Ngày 2/6, ông Nguyễn Xuân Đá, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Đắk Lắk, cho biết đơn vị đã phản hồi chính thức thông tin về việc Trường THPT Chu Văn An cho rằng trường bị cắt thi đua, khen thưởng nhưng “không rõ lý do”.
Theo ông Đá, công tác đánh giá, xếp loại kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2024-2025 đối với các đơn vị trực thuộc, trong đó có Trường THPT Chu Văn An, được triển khai chặt chẽ theo quy trình gồm 4 bước.
Tại bước cuối cùng, trong hội nghị lãnh đạo Sở GD&ĐT mở rộng, trên cơ sở thảo luận toàn diện, khách quan giữa tập thể lãnh đạo Sở cùng trưởng các phòng chuyên môn, nghiệp vụ, các thành viên bỏ phiếu kín. Kết quả, 13/13 phiếu đều thống nhất xếp loại Trường THPT Chu Văn An ở mức “Hoàn thành nhiệm vụ”, đạt tỷ lệ 100%.
Lãnh đạo Sở GD&ĐT cho biết thêm ngày 22/8/2025, kết quả xếp loại đã được thông báo công khai đến tất cả đơn vị trực thuộc. Sau đó, Trường THPT Chu Văn An gửi tờ trình đề nghị xem xét lại kết quả đánh giá của nhà trường.
Trước kiến nghị này, Sở GD&ĐT Đắk Lắk đã có văn bản phản hồi và giữ nguyên kết quả xếp loại “Hoàn thành nhiệm vụ”. Theo Sở GD&ĐT, đây là kết quả chính thức, được thông qua công khai, dân chủ tại hội nghị. Sau khi nhận được phản hồi, nhà trường không có thêm ý kiến thắc mắc.
Ông Nguyễn Xuân Đá cho rằng một số thông tin do Hiệu trưởng Trường THPT Chu Văn An cho rằng trường bị hạ thi đua, cắt khen thưởng là chưa đầy đủ, chưa chính xác. Lý do, Sở GD&ĐT đánh giá xếp loại chất lượng hoạt động của trường, chứ không phải xét công tác thi đua, khen thưởng.
“Theo quy định, cuối năm học các trường được quyền tự đánh giá và đề xuất mức xếp loại. Tuy nhiên, ngoài căn cứ từ báo cáo tự đánh giá của trường, Sở còn căn cứ dựa vào nhiều các nội dung khác do các phòng chuyên môn theo dõi, cung cấp”, ông Đá nhấn mạnh.
Lãnh đạo Sở GD&ĐT Đắk Lắk cũng khẳng định các trường có quyền đề xuất mức xếp loại, nhưng cơ quan quản lý mới là đơn vị quyết định kết quả cuối cùng.
Sau vụ việc, Sở GD&ĐT Đắk Lắk đã chỉ đạo các phòng chuyên môn phối hợp với Ban Giám hiệu Trường THPT Chu Văn An làm tốt công tác tư tưởng đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên. Đồng thời, nhà trường được yêu cầu tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế, củng cố đoàn kết nội bộ để hướng tới kết quả đánh giá tích cực hơn trong các năm học tới.
Trước đó, cho rằng việc bị hạ thi đua năm học 2024-2025 “không rõ lý do”, Trường THPT Chu Văn An đã 2 lần gửi tờ trình tới Sở GD&ĐT Đắk Lắk, đề nghị làm rõ nguyên nhân để có cơ sở giải thích với cán bộ, giáo viên và kịp thời rút kinh nghiệm, khắc phục thiếu sót nếu có.
Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc - cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát - giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ - Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
"Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence", anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). "Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới", PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A - B - C - D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng - sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi "Đáp án này có đúng không?" và sử dụng xác suất của token "yes" để đánh giá mức độ phù hợp. "Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB", anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. "Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế", ông Thơ nhận định.
Do thí sinh không được phép mang đề thi môn tiếng Anh ra khỏi phòng thi nên hướng dẫn giải đề thi sau đây là dựa vào những ghi chép của thí sinh về đề thi.
Câu 29. global
Câu 30. entertaining
Câu 31. patient
Câu 32. exhibition
Câu 33. illegally
Câu 34. explorers
Câu 35. break the habit
Câu 36. eating habits
Câu 37. Brenda wishes she had her own locker at school.
Câu 38. Lucie doesn't mind helping her friends with exercises after class.
Câu 39. The shop has run out of roses.
Câu 40. Although the project was practical, nobody wanted to carry it out.
