Vấn đề căn bản hơn là phải xác lập lại vị thế, sứ mệnh và cơ chế vận hành của đại học quốc gia (ĐHQG) trong cấu trúc phát triển mới của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một yêu cầu rất đúng lúc: ĐHQG phải dám đi trước, dám thử nghiệm, dám mở đường cho những mô hình mới về giáo dục, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây chính là điểm mấu chốt. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, nếu đại học chỉ vận hành như một đơn vị hành chính sự nghiệp thông thường, bị bó hẹp bởi những quy trình cứng nhắc, thì rất khó có thể tạo ra đột phá. Một đại học muốn sáng tạo thì trước hết phải được trao không gian để sáng tạo.
Muốn hai ĐHQG phát triển đúng tầm, trước hết phải tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế. Tự chủ đại học phải đi vào thực chất, không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu. Tự chủ không có nghĩa là nhà nước buông lỏng quản lý, mà là chuyển từ quản lý theo tiền kiểm, thủ tục và hành chính sang quản trị bằng chiến lược, chuẩn mực, chất lượng và trách nhiệm giải trình. ĐHQG cần được trao quyền chủ động cao hơn trong tổ chức bộ máy, mở ngành, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, hợp tác quốc tế, sử dụng tài sản công, khai thác nguồn lực xã hội và triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng điểm.
Không thể yêu cầu ĐHQG vươn lên nhóm hàng đầu khu vực và thế giới nếu nguồn lực đầu tư vẫn phân tán, manh mún và ngắn hạn. Các đại học nghiên cứu hàng đầu trên thế giới đều được xây dựng trên nền tảng đầu tư lớn, bền vững và có trọng tâm. Với hai ĐHQG, nhà nước cần đặt hàng các chương trình chiến lược trong những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới, khoa học sức khỏe, khoa học dữ liệu, an ninh mạng, công nghệ môi trường, khoa học giáo dục và chính sách công.
Đặc biệt, phải chuyển từ tư duy cấp kinh phí theo năm sang đầu tư theo nhiệm vụ chiến lược dài hạn. Nghiên cứu đỉnh cao không thể hình thành trong cơ chế nhiệm vụ ngắn hạn, thủ tục nặng nề và nguồn lực không ổn định. Muốn có sản phẩm khoa học lớn, phòng thí nghiệm mạnh, nhóm nghiên cứu xuất sắc, công nghệ có khả năng chuyển giao và doanh nghiệp spin-off từ đại học, thì phải có cơ chế tài chính đủ mạnh và đủ linh hoạt.
Nhân tài phải được đặt ở vị trí trung tâm nên ĐHQG phải là nơi hội tụ người giỏi, những nhà khoa học lỗi lạc. Nếu không có cơ chế đãi ngộ đặc biệt cho các nhà khoa học xuất sắc, các giảng viên trẻ tài năng, các chuyên gia VN ở nước ngoài và các nhà khoa học quốc tế, thì rất khó xây dựng đại học tinh hoa.
Cần có chính sách đủ mạnh để hình thành các nhóm nghiên cứu thực sự mạnh có tính dẫn dắt, các giáo sư đầu ngành, các phòng thí nghiệm trọng điểm và các trung tâm xuất sắc trong hai ĐHQG. Đối với những nhà khoa học có năng lực công bố quốc tế, năng lực dẫn dắt nhóm nghiên cứu, năng lực tạo ra công nghệ và đóng góp cho chính sách quốc gia, cần có cơ chế thu nhập, môi trường học thuật và quyền tự chủ tương xứng. Không thể đòi hỏi sản phẩm đẳng cấp quốc tế bằng một cơ chế nhân sự bình quân và hành chính hóa.
Hai ĐHQG phải chuyển mạnh sang mô hình đại học đổi mới sáng tạo. Đại học hiện đại không chỉ đào tạo và nghiên cứu, mà còn phải tạo ra giá trị mới cho xã hội. Tri thức trong đại học phải được chuyển hóa thành công nghệ, chính sách, doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lòng đại học, nơi sinh viên, giảng viên, nhà khoa học, doanh nghiệp, địa phương và nhà nước cùng tham gia giải quyết các bài toán thực tiễn. Đồng thời, ĐHQG phải là hai cơ sở giáo dục đại học mạnh nhất, đỉnh cao về khoa học cơ bản, bởi vì nếu khoa học cơ bản không đủ mạnh không thể làm chủ được các công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
Hai ĐHQG cần có các khu đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm đại học, khu thử nghiệm các sản phẩm công nghệ cao với cơ chế đặc biệt, cũng như cơ chế sở hữu trí tuệ thông thoáng, mô hình doanh nghiệp spin-off và các chương trình hợp tác sâu với doanh nghiệp lớn.
