vượng tại đây đến từ cộng đồng người dân địa phương đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Nhiều gia đình tại Madhapar có người thân định cư tại Anh, Mỹ, Canada, các quốc gia châu Phi và khu vực Trung Đông. Sau khi gây dựng được sự nghiệp ở nước ngoài, họ thường xuyên gửi tiền về hỗ trợ gia đình cũng như đầu tư cho quê hương.
Nguồn kiều hối ổn định trong nhiều thập kỷ đã góp phần thay đổi diện mạo của cả ngôi làng. Tiền không chỉ được sử dụng để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng hộ gia đình mà còn được đầu tư cho giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng.
Để duy trì sự kết nối giữa những người sinh sống và làm việc ở nước ngoài với quê hương, Hiệp hội làng Madhapar đã được thành lập tại London từ năm 1968. Tổ chức này đóng vai trò cầu nối, hỗ trợ các hoạt động cộng đồng, điều phối các dự án phát triển và giữ gìn mối liên hệ giữa các thế hệ người Madhapar trên khắp thế giới.
Ngày nay, Madhapar có hệ thống trường học, trung tâm y tế, công viên, hồ nước, đập thủy lợi cùng nhiều công trình công cộng được đầu tư bài bản. Người dân được tiếp cận các dịch vụ giáo dục và chăm sóc sức khỏe tương đối đầy đủ. Thậm chí, làng còn xây dựng khu nuôi dưỡng bò hiện đại - điều hiếm thấy tại nhiều vùng nông thôn.
Madhapar có lịch sử hình thành từ thế kỷ XII. Ngôi làng được sáng lập bởi cộng đồng Mistri - nhóm nghệ nhân nổi tiếng với nghề xây dựng đền đài và các công trình kiến trúc truyền thống tại Gujarat. Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều cộng đồng dân cư khác đã đến sinh sống, góp phần tạo nên sự đa dạng về văn hóa cho địa phương.
Dù kinh tế phát triển mạnh, Madhapar vẫn duy trì được nhiều giá trị truyền thống, phong tục tập quán và bản sắc văn hóa địa phương. Đây được xem là một trong những yếu tố giúp ngôi làng giữ được sự gắn kết cộng đồng trong quá trình phát triển.
Năm 2001, trận động đất Kutch gây thiệt hại nặng nề cho Madhapar và nhiều khu vực lân cận. Hàng loạt công trình bị hư hại, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, nhờ nền tảng tài chính vững chắc cùng sự hỗ trợ từ cộng đồng người Madhapar ở nước ngoài, quá trình tái thiết được triển khai nhanh chóng, giúp địa phương sớm phục hồi sau thảm họa.