Ngày 29.4, Giáo sư – tiến sĩ Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, cho biết đội ngũ ghép tạng của bệnh viện vừa thực hiện thành công 6 ca ghép tạng từ một người hiến chết não (gồm tim, gan, thận và giác mạc) cho 6 bệnh nhân đang trong tình trạng bệnh lý nặng. Trước đó, khi bắt tay thực hiện các ca ghép đội ngũ y bác sĩ của Bệnh viện Trung ương Huế đã cúi đầu tưởng niệm, tri ân nghĩa cử nhân văn sâu sắc của bệnh nhân đã hiến mô, tạng cứu người.
Theo đó, bệnh nhân nam tên M.Đ.T (44 tuổi, trú tại Huế) bị tai nạn, nhập viện trong tình trạng chấn thương sọ não nặng, hôn mê sâu. Dù đã được điều trị tích cực, diễn tiến lâm sàng của bệnh nhân không cải thiện, tiên lượng tử vong.
Ngày 15.4, gia đình bệnh nhân đã làm thủ tục đăng ký hiến tạng tại Trung tâm Ghép tạng Bệnh viện Trung ương Huế.
Đến ngày 16.4, sau khi hội đồng đánh giá xác nhận bệnh nhân đã chết não, Hội đồng ghép tạng của bệnh viện đã lập tức báo cáo Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia để lựa chọn những người nhận phù hợp nhất từ danh sách chờ.
Sau khi xác định có 6 bệnh nhân từ danh sách chờ ghép tạng, có các chỉ số phù hợp, các y bác sĩ đã thực hiện các ca ghép liên tục từ ngày 16 – 18.4.
“Đúng 20 giờ 45 phút ngày 16.4, sau phút mặc niệm tri ân người hiến tạng đầy xúc động, chiến dịch phẫu thuật được triển khai đồng thời tại 5 phòng mổ. Gần 200 cán bộ y tế từ nhiều chuyên khoa lâm sàng và cận lâm sàng đã làm việc xuyên đêm với tinh thần khẩn trương và độ chính xác tuyệt đối. Ở thời điểm một sự sống buộc phải dừng lại, chúng tôi đã nỗ lực để những sự sống khác được mở ra một cách trọn vẹn nhất”, Giáo sư – tiến sĩ Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế chia sẻ.
Theo Giáo sư – tiến sĩ Phạm Như Hiệp, đây là một trong những ca ghép đa tạng có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ thể hiện năng lực chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ tại bệnh viện, mà còn lan tỏa sâu sắc giá trị nhân văn của nghĩa cử hiến mô, tạng.
Sau hơn 11 ngày được ghép tạng (tính đến ngày 27.4), 6 bệnh nhân được ghép tạng đều đáp ứng và hồi phục tốt.
Cụ thể, bệnh nhân D. (41 tuổi, được ghép tim) đã tỉnh táo, ăn uống được, ổn định, phân suất tống máu EF đạt trên 60%.
Bệnh nhân S. (64 tuổi, được ghép gan) đã tỉnh táo, ăn uống được và chức năng gan phục hồi tốt, billirubin máu trở về bình thường.
Hai bệnh nhân P. (34 tuổi) và C. (30 tuổi) được ghép thận đều đã tỉnh táo, ăn uống được, chỉ số creatinin đang cải thiện, đi tiểu ổn định.
Hai bệnh nhân bị loét giác mạc nặng (trước đó mất thị lực hoàn toàn) đã phục hồi một phần thị giác và được xuất viện vào ngày 18.4.
Cũng theo Giáo sư – tiến sĩ Phạm Như Hiệp, với kết quả thành công của 6 ca ghép tạng nêu trên, đã nâng tổng số các ca ghép tạng thành công tại bệnh viện lên 14 ca trong vòng một tuần. Đây là minh chứng rõ nét cho năng lực chuyên môn và khả năng phối hợp đồng bộ của đội ngũ y bác sĩ tại đây.
Tại buổi chia sẻ với phóng viên, Giáo sư – tiến sĩ Phạm Như Hiệp cũng không quên thay mặt cho các bệnh nhân và toàn thể đội ngũ nhân viên y tế, gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới người hiến tạng và gia đình.
“Khi một trái tim ngừng đập để nhiều bệnh nhân khác được tiếp tục sống, đó không chỉ là sự chuyển giao về mặt y học, mà còn là sự nối dài của lòng nhân ái. Gia đình của những bệnh nhân hiến tạng đã biến nỗi đau mất mát thành hy vọng, biến sự kết thúc thành những khởi đầu mới kỳ diệu. Chúng tôi tin rằng, tinh thần quả cảm và tấm lòng thiện nguyện của anh và gia đình sẽ luôn sống mãi trong sự hồi sinh của những cuộc đời vừa được viết tiếp ngày hôm nay”, Giáo sư – tiến sĩ Phạm Như Hiệp bày tỏ.
Omega-3 là axit béo thiết yếu, cơ thể không tự sản xuất được mà phải bổ sung qua thực phẩm. Cá, đặc biệt là cá béo, là nguồn cung cấp quan trọng nhưng việc tiêu thụ cần có mức hợp lý.
Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, người trưởng thành nên ăn cá, nhất là cá béo như cá hồi, cá thu, cá mòi, ít nhất 2 lần mỗi tuần, mỗi lần khoảng 85 - 100 gram.
