Reuters đưa tin Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi ngày 19.5 vừa có cuộc họp báo chung sau khi hội đàm song phương.
Theo AP, chỉ trong khoảng 6 tháng qua thì hai nhà lãnh đạo trên có đến 4 cuộc hội đàm cùng nhau. Đặc biệt, nếu hai nhà lãnh đạo gặp nhau ở quê nhà Nara (Nhật Bản) của bà Takaichi hồi tháng 1, thì cuộc gặp lần này diễn ra ở quê nhà Andong (Hàn Quốc) của ông Lee. Điều này để lại dấu ấn đặc biệt khi lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, hai nhà lãnh đạo đương nhiệm của hai quốc gia gặp nhau tại quê nhà của nhau.
Phát biểu trong cuộc họp báo ngày 19.5, lãnh đạo Nhật Bản và Hàn Quốc tái khẳng định sự phối hợp an ninh mạnh mẽ hơn, bao gồm hợp tác ba bên với Mỹ, khi đối mặt với những thách thức chung bao gồm Triều Tiên và căng thẳng khu vực rộng lớn hơn. Về quan hệ song phương, Tổng thống Lee và Thủ tướng Takaichi cho biết khi nguồn cung bị gián đoạn do chiến tranh ở vùng Vịnh gây căng thẳng cho các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng như Nhật Bản và Hàn Quốc, thì hai nước thỏa thuận phối hợp để ổn định các tuyến cung cấp năng lượng và mở rộng hợp tác với các đối tác châu Á khác. Nguồn dầu thô từ Trung Đông chiếm 93% lượng nhập khẩu của Nhật Bản, 70% lượng nhập khẩu của Hàn Quốc.
Vì thế, theo kết quả hội đàm, Nhật Bản và Hàn Quốc mở rộng hợp tác về nguồn cung cấp khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và dầu thô, bao gồm cả các thỏa thuận dự trữ và hoán đổi sản phẩm dầu mỏ. Hàn Quốc cũng đồng ý tham gia “Power Asia” – một sáng kiến do Thủ tướng Takaichi đề ra nhằm tăng cường hợp tác giữa các nước Đông Nam Á trong việc xây dựng và sử dụng chung các cơ sở lưu trữ dầu mỏ để dự trữ dầu.
Chính vì thế, có thể nói thỏa thuận trên là cú bắt tay chưa từng có giữa hai nước.
Giới phân tích nhận định không phải chỉ vì áp lực từ việc thiếu hụt nguồn cung năng lượng, mà chính sách của Mỹ cũng là một trong các nguyên nhân thúc đẩy Nhật Bản và Hàn Quốc thắt chặt quan hệ. Cụ thể, chính sách thuế của Washington dưới thời Tổng thống Donald Trump đang gây khó khăn cho cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc.
Không những vậy, Nhật Bản và Hàn Quốc được cho là đang đặc biệt lo ngại rằng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đa phương đối với chip bán dẫn tiên tiến sang Trung Quốc, vốn đã được tăng cường dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Joe Biden, có thể bị Tổng thống Trump đảo ngược. Vấn đề này là một mối đe dọa an ninh tiềm tàng nghiêm trọng. Nên Tokyo và Seoul, với tư cách đều là đồng minh của Mỹ, có thể hợp tác trong việc thúc giục Washington ngăn chặn Trung Quốc có được chip bán dẫn tiên tiến và các công nghệ liên quan. Từ các yếu tố trên, việc Nhật – Hàn tăng cường hợp tác có thể giúp hai nước giảm sự lệ thuộc vào Mỹ.
Mặc dù vậy, theo phân tích gửi đến Thanh Niên, Eurasia Group (Mỹ), đơn vị tư vấn và nghiên cứu rủi ro chính trị hàng đầu thế giới, cho rằng giữa Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn tồn tại nhiều khác biệt để tăng cường quan hệ lâu dài. Trước hết, quan điểm về Nhật Bản có sự khác biệt rất lớn, thậm chí hoàn toàn trái ngược, giữa các đời lãnh đạo của nước này, bởi hai nước còn nhiều bất đồng liên quan lịch sử chưa thể giải quyết trọn vẹn.
