Đọc bài viết “Tôi hối hận vì tuổi 60 sức cùng lực kiệt mới dám nghỉ hưu” tôi hiểu đó là tâm trạng của rất nhiều người, trong đó có cả những người thân quen quanh mình. Họ làm việc gần như cả đời, đến khi có thời gian nghỉ ngơi thì sức khỏe đã đi xuống, con cái trưởng thành, nhiều khoảnh khắc đẹp của cuộc sống cũng đã lặng lẽ trôi qua.
Nhưng tôi cho rằng điều đáng tiếc không hẳn nằm ở việc làm việc quá lâu, mà ở cách chúng ta sống trong suốt quãng thời gian ấy. Tôi chưa bao giờ tin có một độ tuổi cố định gọi là “tuổi để sống”, cũng không nghĩ nghỉ hưu đồng nghĩa với việc dừng lại mọi giá trị của bản thân. Một người có thể rời công sở, nhưng không nhất thiết phải rời bỏ niềm vui cống hiến hay cảm giác mình vẫn hữu ích.
Tôi từng rất ấn tượng với những người lớn tuổi vẫn làm việc đầy năng lượng. Nguyễn Hiến Lê gần như viết và dịch sách đến cuối đời. Giáo sư Võ Tòng Xuân ngoài 80 tuổi vẫn đau đáu với giáo dục và nông nghiệp. Trên thế giới, Warren Buffett hay Haruki Murakami vẫn lao động trí tuệ bền bỉ ở độ tuổi mà nhiều người chỉ nghĩ đến nghỉ ngơi…
Điểm chung ở họ là không xem công việc như một cực hình để chờ ngày giải thoát. Làm việc với họ là một phần tự nhiên của đời sống, không phải gánh nặng phải chịu đựng. Vì vậy, tôi nghĩ sẽ rất nguy hiểm nếu xã hội đi đến kết luận rằng làm việc chăm chỉ là nguyên nhân dẫn đến bất hạnh tuổi già. Một đất nước khó phát triển nếu ai cũng chỉ mong nghỉ sớm. Những thế hệ đi trước đã xây dựng xã hội bằng tinh thần trách nhiệm, tận tụy và rất nhiều hy sinh.
>> Tôi làm ngân hàng lương 20 triệu nhưng 8 giờ tối mới được về nhà
Theo tôi, điều cần nhìn lại là lối sống cực đoan mà nhiều người đang mặc nhiên chấp nhận: xem kiệt sức là thành tích, xem thức khuya triền miên là nỗ lực, xem bỏ bê gia đình là biểu hiện của trách nhiệm.
Có giai đoạn tôi cũng từng nghĩ cố thêm vài năm nữa, đạt thêm một mục tiêu nữa, rồi sẽ dành thời gian cho bản thân. Nhưng càng trưởng thành, tôi càng nhận ra một người phải học được cách cân bằng ngay trong hiện tại. Không ai cấm chúng ta làm việc nghiêm túc mà vẫn chăm sóc sức khỏe. Không ai ngăn một người cha hoàn thành công việc nhưng vẫn ăn cơm cùng con cái. Cũng không ai bắt con người phải đợi đến khi đổ bệnh mới biết quý trọng giấc ngủ hay một buổi đi bộ.
Sai lầm của nhiều người là đánh mất khả năng cảm nhận cuộc sống trong lúc đang sống. Có những người thu nhập không quá cao nhưng tối nào cũng tập thể dục, cuối tuần dành thời gian cho gia đình, vẫn giữ được bạn bè và sự bình an trong tâm trí. Đến tuổi già, họ có thể không quá giàu nhưng đời sống tinh thần đầy đặn. Ngược lại, cũng có người sở hữu nhà cửa, tiền tiết kiệm nhưng tâm hồn trống rỗng vì cả đời chỉ biết chạy theo mục tiêu vật chất. Đó là tâm lý trì hoãn hạnh phúc.
Rất nhiều người, kể cả người trẻ, luôn tự nhủ: “Ráng thêm vài năm nữa thôi”. Ráng kiếm đủ tiền rồi mới tận hưởng cuộc sống. Ráng lên chức rồi mới nghỉ ngơi. Ráng mua được nhà rồi mới thấy mình hạnh phúc. Nhưng nếu hôm nay chúng ta còn không biết tận hưởng một bữa cơm gia đình, một buổi sáng khỏe mạnh hay một cuộc trò chuyện tử tế với người thân, thì chưa chắc đến tuổi nghỉ hưu đã biết sống hạnh phúc.