Tiến sĩ Dariush Mozaffarian, chuyên gia tim mạch và dinh dưỡng, Giám đốc Viện Thực phẩm là Y học tại Đại học Tufts (Mỹ), cho biết ăn cá đều đặn là một trong những cách đơn giản và hiệu quả nhất để bổ sung omega-3, góp phần giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị nên duy trì chế độ ăn có cá thường xuyên để hỗ trợ sức khỏe tổng thể, đặc biệt là hệ tim mạch.
Omega-3, đặc biệt là EPA và DHA, có tác dụng giảm viêm, cải thiện chức năng mạch máu và hỗ trợ hoạt động của não.
Giáo sư Walter C. Willett, chuyên gia dịch tễ học dinh dưỡng tại Trường Y tế Công cộng Harvard (Mỹ), giải thích: Omega-3 giúp giảm triglyceride và có thể làm giảm nguy cơ rối loạn nhịp tim. Đây là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa bệnh tim.
Ngoài ra, DHA còn đóng vai trò thiết yếu trong cấu trúc não và mắt, đặc biệt quan trọng với trẻ em và người lớn tuổi.
Theo Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ, nên lựa chọn cá ít thủy ngân và đa dạng nguồn thực phẩm để đảm bảo an toàn.
Một số loại cá có thể có nhiều thủy ngân cần hạn chế gồm cá kiếm, cá thu vua, cá ngừ lớn... Ngược lại, các loại ít thủy ngân và an toàn hơn có thể dùng thường xuyên là cá hồi, cá mòi, cá trích, cá cơm.
Bên cạnh đó, cách chế biến cũng rất quan trọng. Cá chiên nhiều dầu hoặc tẩm ướp quá mặn có thể làm giảm lợi ích sức khỏe.
Tóm lại, người trưởng thành nên duy trì thói quen ăn cá 2 - 3 lần mỗi tuần, ưu tiên cá béo như cá hồi, cá trích, cá mòi. Nên chế biến bằng cách hấp, nướng hoặc kho để giữ giá trị dinh dưỡng.
Nếu không ăn cá, có thể bổ sung omega-3 từ nguồn thực vật như hạt chia, hạt lanh, hoặc tham khảo ý kiến bác sĩ về thực phẩm bổ sung, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ.
Theo bản tin lúc 14h ngày 5-5 của Đài khí tượng thủy văn tỉnh Khánh Hòa, tình hình nắng nóng tiếp tục diễn ra trong ngày và dự báo kéo dài trong các ngày tới, trong đó nhiều nơi có nhiệt độ lên đến 37°C. Thời tiết nắng nóng cực đoan có thể gây ra nhiều bất thường cho sức khỏe con người, đặc biệt là đột quỵ.
Không chỉ riêng Khánh Hòa mà nhiều nơi trên cả nước đang bước vào đợt nắng nóng cực đoan, vì vậy việc bảo vệ sức khỏe trong mùa nắng nóng để phòng chống đột quỵ là việc làm cần thiết.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, BSCKII Ngô Khắc Kiên - Trưởng khoa khám bệnh, Bệnh viện 22-12 tại Nha Trang - cho biết đột quỵ thường xảy ra ở nhóm người có nguy cơ tim mạch cao như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, thừa cân - béo phì, hút thuốc lá...
Theo bác sĩ Kiên, những năm gần đây đột quỵ có xu hướng trẻ hóa dần. Nguyên nhân vì lối sống lười vận động, lạm dụng rượu bia, thuốc lá hoặc căng thẳng quá mức... Cùng với đó, nhiều người trẻ tuổi còn chủ quan, không nghĩ mình có bệnh nên không đi kiểm tra sức khỏe định kỳ hoặc có bệnh hoặc biết mà không điều trị.
Cũng theo bác sĩ, trong mùa nắng nóng kéo dài như hiện nay, người già, những người có bệnh nền, trẻ em, người làm việc ngoài trời... là những trường hợp có nguy cơ sốc nhiệt, mất nước dẫn đến trụy mạch, rất dễ gây ra đột quỵ.
Vì vậy các trường hợp này nên hạn chế ra ngoài vào các khung giờ nắng nóng cao điểm, đồng thời phải bù đủ nước (đặc biệt là các loại nước chứa điện giải).
Bác sĩ Kiên lấy dẫn chứng một số bạn trẻ có yếu tố nguy cơ tim mạch, sau khi đi làm về và đã sử dụng rượu, bia sau đó tắm và nằm ngủ bật điều hòa với nhiệt độ rất thấp sẽ cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới đột quỵ trong lúc ngủ.
"Lời khuyên tốt nhất là nên đi khám tầm soát và nên điều trị, nếu để các yếu tố nguy cơ tim mạch tích lũy dần dần sẽ rất nguy hiểm" - bác sĩ Kiên khuyến cáo.
Đối với những người lao động ngoài trời, phải trang bị quần áo che chắn bớt ánh nắng chiếu trực tiếp vào người, uống đủ nước, khi cảm thấy mệt phải nghỉ ngơi kịp thời.
"Đột quỵ mùa nắng nóng hoàn toàn có thể phòng ngừa và sơ cứu kịp thời nếu được phát hiện sớm", bác sĩ Kiên cho hay.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.