Bên cạnh đó, bà Takaichi có mối quan hệ tích cực với Tổng thống Trump và Tokyo vẫn không ngừng vun đắp mối quan hệ chặt chẽ hơn với Washington. Sau cuộc gặp gần đây với Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Trump được cho là đã gọi điện cho Thủ tướng Takaichi để thông báo về hội đàm thượng đỉnh Mỹ – Trung. Tokyo và Seoul đã công bố hội nghị thượng đỉnh giữa hai bên ngay sau khi cuộc gặp của ông Trump và ông Tập kết thúc.
Ngược lại, mối quan hệ của bà Takaichi với Trung Quốc đang cực kỳ căng thẳng. Cuối năm ngoái, phát biểu của bà Takaichi cho rằng nếu Trung Quốc đại lục tấn công quân sự nhằm vào Đài Loan có thể được coi là mối đe dọa đối với sự sống còn của Nhật Bản, nhằm biện minh cho sự can thiệp quân sự của Tokyo trong trường hợp này đã khiến Trung Quốc giận dữ. Kết quả, Trung Quốc hạn chế khách du lịch nước này đến Nhật Bản, đình chỉ các chuyến bay giữa hai nước và hủy nhập khẩu thủy sản từ Nhật Bản.
Những khác biệt tồn tại trở thành thách thức không nhỏ cho việc thắt chặt quan hệ Nhật – Hàn.
"Chúng tôi đã sửa đổi 'Ba nguyên tắc về chuyển giao công nghệ và thiết bị quốc phòng' cùng 'Hướng dẫn thực hiện'", Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi thông báo hôm nay, thêm rằng những điều chỉnh này sẽ giúp "chuyển giao tất cả các loại thiết bị quốc phòng trở nên khả thi về mặt nguyên tắc".
Nhật Bản trước đây chỉ được phép xuất khẩu các thiết bị quân sự nằm trong 5 danh mục gồm tìm kiếm và cứu hộ cứu nạn, vận tải, cảnh báo, trinh sát và quét mìn.
Các quy định mới nằm trong nỗ lực nới lỏng dần lệnh cấm xuất khẩu vũ khí toàn diện được ban hành từ năm 1976. Thủ tướng Takaichi khẳng định Nhật Bản chỉ bán khí tài cho những quốc gia "cam kết sử dụng chúng theo cách phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc".
"Hoàn toàn không có thay đổi nào trong cam kết của chúng tôi đối với các nguyên tắc cốt lỗi mà Nhật Bản theo đuổi hơn 80 năm qua, với tư cách quốc gia theo chủ nghĩa hòa bình kể từ khi chiến tranh kết thúc", bà cho hay.
Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Minoru Kihara cho biết thay đổi chính sách đã được nội các và Hội đồng An ninh Quốc gia thông qua.
"Những quyết định trên được đưa ra khi môi trường an ninh xung quanh đất nước đang thay đổi với tốc độ ngày càng nhanh. Chúng nhằm mục đích đảm bảo an ninh cho Nhật Bản và đóng góp nhiều hơn vào hòa bình, ổn định của khu vực cũng như cộng đồng quốc tế. Ngày nay, không quốc gia nào có thể tự bảo vệ an ninh và hòa bình của bản thân", ông nói.
Hãng thông tấn Reuters cho biết đây là đợt cải tổ lớn nhất về quy định xuất khẩu quốc phòng của Nhật Bản trong hàng thập kỷ.
Nhật Bản trước đây từng xuất khẩu đạn dược và vật tư quân sự để thúc đẩy nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn diễn ra Chiến tranh Triều Tiên năm 1950-1953, song đã áp dụng lệnh cấm xuất khẩu vũ khí có điều kiện vào năm 1967 trước khi ban hành lệnh cấm toàn diện sau đó khoảng 10 năm.
Tokyo đưa ra một số ngoại lệ trong vài chục năm gần đây, đặc biệt là khi tham gia những dự án phát triển vũ khí hợp tác với nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản bắt đầu cho phép xuất khẩu thiết bị quốc phòng từ năm 2014, song chỉ giới hạn ở 5 hạng mục khí tài phi sát thương.