Hạnh phúc không phải phần thưởng đặt ở cuối con đường. Nó phải là cảm giác hiện diện trong từng ngày sống. Một người có thể rất bận nhưng vẫn hạnh phúc. Một người có thể làm việc cường độ cao nhưng vẫn khỏe mạnh nếu biết giữ cân bằng thể chất và tinh thần. Và một người chưa nghỉ hưu vẫn có thể an nhiên nếu mỗi ngày đều sống có ý nghĩa.
Điều xã hội cần, theo tôi, không phải là cổ vũ nghỉ ngơi càng sớm càng tốt, mà là xây dựng một lối sống lành mạnh hơn: làm việc hiệu quả thay vì làm đến kiệt sức; tôn trọng thời gian dành cho gia đình; chăm sóc sức khỏe như một trách nhiệm; không thần thánh hóa sự bận rộn và cũng không lấy hy sinh bản thân làm thước đo thành công.
Một người biết nghỉ đúng lúc trong mỗi ngày sẽ không cần chờ đến tuổi 60 mới bắt đầu sống. Vì cuối cùng, điều chúng ta cần không phải là một ngày nào đó mới được hạnh phúc, mà là sống trọn vẹn ngay từ hôm nay – khỏe mạnh hơn, cân bằng hơn, có ích hơn và bình an hơn trong từng khoảnh khắc của cuộc đời.
Hồi tháng 3 năm nay, khi giá vàng liên tục lập đỉnh mới, đi đâu tôi cũng nghe bàn chuyện vàng. Trên mạng xã hội, trong các cuộc trò chuyện với bạn bè, đồng nghiệp, ai cũng nói giá vàng còn tăng nữa. Nhiều người dự đoán vàng sẽ sớm lên 200 triệu đồng một lượng, thậm chí có ý kiến cho rằng mức 250 triệu đồng vào cuối năm không phải điều quá xa vời.
Tôi cũng bị cuốn vào những viễn cảnh màu hồng ấy nên quyết định xuống tiền mua 10 lượng vàng giá 185 triệu đồng một lượng. Lúc đó, trong đầu tôi chỉ nghĩ đến viễn cảnh vài tháng sau, giá vàng tiếp tục tăng mạnh và khoản đầu tư của mình sẽ sinh lời lớn. Nhưng thị trường lại khiến tôi trả cái giá quá đắt.
Thay vì tăng lên như kỳ vọng, giá vàng liên tục điều chỉnh giảm. Những nhịp đầu, tôi còn cho rằng chỉ là tạm thời, tự an ủi mình rằng "vàng kiểu gì cũng sẽ tăng trở lại vì chiến sự thế giới còn bất ổn". Thế nhưng càng chờ tôi càng tuyệt vọng. Hôm nay, giá vàng miếng trong nước đã giảm về quanh mức 156,5 triệu đồng một lượng, thấp nhất kể từ đầu năm. Số tiền tôi bỏ ra mua 10 lượng vàng giờ bốc hơi một khoản không hề nhỏ (khoảng 285 triệu đồng).
>> 'Tôi mua vàng tích trữ vì không biết đầu tư gì'
Tôi không dám bán vì sợ phải chấp nhận thua lỗ. Nhưng nếu tiếp tục giữ thì cũng không biết đến bao giờ giá mới quay lại mức mình đã mua? Thế là số vàng ấy nằm yên trong ngăn tủ, còn tôi ngày nào cũng tự dằn vặt mình bằng những câu hỏi.
Tôi từng đọc nhiều cảnh báo rằng không có loại tài sản nào chỉ tăng mà không giảm. Nhưng khi đứng trước cơ hội kiếm tiền, người ta thường dễ tin vào những thông tin củng cố niềm tin của mình hơn là những lời cảnh báo rủi ro. Và tôi đã lao vào thị trường khi mọi người đều đang hưng phấn nhất, để rồi "đu đỉnh".
Khoản lỗ hiện tại chưa phải là dấu chấm hết. Có thể một ngày nào đó giá vàng sẽ quay lại mốc tôi đã mua, thậm chí cao hơn. Nhưng cũng có thể tôi sẽ không bao giờ lấy lại được số tiền đã mất. Liệu tôi có nên tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi hay bán cắt lỗ để đầu tư vào thứ khác an toàn hơn?
"Chỗ tôi ở, chủ dãy trọ chuyển quyền kinh doanh sang cho bên thứ hai, giá phòng tăng thêm 700 nghìn đồng một tháng, nước từ 10 nghìn đồng một mét khối lên 25 nghìn đồng một khối, điện 3.5 nghìn đồng một kWh. Dịch vụ vệ sinh thì quá tệ, không bằng chủ xưa".