Cần gắn chặt phát triển ĐHQG với chiến lược phát triển vùng và phát triển quốc gia. ĐHQG Hà Nội có vai trò đặc biệt trong không gian phát triển thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng và trung tâm chính trị – văn hóa – khoa học của cả nước. ĐHQG TP.HCM có vai trò chiến lược trong vùng Đông Nam bộ.
Các ĐHQG thúc đẩy mạnh mẽ quốc tế hóa nhưng phải trên nền tảng bản sắc và lợi ích quốc gia. ĐHQG phải hội nhập sâu với thế giới, thu hút sinh viên và giảng viên quốc tế, tham gia các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu, nâng cao thứ hạng, mở rộng và khai thác hiệu quả kênh đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân, hợp tác với các đại học hàng đầu, với các nhà khoa học hàng đầu. Tuy nhiên, hội nhập không có nghĩa là sao chép mô hình bên ngoài một cách cơ học. Đại học VN phải tiếp thu tinh hoa thế giới để giải quyết vấn đề của VN, xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ cho VN, phục vụ sự phát triển của đất nước và đóng góp tiếng nói học thuật của VN vào tri thức nhân loại.
Ngày 13-4, Đại học Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học "Dạy và học toán trong kỷ nguyên công nghệ" quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước cùng mổ xẻ câu hỏi "Học toán để làm gì?".
"AI có thể giải bài trong vài giây, thậm chí tốt hơn con người, vậy học toán còn cần thiết?" là câu hỏi được bàn luận sôi nổi tại hội thảo.
GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai - Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM - đặt ra 3 vấn đề: Học toán để làm gì? Làm thế nào để toán học trở thành động lực phát triển của các ngành? Cần đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy ra sao để đón đầu xu hướng toàn cầu?
Bà Mai nhấn mạnh trong bối cảnh khoa học - công nghệ tăng tốc chưa từng có và trở thành động lực cốt lõi của nền kinh tế tri thức, năng lực cạnh tranh quốc gia không còn nằm ở tài nguyên hay lao động, mà phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ.
Trong bức tranh đó, toán học không chỉ là nền tảng mà còn là "hạ tầng vô hình" nâng đỡ toàn bộ hệ sinh thái công nghệ.
Sáu nhóm công nghệ chiến lược như mô hình ngôn ngữ lớn, AI, robot tự hành đến blockchain, 5G hay thiết bị bay không người lái đều dựa trên các cấu trúc toán học.
Ngay cả những lĩnh vực mũi nhọn như bán dẫn, y sinh, vật liệu mới hay năng lượng cũng không thể tách rời toán học.
"Điều này cho thấy nếu không phát triển toán học một cách đúng mức và đúng hướng sẽ rất khó để tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Tuy nhiên, khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế vẫn còn rõ rệt.
Việt Nam có nhiều học sinh giỏi toán nhưng việc kết nối toán học với công nghệ và ứng dụng thực tiễn trong đào tạo vẫn hạn chế. Trong khi đó, xu hướng quốc tế đang chuyển mạnh sang tích hợp liên ngành và đề cao khả năng vận dụng", bà Mai cho biết.
Từ thực tế này, GS Thanh Mai cho rằng vấn đề đặt ra không còn là chỉnh sửa từng học phần riêng lẻ mà là "thiết kế lại con đường học toán". Làm sao có một lộ trình xuyên suốt từ phổ thông đến sau đại học, giúp người học hình thành các năng lực cốt lõi như mô hình hóa, xác suất - thống kê, tối ưu, thuật toán, khoa học dữ liệu và tư duy liên ngành.
Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM cho rằng cần một sự chuyển dịch đồng bộ trên ba phương diện: từ dạy toán như một hệ thống tri thức khép kín sang dạy như một năng lực giải quyết vấn đề mở; từ đào tạo phân tách giữa các bậc học sang một lộ trình liên thông phát hiện - bồi dưỡng - phát triển nhân tài; từ tư duy cung cấp chương trình theo năng lực sẵn có sang đào tạo gắn với nhu cầu của các bài toán công nghệ chiến lược.
Các chuyên gia cho rằng toán học đang chuyển đổi vai trò từ một ngành khoa học nền tảng trở thành "ngôn ngữ thiết kế của công nghệ" và "hạ tầng tri thức của đổi mới sáng tạo". Vấn đề không nằm ở việc có nên học toán hay không, mà là học như thế nào trong kỷ nguyên công nghệ.
Nếu toán học vẫn chỉ được dạy như một hệ thống công thức khép kín, Việt Nam sẽ khó đi nhanh trong cuộc đua công nghệ. Nhưng nếu được "thiết kế lại" đúng hướng, toán học có thể trở thành nền móng cho cả một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
GS Vũ Hà Văn - Đại học Hong Kong, Giám đốc khoa học VinIF - nhấn mạnh rằng trong kỷ nguyên AI và dữ liệu lớn, toán học hiện diện trong mọi đột phá, từ mô hình học sâu, phân tích dữ liệu đến tối ưu hệ thống.
