Công ty cổ phần Vincom Retail vừa thay đổi một số vị trí lãnh đạo tại Hội đồng quản trị (HĐQT) và ban điều hành.
Hôm 27/8, HĐQT công ty quyết nghị bổ nhiệm ông Trần Lê Phương làm Chủ tịch Vincom Retail, thay cho bà Trần Mai Hoa. Trước đó, ông mới trở thành thành viên HĐQT của chủ chuỗi trung tâm thương mại Vincom từ hôm 22/7.
Ông Phương sinh năm 1969, có trình độ Thạc sĩ Quản lý Kinh tế. Hiện tại, ông cũng là Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam (VEFAC) và một số doanh nghiệp khác.
Rời chức Chủ tịch HĐQT, bà Trần Mai Hoa được giao làm Tổng giám đốc Vincom Retail thay bà Phạm Thị Thu Hiền. Đồng thời, bà Hoa cũng kiêm nhiệm vai trò Phó tổng giám đốc vận hành của công ty.
Nữ CEO này đã gắn bó với Vincom Retail từ năm 2014. Bà trải qua nhiều vị trí như Giám đốc ban quản lý dự án tại Vincom Mega Mall Times City, Royal City, rồi Phó tổng giám đốc, Tổng giám đốc của doanh nghiệp họ Vingroup này.
Còn bà Phạm Thị Thu Hiền sẽ giữ chức Phó tổng giám đốc Kinh doanh và Marketing. Trước đây, bà Hiền cũng đã có giai đoạn đảm nhiệm vai trò này tại Vincom Retail.
Năm 2026, Vincom Retail dự kiến doanh thu thuần hợp nhất 10.132 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 5.375 tỷ đồng, lần lượt tăng 16% và 15% so với năm 2025, sau khi loại trừ các khoản thu nhập không thường xuyên.
Công ty này đặt mục tiêu trở thành nhà phát triển và quản lý bất động sản bán lẻ hàng đầu châu Á. Hiện tại, VRE sở hữu, quản lý và vận hành trên 90 trung tâm thương mại với tổng diện tích sàn bán lẻ hơn 1,91 triệu m2.
Công ty họ Vingroup đặt mục tiêu tiếp tục mở rộng lên tới 110 trung tâm thương mại với khoảng 3,5 triệu m2 sàn. Cùng với đó, Vincom Retail dự kiến phát triển 75 khu phố thương mại mới.
Tin Gốc: Vnexpress

Thông tin từ Chi Cục Quản lý thị trường TPHCM cho biết thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Đội Quản lý thị trường (QLTT) số 4 đã ra quân kiểm tra, đặc biệt các khu vực địa bàn nổi cộm như chợ, trung tâm thương mại...
Theo đó, cơ quan này đã kiểm tra đột xuất các quầy bán đồng hồ, túi xách có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu tại Trung tâm Thương mại Saigon Square, chợ Bến Thành thuộc phường Bến Thành, TPHCM.
Cơ quan chức năng cho biết, ngay khi đoàn kiểm tra xuất hiện, hệ thống loa nội bộ và bộ đàm tại Saigon Square lập tức được kích hoạt để cảnh báo, khiến nhiều gian hàng nhanh chóng đóng cửa né tránh. Dù vậy, qua công tác rà soát, Đội QLTT số 4 vẫn phát hiện nhiều cơ sở kinh doanh đồng hồ, mắt kính, túi xách và các mặt hàng thời trang có dấu hiệu vi phạm
Các vi phạm chủ yếu gồm kinh doanh hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của các thương hiệu nổi tiếng được bảo hộ tại Việt Nam.
Các sản phẩm vi phạm được bày bán công khai nhưng có bao bì kém chất lượng, đường may lỗi, logo mờ nhòe và giá bán thấp bất thường.
Tương tự, tại chợ Bến Thành, các đoàn kiểm tra của Đội QLTT số 4 đã lập biên bản và thu giữ hàng trăm sản phẩm đồng hồ, túi xách, mắt kính có dấu hiệu giả nhãn hiệu để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đội QLTT số 4 đã kiểm tra và xử lý 49 vụ việc vi phạm, với nhiều hành vi vi phạm không rõ nguồn gốc xuất xứ, giả mạo nhãn hiệu... Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính hơn 500 triệu đồng.
Bên cạnh đó, đội đã thực hiện tiêu hủy toàn bộ hàng hóa vi phạm, góp phần ngăn chặn hàng hóa không bảo đảm chất lượng lưu thông trên thị trường.
Cùng thời điểm, Đội QLTT số 18 kiểm tra 16 hộ kinh doanh thời trang, giày dép, mắt kính và phát hiện 405 sản phẩm giả mạo các nhãn hiệu Gucci, Adidas... Lực lượng chức năng đã xử phạt các hộ kinh doanh tổng cộng 150 triệu đồng và buộc tiêu hủy toàn bộ hàng vi phạm trị giá hơn 111 triệu đồng.