Độc giả nickname namhongstore cho biết như trên, sau bài viết Người ở trọ chật vật khi giá thuê nhà tăng cao, theo đó chi phí trọ ở TP HCM tăng khiến nhiều người thuê gặp khó.
Khảo sát của VnExpress cho thấy, một năm qua, giá thuê phòng trọ tại nhiều khu vực TP HCM tăng 10-20%, đặc biệt ở phân khúc bình dân và phòng dịch vụ.
Độc giả nickname Chip co don3 nói: "Chỗ tôi đã không còn phòng giá dưới 2 triệu đồng từ trước dịch Covid-19 rồi, mà phòng chỉ rộng hơn 13 m2 có gác, phòng rộng 18m2 giá thuê phải trên 3 triệu đồng một tháng".
Dữ liệu từ Batdongsan cho thấy đến tháng 4, giá thuê phòng trọ tại khu vực nội thành tăng bình quân khoảng 6% so với cùng kỳ năm ngoái, ngoại thành tăng khoảng 8%. Phân khúc căn hộ cho thuê tăng 10-15%, còn căn hộ dịch vụ tăng thêm 2-3%.
Độc giả Lê Văn Tèo: "Mô hình kinh doanh trọ đang chững do phí thổ cư quá cao trong khi giá mặt bằng tiền thuê hiện tại khó có thể thu hồi vốn, nếu không phát triển được thì cầu sẽ vượt cung, giá thuê sẽ bị đẩy lên cao và người thuê sẽ rơi vào thế bị động do ít sự lựa chọn".
Nêu những lý do khác, độc giả nickname docnhatvonhi404 nói: "Nếu có nhiều phòng trọ cho thuê, còn phải lắp hệ thống chống cháy, hệ thống an toàn, phòng xuống cấp... thì mới nhìn ra lý do giá cho thuê tăng".
Tuy nhiên, vẫn có một số chủ nhà trọ không tăng giá. Độc giả Le Duc Tuan chia sẻ: "Nhà tôi cho thuê trọ sinh viên khu vực Gò Vấp, 5 năm nay mới dám tăng 10% (1,8 triệu đồng lên 2 triệu đồng) mà còn thấy áy náy, nhiều người tăng cả triệu đồng thì căng thật".
Tương tự, độc giả nickname vuthithu140383 chia sẻ: "Ba mẹ tôi cho thuê trọ ở Bình Chánh, giảm giá từ dịch Covid-19 tới giờ không tăng, Tết nhất đều có quà cho người thuê. Lý do là cần người ở lâu dài, khách làm công nhân, lương cũng không cao, giá trọ cao quá khách lại bỏ mình, người khác tới chưa chắc là tốt".
Độc giả nickname Chip co don3 đề xuất: "Tôi nghĩ cơ quan quản lý phải xây dựng những căn chung cư tầm 7-8 tầng với mỗi phòng diện tích tối thiểu trên 30 m2 rồi cho người dân thuê với giá hợp lý (không bán, chỉ cho thuê lâu dài) không cho thuê mướn lại để tránh sang tay".
"Mỗi lần đọc tranh luận 'nên thuê hay mua nhà?', tôi thấy có một áp lực vô hình rằng bằng mọi giá phải sở hữu một căn nhà càng sớm càng tốt, nếu không sẽ bị coi là bấp bênh, thiếu ổn định. Nhưng với cá nhân tôi, thuê hay mua đơn giản chỉ là lựa chọn sống của mỗi người mà thôi.
Tôi đi thuê nhà gần 20 năm nay và chưa bao giờ thấy cuộc sống của mình bất ổn như nhiều người vẫn tưởng tượng. Thậm chí, tôi thấy giai đoạn còn trẻ, con còn nhỏ mới là lúc cần tiền để đầu tư cho chất lượng sống và học hành để lo cho tương lai của con cái, chứ căn nhà xét cho cùng cũng chỉ là nơi để đi về. Tôi không muốn vì áp lực mua nhà mà phải thắt lưng buộc bụng suốt nhiều năm, để rồi con cái thiếu thốn đủ thứ: ăn uống dè sẻn, ít được trải nghiệm, không được học hành hay vui chơi bằng bạn bè đồng trang lứa. Theo tôi, đó mới là điều đáng suy nghĩ với những người làm cha mẹ.
Nhiều người nói thuê nhà là sống trong cảm giác tạm bợ vì phụ thuộc chủ nhà. Nhưng trải nghiệm của tôi lại hoàn toàn trái ngược. Với tôi, người trả tiền mới là người có quyền lựa chọn. Tôi thường thuê những căn hộ mới, có sẵn nội thất cơ bản, chỉ cần mang quần áo đến ở. Đồ đạc hỏng thì chủ nhà sửa, nhà xuống cấp hoặc ở không còn phù hợp thì tôi chuyển sang nơi khác.
