Có một chi tiết trong báo cáo của Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 khiến tôi phải dừng lại rất lâu: gần một nửa số cuộc gọi trong tháng 4/2026 là do chính trẻ em tự gọi đến để cầu cứu, không phải người lớn phát hiện rồi lên tiếng. 46.111 cuộc gọi trong một tháng là số lần trẻ em cố gắng phát tín hiệu giữa cảm giác cô độc, hoảng loạn và bế tắc. Nghiêm trọng hơn, gần 75% trong số các ca bạo lực này lại do chính người thân trong gia đình như bố mẹ, chú bác, ông bà gây ra.
Có em gọi vì bị bạo hành trong chính ngôi nhà của mình. Có em run rẩy kể về những dòng xúc phạm trên mạng xã hội. Có em mới 13-14 tuổi đã nói về chuyện tự làm đau bản thân như một cách giải thoát. Có em bật khóc vì áp lực thi cử, vì sợ làm bố mẹ thất vọng, vì cảm thấy mình “không đủ tốt” dù đã cố gắng đến kiệt sức. Và đau lòng nhất là nhiều em nói rằng mình không biết phải tâm sự với ai trước khi gọi đến một số điện thoại xa lạ.
Người lớn thường hay an ủi nhau rằng trẻ con bây giờ “sướng hơn ngày xưa”. Đúng là các em có điều kiện sống tốt hơn, được tiếp cận công nghệ sớm hơn, đầy đủ vật chất hơn, nhưng áp lực lại lớn hơn nhiều. Không ít cha mẹ ở cạnh con cả ngày nhưng lại chẳng thực sự biết con đang nghĩ gì, sợ gì, tổn thương vì điều gì? Chúng ta đầu tư cho con học thêm, học kỹ năng, học ngoại ngữ, nhưng lại ít khi dạy con cách đối diện với thất bại, nỗi buồn hay cảm giác bị bỏ rơi.
Một đứa trẻ nếu cảm thấy an toàn trong chính gia đình mình, thường sẽ không phải ôm điện thoại khóc với người chưa từng gặp mặt để hỏi: “Cô ơi, cháu phải làm sao bây giờ?”. Câu hỏi ấy không chỉ cho thấy khủng hoảng tâm lý của trẻ em đang gia tăng, mà còn phản chiếu khoảng trống lắng nghe đang tồn tại trong nhiều gia đình và trường học hiện nay.
Phần lớn trẻ bị bạo lực lại tổn thương bởi chính những người thân gần gũi nhất – cha mẹ, ông bà, người chăm sóc. Đây là sự thật không dễ nghe, bởi gia đình vốn được xem là nơi an toàn nhất của một đứa trẻ. Nhưng cũng chính vì trẻ yêu và phụ thuộc vào gia đình nhiều nhất, nên những tổn thương đến từ người thân thường để lại vết hằn sâu nhất.
Nhiều người lớn vẫn nghĩ bạo lực trẻ em chỉ là những trận đòn để lại thương tích trên cơ thể. Thực ra, có những kiểu tổn thương không để lại vết bầm ngoài da, nhưng theo một đứa trẻ suốt nhiều năm trưởng thành. Đó là những lời nói lặp đi lặp lại mỗi ngày: “Có mỗi chuyện học cũng không xong”, “sao không được như con nhà người ta?”, “mày làm bố mẹ mất mặt”, “nín đi, có gì đâu mà khóc”… Người lớn nhiều khi nói trong lúc nóng giận rồi quên rất nhanh. Nhưng trẻ con thì khác, các em thường mang theo những câu nói ấy như một phần cách nhìn về chính bản thân mình.
Một đứa trẻ bị chê bai quá lâu sẽ không còn cố gắng để tốt hơn, mà bắt đầu tin rằng mình thật sự vô dụng. Một đứa trẻ liên tục bị phủ nhận cảm xúc sẽ dần học cách im lặng, vì nghĩ rằng nỗi buồn của mình là phiền phức. Và nguy hiểm nhất là khi trẻ không còn tìm thấy sự an toàn trong chính gia đình, các em sẽ đi tìm cảm giác được công nhận ở nơi khác – đôi khi là mạng xã hội, những mối quan hệ độc hại, những hành vi tự hủy hoại bản thân để giải tỏa áp lực.
Có một nghịch lý rất phổ biến trong nhiều gia đình hiện nay: cha mẹ sẵn sàng đầu tư rất nhiều tiền cho việc học của con, nhưng lại rất ít đầu tư thời gian để hiểu đời sống tinh thần của con. Nhiều phụ huynh thuộc lịch học thêm của con hơn thuộc tâm trạng của con. Có người biết chính xác tháng này con cần thi chứng chỉ gì, nhưng không nhớ lần gần nhất hai mẹ con ngồi nói chuyện thật lòng với nhau là khi nào?
Không ai sinh ra đã biết cách làm cha mẹ. Nhưng trong một xã hội mà trẻ em đang chịu áp lực ngày càng lớn, người lớn cũng cần học lại cách yêu thương con đúng cách. Đôi khi, điều giúp trẻ vượt qua khủng hoảng chỉ đơn giản là cảm giác rằng dù chuyện gì xảy ra, vẫn có một mái nhà chịu lắng nghe và ôm lấy mình. Bởi với trẻ em, gia đình không chỉ là nơi để lớn lên mà còn là nơi quyết định chúng sẽ nhìn bản thân mình bằng ánh mắt yêu thương hay đầy mặc cảm trong suốt quãng đời còn lại.