Cơ quan chức năng cho biết tình trạng buôn bán hàng giả vẫn diễn biến phức tạp do nhu cầu mua hàng giá rẻ còn lớn, trong khi lợi nhuận cao khiến nhiều tiểu thương chấp nhận rủi ro. Nguồn hàng qua nhiều khâu trung gian cũng gây khó khăn cho việc truy xuất, xử lý.
Thời gian tới, lực lượng quản lý thị trường sẽ tiếp tục kiểm tra các điểm nóng về hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc và hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ tại trung tâm TPHCM, đồng thời tuyên truyền tiểu thương kinh doanh đúng quy định.
Tin Gốc: Dân Trí

Một trái xoài chín vàng trên cành, một trái bưởi căng mọng, một hạt gạo trắng trong… tất cả đều mang trong mình công sức của người nông dân, khí hậu của vùng đất và ký ức của mùa vụ.
Nhưng khi bước ra thị trường, nhiều sản phẩm trong số đó lại trở nên "vô danh", không tên tuổi, không câu chuyện, không định vị.
Chúng ta vẫn thường nói đến chuyện nâng cao giá trị nông sản. Nhưng giá trị không chỉ nằm ở năng suất hay chất lượng. Giá trị nằm ở cách một sản phẩm được nhận diện và được nhớ đến. Nói cách khác, đó là câu chuyện của thương hiệu ngành hàng.
Và câu hỏi đặt ra là: Ai là người làm thương hiệu cho nông sản Việt Nam?
Khi mỗi người làm một phần, nhưng thiếu người "dệt tấm vải"
Trong cấu trúc quản lý ngành nông nghiệp hiện nay, mỗi đơn vị đều đang làm rất tốt phần việc của mình. Có nơi lo sản xuất, nâng cao năng suất, cải tiến giống. Có nơi kiểm soát chất lượng, tiêu chuẩn, an toàn thực phẩm. Có nơi xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường.
Nhưng nếu nhìn toàn cục, có thể thấy một khoảng trống.
Không phải là thiếu việc, mà là thiếu một cách tiếp cận xuyên suốt. Mỗi nơi giống như một người đang dệt một sợi chỉ. Nhưng thiếu một "người thợ dệt" để kết nối những sợi chỉ đó thành một tấm vải hoàn chỉnh mang tên thương hiệu ngành hàng.
Bởi thương hiệu không phải là một khâu riêng lẻ. Thương hiệu là kết quả của cả một hệ thống: từ vùng trồng, giống cây, quy trình canh tác, tiêu chuẩn chất lượng, đến câu chuyện văn hóa và cách tiếp cận thị trường.
Thương hiệu không phải là cái tem dán sau cùng
Ở nhiều nơi, khi nói đến xây dựng thương hiệu, người ta thường bắt đầu từ bao bì, nhãn mác, logo. Nhưng đó chỉ là phần "nhìn thấy được".
Thương hiệu ngành hàng thực chất là một quá trình đi từ gốc đến ngọn:
Định danh rõ sản phẩm là gì, đến từ đâu. Thiết lập tiêu chuẩn ổn định. Tổ chức sản xuất có kỷ luật. Và cuối cùng mới là kể câu chuyện với thị trường. Kết nối sản xuất với thị trường. Biến tiêu chuẩn thành câu chuyện. Biến sản phẩm thành định vị và biến giá trị thành niềm tin.
Nếu không có ba lớp đầu, lớp cuối cùng chỉ là hình thức. Một logo đẹp không thể cứu được một chuỗi giá trị thiếu ổn định. Một chiến dịch truyền thông không thể thay thế cho sự thiếu nhất quán về chất lượng.
Chính vì vậy, thương hiệu không phải là "việc của cuối chuỗi", mà là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị.
Không ít địa phương có đặc sản nổi tiếng. Có vùng đất, có câu chuyện, có con người tâm huyết. Nhưng khi bước ra thị trường, sản phẩm vẫn bị hòa lẫn, giá cả bấp bênh. Nguyên nhân không phải vì thiếu nỗ lực, mà vì thiếu một "kiến trúc sư ngành hàng".
Người nông dân giỏi sản xuất. Doanh nghiệp giỏi kinh doanh. Nhà khoa học giỏi kỹ thuật. Nhưng rất ít người đứng ở giữa, nhìn toàn bộ hệ thống để trả lời một câu hỏi căn bản: Sản phẩm này là ai trên thị trường?
Không có câu trả lời đó, mọi nỗ lực sẽ rời rạc. Mỗi người làm một phần, nhưng không tạo thành một tổng thể có sức cạnh tranh.
Một thị trường mở không chờ chúng ta hoàn thiện
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, nông sản Việt Nam không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn cạnh tranh với nhiều quốc gia khác. Cùng một loại trái cây, nhiều nước cùng trồng. Có những sản phẩm vừa xuất khẩu, lại vừa nhập khẩu.
Thị trường không thiếu hàng. Thị trường chỉ thiếu sự khác biệt.