Có thời gian, tôi chuyển nhà chỉ vì thấy hàng xóm không thân thiện hoặc khu vực an ninh không tốt. Mọi thứ diễn ra khá nhẹ nhàng, không phải đau đầu chuyện sửa chữa, bảo trì hay gánh nặng tài chính kéo dài hàng chục năm. Và một điều tôi thích khi thuê nhà là gia đình mình luôn có cơ hội ở những căn nhà mới, phù hợp với từng giai đoạn cuộc sống.
>> 10 năm sống trong nợ nần khi tôi mua chung cư Hà Nội
Tôi cũng không đồng tình với quan điểm cho rằng mua nhà sẽ giúp con cái ổn định chuyện học hành hơn. Thực tế, từ mẫu giáo đến hết phổ thông rồi đại học, chuyện thay đổi môi trường học tập vài lần là bình thường. Nếu đã mua nhà cố định ở một nơi, nhiều gia đình lại phải chấp nhận cảnh con đi học xa vì không thể chuyển đến gần trường. Trong khi đó, tôi chọn cách rất đơn giản: con học ở đâu thì thuê nhà gần trường ở đó.
Nhờ vậy mà con tôi không phải dậy từ tinh mơ để chen chúc xe cộ hay ngáp ngắn ngáp dài đứng đợi xe đưa đón từ 5h30-6h sáng như tôi vẫn thường thấy mỗi ngày khi đi tập thể dục. Trong khi đó, nhiều đứa trẻ còn rất nhỏ nhưng đã phải bắt đầu ngày mới trong trạng thái mệt mỏi chỉ vì quãng đường đi học quá xa. Còn con tôi, 6h sáng vẫn ngủ ngon lành trong chăn, 6h30 dậy vệ sinh cá nhân, ăn sáng tử tế rồi đi bộ khoảng 5 phút là tới trường. Với tôi, đó mới là sự ổn định và chất lượng sống thực sự.
Đúng là việc sở hữu một căn nhà mang lại cảm giác an tâm với không ít người. Nếu đủ khả năng tài chính mà vẫn duy trì được cuộc sống thoải mái thì đó là lựa chọn rất tốt. Nhưng tôi nghĩ không nên mặc định rằng ai chưa mua nhà cũng là sống tạm bợ hay thiếu trách nhiệm với tương lai. Có người chọn dồn toàn lực để sở hữu tài sản sớm. Có người ưu tiên trải nghiệm sống, giáo dục con cái và sự linh hoạt trong nhiều năm đầu đời. Mỗi lựa chọn đều có cái giá và giá trị riêng.
Xét cho cùng, căn nhà vốn dĩ cũng chỉ là chỗ chui ra chui vào, sao phải khổ vì nó?".
Đó là quan điểm của độc giả Vuhaianh sau bài viết "10 năm sống trong nợ nần khi tôi mua chung cư Hà Nội" của tác giả Doan NH. Trong bối cảnh giá nhà tại Hà Nội ngày càng leo thang, nhiều gia đình trẻ phải vay nợ hàng chục năm để đổi lấy một căn hộ nhỏ, câu chuyện nên thuê hay mua nhà vẫn luôn gây tranh luận. Áp lực phải mua nhà ở các thành phố lớn đang khiến nhiều người trẻ chấp nhận sống chật vật suốt hàng chục năm chỉ để đổi lấy cảm giác "an cư".
Dữ liệu từ Numbeo 2026 - nền tảng thống kê chi phí sinh hoạt toàn cầu - cho thấy chỉ số giá nhà trên thu nhập (Price to Income Ratio) của Việt Nam ở mức khoảng 30-32,8 lần, thuộc nhóm cao nhất châu Á và nằm trong top 10 quốc gia khó mua nhà nhất thế giới. Riêng TP HCM, chỉ số này khoảng 32 lần, còn Hà Nội khoảng 31 lần. Điều này đồng nghĩa một hộ gia đình phải mất hơn 30 năm thu nhập mới có thể mua được nhà nếu không chi tiêu cho các nhu cầu khác.
Trong khi đó, nguồn cung nhà ở, đặc biệt phân khúc bình dân, ngày càng khan hiếm dù nhu cầu ở thực vẫn lớn. Căn hộ dưới 35 triệu đồng mỗi m2 gần như biến mất, còn căn hộ trung cấp diện tích 70 m2 hiện phổ biến ở mức 5-7 tỷ đồng.