Nhật Bản chấm dứt hạn chế tự áp đặt về bán vũ khí sát thương giữa lúc nước này đang tìm cách gia nhập thị trường vũ khí quốc tế, với hy vọng tăng cường năng lực quốc phòng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Những người ủng hộ cho rằng thay đổi chính sách sẽ giúp Tokyo hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế, cũng như làm sâu sắc thêm quan hệ quốc phòng, kinh tế và ngoại giao với các nước đối tác. Tuy nhiên, quyết định này cũng khiến một bộ phận người dân Nhật Bản cảm thấy lo ngại, trong đó phe chỉ trích cáo buộc Thủ tướng Takaichi làm xói mòn chủ nghĩa hòa bình của đất nước.
Heigo Sato, chuyên gia về quốc phòng và kiểm soát vũ khí tại Đại học Takushoku, cho biết Nhật Bản phải tận dụng thời gian hòa bình để đảm bảo "khả năng sẵn sàng chiến đấu", bằng cách thiết lập hệ thống giúp đảm bảo hoạt động trao đổi vũ khí và đạn dược giữa các đồng minh "diễn ra thông suốt".
Theo ông, các thương vụ bán vũ khí còn đi kèm với hợp đồng bảo trì định kỳ, mang lại cho ngành công nghiệp quốc phòng Nhật Bản nguồn công việc ổn định và lâu dài, cũng như giúp thắt chặt quan hệ với quốc gia mua hàng.
Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius đã bác bỏ yêu cầu về sự trung thành mà Tổng thống Mỹ Donald Trump đưa ra đối với các thành viên khác của NATO. Ông Pistorius cho rằng không quốc gia thành viên nào nên áp đặt ý chí của mình lên các nước còn lại trong liên minh.
Ông Pistorius đưa ra nhận định này trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Der Spiegel, được công bố hôm 2/7. Bộ trưởng Quốc phòng Đức cũng tìm cách hạ nhiệt những căng thẳng giữa Washington và Berlin, vốn trở nên nghiêm trọng hơn sau cuộc chiến giữa Mỹ và Israel nhằm vào Iran.
Trong cuộc phỏng vấn, ông Pistorius được hỏi về phát biểu của Tổng thống Trump tuần trước, trong đó nhà lãnh đạo Mỹ nói rằng ông “thất vọng với phần lớn” các nước thành viên NATO vì không sẵn sàng tham gia cuộc chiến với Iran.
“Điều tôi muốn chỉ là sự trung thành. Các bạn biết đấy, chúng tôi rất trung thành với họ. Chúng tôi luôn chiến đấu vì họ”, ông Trump tuyên bố.
Tổng thống Trump tiếp tục nhắc đến Đức, lưu ý rằng Mỹ đang triển khai hàng chục nghìn binh sĩ tại quốc gia châu Âu này.
“Rồi chúng tôi chỉ muốn một chút thôi - hãy dành cho chúng tôi một cái vỗ vai, một nụ hôn. Chúng tôi không đòi hỏi nhiều. Nhưng họ lại nói: Không, chúng tôi không thể làm điều đó”, ông Trump nói thêm.
Đáp lại, ông Pistorius nói với Der Spiegel rằng: “Lập trường của NATO không phải là sự phục tùng mù quáng, mà là một tinh thần tự do trong quá trình thảo luận”.
Ông nhấn mạnh các quyết định trong liên minh NATO được đưa ra “trên cơ sở đồng thuận tự nguyện của tất cả các quốc gia thành viên, chứ không phải theo sự áp đặt của bất kỳ nước nào”.
Khi được hỏi Mỹ thực sự mong muốn Đức hỗ trợ quân sự như thế nào, ông Pistorius nói rằng ông “không biết về bất kỳ yêu cầu nào” như vậy.
“Hơn nữa, việc từ chối một nụ hôn nhẹ cũng có thể xảy ra ngay cả trong những mối quan hệ tốt đẹp nhất, đôi khi cũng có thể là vô tình. Điều đó khó có thể được xem là một cuộc khủng hoảng hôn nhân”, ông nói thêm.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng Đức cũng đồng tình với yêu cầu lâu nay của Tổng thống Trump rằng NATO cần tăng chi tiêu quốc phòng. Dù vậy, ông nhấn mạnh Đức làm điều đó “vì lợi ích của chính mình, chứ không phải vì Mỹ muốn chúng tôi làm như vậy”.
