Theo Sở Xây dựng TP HCM, từ ngày 4/4, dải phân cách giữa trên đường Trường Chinh, đoạn qua giao lộ Phạm Văn Bạch (phường Tân Sơn), sẽ được rào chắn để thi công ga ngầm S10.
Cơ quan chức năng mở một điểm quay đầu mới trên đường Trường Chinh, đối diện siêu thị Co.opmart Thắng Lợi, nhằm tổ chức cho xe lưu thông qua khu vực.
Theo phương án điều tiết, xe từ đường Phạm Văn Bạch muốn rẽ trái về Cộng Hòa có thể rẽ phải vào Trường Chinh, sau đó quay đầu tại giao lộ mới hoặc tiếp tục đến nút Trường Chinh – Tây Thạnh để quay đầu. Ở chiều ngược lại, phương tiện từ Trường Chinh rẽ trái vào Phạm Văn Bạch có thể quay đầu tại nút Trường Chinh – Cộng Hòa hoặc tại giao lộ mới mở.
Ga ngầm Phạm Văn Bạch là một trong 10 ga ngầm của tuyến metro Bến Thành – Tham Lương, nằm gần giao lộ Cộng Hòa – Trường Chinh. Đây là ga ngầm cuối cùng trước khi tuyến chuyển lên đoạn trên cao tại ga Tân Bình. Nhà ga được thiết kế gồm hai tầng ngầm, bố trí khu bán vé, phòng chức năng và khu vực đón trả khách.
Tuyến metro Bến Thành – Tham Lương dài gần 11,3 km, nối từ trung tâm đến khu tây bắc thành phố, trong đó hơn 9 km đi ngầm. Dự án có tổng mức đầu tư hơn 55.000 tỷ đồng, khởi công giữa tháng 1 và dự kiến hoàn thành năm 2030. Đây là tuyến metro thứ hai của TP HCM, sau tuyến Bến Thành – Suối Tiên đã đưa vào khai thác cuối năm 2024.
Giang Anh
Nguồn: https://vnexpress.net/tp-hcm-dong-giao-lo-cua-ngo-tay-bac-de-thi-cong-ga-metro-5057040.html
Thời Sự
Bộ Công an lý giải đề xuất 'tạm hoãn truy cứu hình sự' cho khắc phục hậu quả

Bộ Tư pháp vừa công bố tài liệu thẩm định hồ sơ chính sách dự án bộ luật Hình sự (sửa đổi). Dự thảo do Bộ Công an chủ trì soạn thảo.
Cơ quan soạn thảo đề xuất bổ sung quy định về tạm hoãn truy cứu hình sự, cho thời gian khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm, gây thiệt hại về kinh tế nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh; không tham nhũng; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước.
Đồng thời, bổ sung căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự đối với người được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự mà đã đủ các điều kiện để được miễn.
Theo Bộ Công an, tạm hoãn truy cứu hình sự không phải xóa bỏ trách nhiệm hình sự mà là cơ chế tạm thời chưa truy cứu hoặc chưa tiếp tục truy cứu trong một thời hạn, điều kiện nhất định.
Về mặt nguyên tắc, đã có dấu hiệu tội phạm, có chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng Nhà nước cho họ cơ hội khắc phục hậu quả, hợp tác với cơ quan chức năng, bồi thường thiệt hại, thu hồi tài sản hoặc đáp ứng các yêu cầu chính sách hình sự khác.
Quy định này sẽ tạo ra một tầng xử lý trung gian giữa "truy cứu ngay" và "miễn ngay", qua đó tăng trách nhiệm khắc phục hậu quả, giảm hình sự hóa quá mức các rủi ro thiện chí trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
Bộ Công an cũng cho rằng, tạm hoãn truy cứu hình sự giúp tăng hiệu quả thu hồi tài sản, "cứu" các dự án, giảm đổ vỡ dây chuyền, nhất là với các vi phạm đầu tư, quản lý tài sản công mà hậu quả còn có thể khắc phục được.
Chính sách còn tháo gỡ tâm lý sợ sai, sợ bị hình sự hóa trong thực thi nhiệm vụ phát triển, khuyến khích cán bộ, doanh nghiệp dám làm vì lợi ích chung…
Đổi lại, việc quy định tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ gây những xáo trộn nhất định về bộ luật Hình sự và bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành; đòi hỏi cần phải giới hạn thật rõ các điều kiện áp dụng như "vì mục đích phát triển", "mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội", "không tham nhũng"…, tránh nguy cơ lạm dụng.
Xét tổng thể, Bộ Công an đánh giá đề xuất trên có nhiều ưu điểm, song chỉ nên áp dụng ở phạm vi hẹp, cần loại trừ với các tội tham nhũng, chức vụ vì vụ lợi; cố ý che giấu, làm giả hồ sơ; ưu tiên cho tội vô ý hoặc tội trong quản lý kinh tế mà thiệt hại còn khắc phục được.
Góp ý về nội dung trên, Viện KSND tối cao đề nghị bổ sung các nội dung quy định rõ về căn cứ, điều kiện, trường hợp theo tội danh, loại tội được áp dụng. Cùng đó là thẩm quyền, thời hạn tạm hoãn, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự khi tạm hoãn truy cứu hình sự…
Văn phòng Chủ tịch nước thì nêu quan điểm dự thảo thiết kế chưa thật sự chặt chẽ, nhất là đối với chế định "tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự".