Thạc sĩ Huỳnh Thanh Cát – Thạc sĩ Phùng Xuân Cường
Học sinh sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hay dùng văn mẫu cho các bài làm văn là chuyện thường tình trong trường học hiện nay. Thực trạng dạy học văn hiện nay vẫn là một bức tranh nhiều gam màu đan xen, vừa có sự đổi mới tích cực nhưng vẫn còn không ít những điều đáng suy ngẫm.
Việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã mở ra hướng tiếp cận mới: lấy học sinh làm trung tâm, đề cao năng lực đọc hiểu, cảm thụ và sáng tạo. Nhiều giờ học văn không còn bó hẹp trong khuôn khổ "thầy giảng – trò chép" mà trở thành không gian đối thoại, nơi học sinh được nói lên suy nghĩ của mình, được tranh luận, phản biện và kết nối văn học với đời sống. Không khó để bắt gặp những lớp học mà ở đó, một tác phẩm văn chương trở thành chiếc cầu nối để học sinh hiểu hơn về con người, về xã hội và chính bản thân mình.
Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu đáng mừng ấy, thực tế dạy học văn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Hầu hết giáo viên dạy văn luôn hiểu rằng điểm số trong các kỳ kiểm tra, kỳ thi là quan trọng nhất để đánh giá chất lượng môn học. Cái quỹ đạo ấy đã làm cho những tiết dạy học văn trong nhà trường mất đi cái ý nghĩa cảm thụ văn học để học sinh yêu những tác phẩm và xa hơn nữa là rung cảm và thưởng thức cái hay, cái đẹp của ngôn từ, hình ảnh và thông điệp của những trang văn.
Không ít nơi, dạy văn vẫn bị "công thức hóa" thành những dàn ý cứng nhắc, những bài văn mẫu. Học sinh học văn nhưng lại sợ văn, viết văn nhưng không dám viết khác. Những bài làm tròn trịa về bố cục nhưng thiếu vắng cảm xúc chân thật không phải là hiếm. Có thể nói, khi văn chương bị biến thành một môn học để "lấy điểm", thì cái hồn của nó cũng dần bị bào mòn. Thay vì rung động trước một câu thơ hay hay day dứt trước một số phận nhân vật, nhiều học sinh chỉ quan tâm "ý này có được điểm không", "viết thế này có đúng đáp án không".
Nguyên nhân của thực trạng ấy trước hết là sức nặng của thi cử – khi cách ra đề và chấm điểm vẫn còn thiên về chuẩn hóa sẽ tạo ra "lối mòn" trong dạy và học. Bên cạnh đó là quán tính của phương pháp giảng dạy cũ, khiến một bộ phận giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới. Ngoài ra, trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh, thói quen đọc sâu, đọc chậm của học sinh cũng dần mai một, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cảm thụ văn học.
Tạo không gian cho học sinh quyền được cảm, được nghĩ
Để môn văn thực sự trở về đúng giá trị của nó, cần có những thay đổi đồng bộ và bền vững.
Những giờ học văn nên được kết nối rộng mở hơn với thế giới bên ngoài thay vì gói gọn trong chương trình mà việc giới thiệu những tác phẩm hay của một tác giả, một giai đoạn để học sinh tìm đọc và có được cảm nhận của riêng mình đó chính là những sự liên hệ thực tế sinh động và hiệu quả.
Việc truyền cảm hứng đọc sách qua những tiết học văn có thể là một trong những phương thức để học sinh dần dần tiếp cận với cái hay cái đẹp của tác phẩm, hình thành được thói quen đọc sách ngay từ những năm tháng trên ghế nhà trường.
Việc kiểm tra, đánh giá cần cởi mở hơn, chấp nhận những cách hiểu đa dạng miễn là có lý lẽ thuyết phục. Giáo viên cần trở thành người khơi gợi, dẫn dắt hơn là áp đặt, giúp học sinh tìm thấy tiếng nói riêng của mình trong mỗi bài viết.
Quan trọng hơn cả, học sinh cần học cách đọc bằng trái tim, viết bằng suy nghĩ chân thật, thay vì phụ thuộc vào những khuôn mẫu có sẵn.
Khi việc dạy và học văn thoát khỏi những ràng buộc máy móc, trả lại cho học sinh quyền được cảm, được nghĩ và được sáng tạo, thì khi ấy, môn văn mới thực sự sống động và có ý nghĩa. Đó không chỉ là câu chuyện của một môn học, mà còn là câu chuyện của việc nuôi dưỡng những con người biết yêu cái đẹp, biết rung động và biết sống sâu sắc hơn giữa cuộc đời.