Quan hệ giữa Mỹ và Đức trở nên căng thẳng sau khi ông Pistorius phát tín hiệu rằng Berlin sẽ không tham gia các chiến dịch do Washington dẫn đầu tại eo biển Hormuz. Bộ trưởng Quốc phòng Đức lập luận rằng “đây không phải là cuộc chiến của chúng tôi”.
Sau bất đồng này, Lầu Năm Góc hồi tháng 5 thông báo sẽ rút khoảng 5.000 binh sĩ khỏi Đức trong vòng 6 đến 12 tháng. Tháng trước, Bộ trưởng Chiến tranh (Bộ trưởng Quốc phòng) Mỹ Pete Hegseth - quan chức từng chỉ trích thái độ của các thành viên NATO là “đáng xấu hổ” - cũng tuyên bố sẽ xem xét lại vị thế quân sự của Mỹ ở châu Âu.
Cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad được nhìn thấy đi cùng một số vệ sĩ tại tang lễ ông Khamenei ngày 6-7 ở Tehran.
Đây là lần xuất hiện công khai của ông Ahmadinejad trong nhiều tháng qua.
Trước đó, có thông tin cho rằng ông đã thiệt mạng khi Israel và Mỹ tấn công Iran vào 28-2, giết chết Lãnh tụ tối cao Ali Khamenei và hàng loạt quan chức cấp cao của nước này.
Hồi tháng 5-2026, truyền thông Mỹ đưa tin chính quyền ông Trump và Israel đã chọn ông Ahmadinejad làm lãnh đạo Iran khi quyết định tấn công nhằm lật đổ chính quyền nước này.
Thực tế, sau khi tấn công Iran, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã úp mở rằng sẽ tốt nhất nếu "ai đó từ bên trong" Iran tiếp quản đất nước này.
Ông Ahmadinejad, nắm quyền Iran từ 2005 - 2013, nổi tiếng với quan điểm cứng rắn, chống Israel và chống Mỹ.
Ông cũng được biết đến với lời kêu gọi "xóa sổ Israel khỏi bản đồ", chỉ trích Mỹ gay gắt và là người ủng hộ mạnh mẽ chương trình hạt nhân của Iran.
Giới quan sát khi đó cho rằng việc chọn đưa ông Ahmadinejad trở lại nắm quyền là một ván cược đầy rủi ro của Washington.
Nhưng kế hoạch táo bạo này không thành công.
Báo New York Times dẫn lời các quan chức Mỹ nắm được thông tin cho biết ông Ahmadinejad khi đó đang bị quản thúc tại gia ở Tehran do có những mâu thuẫn với chính quyền Iran.
Khi Israel không kích vào nhà ông Ahmadinejad nhằm giải cứu ông đã khiến cựu tổng thống Iran bị thương.
Một số thông tin cho rằng ông Ahmadinejad vẫn còn sống nhưng ông không xuất hiện công khai kể từ đó và cũng không rõ tình hình hiện tại của ông.
Chính quyền Iran không xác nhận cũng không phủ nhận thông tin ông thiệt mạng.
Sự xuất hiện của ông Ahmadinejad ngày 6-7 đã trả lời cho những đồn đoán thời gian qua.
Tham dự lễ tang cùng ông còn có các lãnh đạo khác của Iran như Tổng thống Masoud Pezeshkian, Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf và Tổng tư lệnh IRGC Ahmad Vahidi.
Hai cựu tổng thống khác của Iran là ông Mohammad Khatami và Hassan Rouhani không dự tang lễ.
Trong khi đó, lãnh tụ tối cao mới được bổ nhiệm của Iran, ông Mojtaba Khamenei - con trai của ông Ali Khamenei, cũng không xuất hiện trong lễ tang.
Thay vào đó, các anh trai của ông là Mostafa, Masoud và Meysam Khamenei đã tham dự lễ cầu nguyện trong tang lễ, cũng là lần xuất hiện công khai đầu tiên kể từ khi cha họ qua đời.