Hà Nội đang vào cao điểm nắng nóng với nhiệt độ trên 40 độ C. Tôi đã có dịp trải nghiệm cái nắng nóng của Hà Nội và đánh giá cá nhân thật sự khó chịu, nếu không muốn nói là khắc nghiệt. Cái nóng hầm hập ngay cả khi vào 9-10 h tối, có nghĩa là mặt trời đã tắt nắng vài tiếng đồng hồ.
Trong khi đó, ở TP HCM thì ngược lại, chỉ cần mặt trời lặn là không khí bắt đầu dịu đi, mát mẻ ngay, sướng nhất là được hưởng những cơn gió trời thổi đến. Tôi thấy nhiều người bảo rằng ở Hà Nội nóng hầm hập cả ngày lẫn đêm là vì nhiệt tỏa ra từ mặt đường, tường nhà, cục nóng điều hòa...
Nhưng những yếu tố đô thị hóa này ở TP HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng vẫn có. Vậy yếu tố nào khiến cho thời tiết mùa hè ở Hà Nội nóng đến vậy?
Một buổi chiều cách đây một tuần, tôi tấp xe máy vào lề, trên một con đường ở phường Thủ Đức, TP HCM để xem tin nhắn điện thoại. Khu vực này đường vắng, đậu rất nhiều xe van giao hàng chờ "nổ cuốc".
Đang nghĩ nội dung trả lời tin nhắn cho khách hàng thì tôi nghe được đoạn hội thoại của một tài xế shipper như sau:
"Alo, anh A đặt giao hàng phải không, app lấy chiết khấu cao quá, anh hủy cuốc đi rồi em đến lấy hàng, em lấy giá rẻ hơn cho".
Không rõ đâu dây bên kia nói gì, nhưng tài xế lên xe chạy đi ngay. Tôi đoán là người đặt giao hàng qua ứng dụng đồng ý "đi đêm" với tài xế.
Chứng kiến câu chuyện này, tôi có nhiều suy nghĩ:
Vì sao người dùng đồng ý "đi đêm" với shipper? Có phải các ứng dụng giao hàng đang lấy chiết khấu quá cao, khiến các shipper không sống nổi với nghề?
Về mặt người dùng, có thể tiết kiệm được một khoản nhỏ, tài xế tránh được phí, nhưng rủi ro về đơn hàng thì thế nào?
Điều này có làm méo mó cách vận hành của các nền tảng giao hàng hay không?
Trong buổi cà phê với một đồng nghiệp người nước ngoài, thấy tôi nói về khoản tiết kiệm để mua nhà, bạn thắc vì sao tôi đã có nhà rồi còn cố mua thêm? Tôi giải thích rằng có hai đứa con trai nên cố gắng tích góp cho mỗi đứa một cái nhà thừa kế sau này. Bạn nhìn tôi với vẻ đầy ngạc nhiên.
Tôi trả lời rằng ở Việt Nam, nhiều cha mẹ vẫn như vậy. Người ta thường dành cả đời làm việc, tiết kiệm, mua thêm đất, thêm nhà để lại cho con cháu. Nghe xong, bạn lắc đầu: "Ở chỗ tôi, con cái 18 tuổi là phải tự lo hết. Chúng tôi không lớn lên với suy nghĩ sẽ có tài sản thừa kế từ bố mẹ. Mỗi thế hệ đều tự xây dựng cuộc sống của mình".
Bạn kể rằng ở nơi bạn lớn lên, con cái đến tuổi trưởng thành đều phải tự lập: học đại học có thể đi làm thêm, ra trường tự lo cuộc sống, mua nhà hay thuê nhà đều là việc của mình. Cha mẹ nếu có điều kiện thì hỗ trợ lúc khởi đầu, còn chuyện để lại tài sản là lựa chọn chứ không phải trách nhiệm. Thay vào đó, người ta ưu tiên dùng tiền tích lũy để tự lo cho tuổi già của mình, không phải làm phiền đến con cái.
Điều này gần như trái ngược với ở ta. Ngay cả khi tuổi đã cao, nhiều người vẫn tiếp tục làm lụng, tiết kiệm, từ chối chi tiêu cho bản thân vì sợ "ăn vào phần của con". Có người cả đời chưa từng đi du lịch, không dám mua món đồ mình thích, cũng chỉ vì muốn tài sản thừa kế sau này nhiều hơn một chút.
>> Tôi sẵn sàng bán nhà giá rẻ cho con chứ không chia thừa kế sớm
Ở Việt Nam, khi cha mẹ có tài sản, câu chuyện chia cho ai, để lại bao nhiêu đôi khi được nhắc đến từ rất sớm. Dường như việc được thừa kế đã trở thành một kỳ vọng âm thầm trong nhiều gia đình. Người ta tin rằng để lại tài sản là giúp con bớt vất vả, có nền tảng tốt hơn để xây dựng cuộc sống.
Nhưng tình thương ấy đôi khi cũng tạo ra một áp lực ngược cho chính cha mẹ. Có người làm việc đến kiệt sức dù tuổi đã cao. Nhiều người sống rất tằn tiện, không dám hưởng thành quả sau mấy chục năm lao động vì luôn nghĩ phải để dành. Trong khi đó, con cái đã trưởng thành, có công việc và thu nhập riêng.
Sau cuộc trò chuyện đó, đến giờ tôi vẫn không biết lựa chọn nào mới là đúng? Có lẽ ở mỗi nền văn hóa, con người ta lại có một suy nghĩ khác nhau. Cha mẹ có nhất thiết phải coi thừa kế là một phần trong kế hoạch cuộc đời? Và liệu một thế hệ tự lập hơn có đồng nghĩa với việc cha mẹ được sống nhẹ gánh hơn khi về già? Quyết định của mỗi người sẽ khác nhau. Vậy bạn sẽ lựa chọn thế nào?