Đây không chỉ là một sửa đổi kỹ thuật, mà là một thay đổi lớn về cấu trúc chính sách hình sự, có tác động trực tiếp đến toàn bộ quá trình tố tụng. Nếu chưa xác định rõ phạm vi, điều kiện, thẩm quyền và cơ chế kiểm soát, việc đưa vào luật có thể dẫn đến áp dụng không thống nhất, thậm chí tạo ra rủi ro lạm dụng hoặc bỏ lọt tội phạm.
Do đó, cơ quan soạn thảo cần làm rõ và lượng hóa các tiêu chí cốt lõi, ví dụ như thế nào là "vì mục đích phát triển", "vì lợi ích chung", "không có yếu tố vụ lợi, tham nhũng"…; mức độ thiệt hại và khả năng khắc phục; điều kiện về thái độ hợp tác và trách nhiệm bồi thường.
Đồng thời, phải thiết kế rõ thời hạn tạm hoãn, cơ chế giám sát, hậu kiểm và hệ quả pháp lý nếu không đáp ứng điều kiện sau thời hạn.
Phản hồi các ý kiến, Bộ Công an tiếp thu ý kiến về việc cần tiếp tục làm rõ nội dung liên quan đến tạm hoãn truy cứu hình sự (căn cứ, thẩm quyền, loại tội danh…) và sẽ thể hiện đầy đủ trong hồ sơ dự án bộ luật. Hiện nay, hồ sơ chính sách mới chỉ dừng ở xác định định hướng lập pháp, luận chứng sự cần thiết, mục tiêu, giải pháp và đánh giá tác động của chính sách.
Cơ quan soạn thảo cũng sẽ thiết kế các quy định bảo đảm không để các đối tượng lợi dụng, không bỏ lọt tội phạm; việc triển khai quy định được minh bạch, công bằng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 2/4, khi dòng xe tải nối đuôi chạy qua quốc lộ 19B (phường An Nhơn) và tỉnh lộ 638 (các xã Hội Sơn, Hòa Hội, Bình Hiệp, Bình An), bụi đất phủ dày mặt đường, cuốn thẳng vào nhà dân hai bên. Đến trưa, nắng gắt khiến bụi bốc lên dày đặc, tạo thành những "cơn bão bụi", hạn chế tầm nhìn, không khí ngột ngạt.
Cửa hàng giải khát kết hợp tạp hóa của chị Đỗ Thị Kim Hương, ở tổ dân phố Tân Nghi, gần như lúc nào cũng đóng kín cửa. Để hạn chế ô nhiễm, chị dùng nylon phủ kín hàng hóa, từ bánh kẹo, mì gói đến các vật dụng sinh hoạt. Tuy vậy, lớp bụi mịn len lỏi vào bên trong.
"Bịt kín các lỗ thông gió nhưng bụi vẫn vào được. Khách đến thấy đồ ăn, nước uống dính bụi là quay đi ngay", chị Hương nói, cho biết điều lo nhất là sức khỏe của các con nhỏ sống trong cảnh khói bụi bủa vây.
Cách đó khoảng một km, gia đình anh Nguyễn Thanh Hiệp, 32 tuổi, có con nhỏ mới 4 tháng tuổi, cũng phải sống trong tình trạng "kín cổng cao tường" suốt nhiều tháng. Anh phải căng bạt che kín trước cửa, đồng thời dùng giấy carton bịt toàn bộ các khe thông gió. Nhà lúc nào cũng đóng kín nhưng bụi vẫn bám đầy đồ đạc, lau xong một lúc lại thấy lớp mới.
Bụi đất phát sinh từ khi sân bay Phù Cát xây dựng đường băng số 2 từ tháng 8/2025 để đón máy bay lớn. Ông Nguyễn Đình Chương, Chủ tịch UBND phường An Nhơn, cho biết mỗi ngày dự án có 300-350 xe tải chở đất từ các mỏ về công trường, hoạt động liên tục từ 6h đến 21h30.
Quãng đường vận chuyển kéo dài hàng chục km, chủ yếu đi qua quốc lộ 19B và tỉnh lộ 638. Với mật độ xe lớn, mặt đường nhanh chóng bị phủ kín bụi đất, nhất là trong điều kiện nắng nóng. Hơn 80 hộ dân sống dọc đường bị ảnh hưởng. Chính quyền nhiều lần kiến nghị đơn vị thi công có biện pháp khắc phục, song tình trạng chưa được cải thiện.
Ông Võ Văn Chín, Trưởng phòng dự án 1, Ban Quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh Gia Lai (chủ đầu tư), cho biết dự án cần khoảng 5 triệu m3 đất san lấp. Với khối lượng đất lớn như vậy, thi công với tiến độ gấp, việc phát sinh bụi là khó tránh khỏi. Đơn vị đã bố trí 11 xe tưới nước dọc các tuyến đường để giảm bụi, song nắng nóng kéo dài, nước vừa tưới xong đã nhanh chóng bốc hơi, hiệu quả chưa cao.
"Sắp tới, chúng tôi sẽ tăng cường thêm xe tưới nước, đồng thời yêu cầu các xe chở đất che chắn kỹ, không để rơi vãi ra đường", ông Chín nói, cho biết dự án đã hoàn thành khoảng 60% khối lượng san lấp. Tình trạng bụi sẽ giảm khi quá trình vận chuyển đất hoàn tất sau hai tháng nữa
Trần Hóa
Nguồn: https://vnexpress.net/nguoi-dan-lay-nylon-trum-kin-nha-tranh-bao-bui-san-bay-phu-cat-5057607.html

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Nguồn: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