Tuy nhiên nhiều chương trình đào tạo vẫn nặng lý thuyết, chậm cập nhật dẫn đến việc sinh viên phải "học lại" khi bước vào các lĩnh vực công nghệ cao. "Đổi mới cách dạy và học toán không còn là câu chuyện riêng của giáo dục mà trở thành một bài toán mang tầm quốc gia", GS Văn nói.
Ngày 14-7, Phó thủ tướng Lê Tiến Châu dự Hội nghị công bố quyết định của Thủ tướng điều động, bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Phó thủ tướng Lê Tiến Châu chúc mừng ông Đoàn Trung Kiên và ông Phạm Quang Hưng được Thủ tướng quyết định bổ nhiệm giữ chức vụ mới. Việc kiện toàn 2 thứ trưởng diễn ra vào thời điểm ngành giáo dục và đào tạo đang đứng trước những thử thách và kỳ vọng lớn.
Thế giới đang thay đổi từng ngày, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất, quản trị và đời sống của xã hội. Đồng thời đặt ra yêu cầu phải đổi mới căn bản tư duy, nội dung và phương pháp quản trị giáo dục.
Trong nước, Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đang chuyển sang giai đoạn tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và tạo ra những kết quả thực chất.
Yêu cầu đặt ra là những chủ trương, chính sách đúng đắn phải được chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể.
Vì vậy việc kiện toàn lãnh đạo hôm nay góp phần bổ sung năng lực tổ chức thực hiện và đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, điều hành của bộ và của ngành giáo dục và đào tạo.
Phó thủ tướng đề nghị hai tân thứ trưởng luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc.
Đồng thời cần đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển giáo dục; thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhà giáo, nhà khoa học, người học, phụ huynh, doanh nghiệp và địa phương.
Bên cạnh đó, Phó thủ tướng đề nghị Bộ trưởng và tập thể lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm phân công nhiệm vụ phù hợp, phát huy cao nhất năng lực, kinh nghiệm và sở trường của từng lãnh đạo.
Với việc được bổ sung thêm 2 lãnh đạo trẻ, có năng lực, có tâm huyết và đặc biệt là trưởng thành từ ngành giáo dục và từ địa phương, Phó thủ tướng tin tưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Thủ tướng phân công.
Cùng với Bắc Ninh và Lạng Sơn, các tỉnh Hưng Yên, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Trị và Lai Châu tiếp tục tổ chức các môn thi cuối cùng của hệ THPT đại trà và thi vào lớp chuyên năm nay.
Tại Bắc Ninh, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT diễn ra trong 3 ngày, từ 26 đến 28/5.
Thí sinh dự thi 3 môn gồm toán, ngữ văn và tiếng Anh. Theo kế hoạch tuyển sinh năm học 2026-2027, toàn tỉnh dự kiến tuyển gần 41.000 chỉ tiêu lớp 10 THPT.
Trong số này, khối trường công lập tuyển gần 31.900 học sinh, còn lại khoảng 9.100 chỉ tiêu thuộc các trường tư thục.
Đây là một trong những địa phương có quy mô tuyển sinh lớn ở khu vực phía Bắc.
Cùng thời điểm trên, tại Lạng Sơn, hơn 11.000 học sinh lớp 9 dự thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm nay.
Theo lịch thi, sáng 26/5, thí sinh thi môn ngữ văn trong thời gian 120 phút; buổi chiều thi môn tiếng Anh trong 60 phút. Ngày 27/5, thí sinh làm bài thi môn toán với thời gian 120 phút.
Ngày 28/5 dành cho các thí sinh đăng ký dự thi vào lớp 10 Trường THPT Chuyên Chu Văn An và các trường phổ thông dân tộc nội trú với các bài thi môn chuyên theo quy định.
Cũng trong ngày hôm nay, nhiều tỉnh đã bước sang ngày thi thứ hai hoặc tổ chức các môn thi chuyên.
Theo ghi nhận, các địa phương đều tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn tại điểm thi, đồng thời hỗ trợ thí sinh ở vùng xa, khu vực khó khăn di chuyển thuận lợi trong thời gian diễn ra kỳ thi.
Năm nay, tuyển sinh lớp 10 tiếp tục là kỳ thi nhận được sự quan tâm lớn của phụ huynh và học sinh cả nước, đặc biệt trong bối cảnh nhiều địa phương có số lượng học sinh tăng nhanh và nhu cầu vào trường công lập tiếp tục ở mức cao.
Dân trí cập nhật liên tục đề thi và đáp án gợi ý sau mỗi buổi thi. Bạn đọc đón xem tại: Đề thi và đáp án thi lớp 10 năm 2026 của tất cả 34 tỉnh, thành.