Nếu không có thương hiệu, sản phẩm sẽ bị cuốn vào vòng xoáy cung - cầu ngắn hạn. Khi được mùa, giá xuống. Khi mất mùa, giá lên. Một đường biểu diễn giống như điện tâm đồ, dao động mạnh và khó kiểm soát.
Thương hiệu chính là cách để "làm phẳng" những dao động đó. Không phải bằng cách can thiệp vào thị trường, mà bằng cách tạo ra một vị trí ổn định trong tâm trí người tiêu dùng.
Trước khoảng trống này, phản xạ quen thuộc có thể là đề xuất thành lập thêm một đơn vị quản lý. Nhưng vấn đề không nằm ở việc có thêm một "cục" hay không.
Vấn đề nằm ở chỗ: hệ thống hiện tại thiếu chức năng kiến tạo thương hiệu ngành hàng. Một chức năng đủ mạnh để:
Chức năng đó không nhất thiết phải nằm ở một cơ quan duy nhất, mà có thể là một cơ chế phối hợp linh hoạt giữa nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng nông dân.
Khi không có thương hiệu, người nông dân bán những gì mình có. Giá cả phụ thuộc vào thị trường.
Khi có thương hiệu, người nông dân bán giá trị sản phẩm. Giá trị gắn với uy tín của vùng đất, với danh dự của người sản xuất.
Lúc đó, một trái xoài không chỉ là trái xoài. Đó là câu chuyện của một vùng đất, một tiêu chuẩn, một lời cam kết. Người tiêu dùng không chỉ mua sản phẩm, mà mua niềm tin.
Ai là người làm thương hiệu?
Câu trả lời, có lẽ, không nằm ở một cá nhân hay một cơ quan cụ thể. Thương hiệu ngành hàng là kết quả của một hệ sinh thái. Nhưng trong hệ sinh thái đó, cần có những người đóng vai trò "kiến trúc sư", những người kết nối, dẫn dắt, nhìn thấy bức tranh lớn và giúp các mảnh ghép khớp lại với nhau.
Đó có thể là một hợp tác xã đủ mạnh. Một doanh nghiệp đầu đàn. Một tổ chức trung gian. Hay một chính sách đúng hướng.
Nhưng trên hết, đó phải là một cách tư duy mới.
Tư duy không dừng lại ở sản xuất. Không dừng lại ở kiểm soát chất lượng. Không dừng lại ở xúc tiến thương mại. Mà đi xa hơn: kiến tạo một ngành hàng có bản sắc, có định danh và có giá trị bền vững.
Một ngày nào đó, khi bước vào siêu thị ở một đất nước xa xôi, người ta không chỉ thấy "mango from Vietnam" hay "rice from Vietnam", mà thấy một cái tên cụ thể, một câu chuyện rõ ràng, một sự khác biệt không thể thay thế.
Khi đó, câu hỏi "ai là người làm thương hiệu?" có lẽ không còn quan trọng nữa. Bởi chính cả hệ thống, từ người nông dân đến nhà quản lý, đã cùng nhau tạo nên câu trả lời.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ghé mua 2 kg mận hậu trên xe đẩy ở chợ Xóm Mới, phường An Hội Đông (TP HCM), chị Hòa bất ngờ khi giá chỉ còn 25.000 đồng với loại 28-30 trái một kg. Theo chị, những năm trước cùng loại mận này hiếm khi dưới 30.000-35.000 đồng một kg và đây là mức thấp nhất chị từng mua.
Không chỉ mận hậu, nhiều loại trái cây mùa hè tại TP HCM cũng giảm sâu. Khảo sát tại các chợ truyền thống và cửa hàng cho thấy xoài cát, thanh long, ổi phổ biến ở mức 8.000-20.000 đồng một kg tùy loại, mít và dưa hấu có loại chỉ còn dưới 15.000 đồng một kg, thấp hơn khoảng 20-30% so với cùng kỳ năm ngoái.
Sầu riêng Ri6 - loại vốn được xem là đắt đỏ, nay cũng chỉ còn 50.000-60.000 đồng một kg tại chợ truyền thống và cửa hàng, giảm khoảng 30-50% so với cùng kỳ.
Mức giá này khiến nhiều loại trái cây hiện ngang, thậm chí thấp hơn một số loại rau ăn lá. Tại nhiều chợ dân sinh, rau cải hay tần ô phổ biến 12.000-20.000 đồng một bó, còn xà lách khoảng 35.000-40.000 đồng một kg.
Không chỉ trái cây phía Nam, nhiều loại đặc sản miền Bắc đưa vào TP HCM cũng giảm giá mạnh dù chi phí vận chuyển cao hơn mọi năm. Mận hậu hiện giảm khoảng 10-15% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, vải thiều miền Bắc năm nay mất mùa nhưng giá bán lẻ tại TP HCM vẫn chỉ quanh 45.000-60.000 đồng một kg tùy loại, thấp hơn khoảng 50-60% so với đầu vụ.
Giá bán lẻ đi xuống bắt nguồn từ đà giảm tại vùng trồng, khi nhiều loại trái cây vẫn tiêu thụ chậm và giá thu mua thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ.
Tại nhà vườn, sầu riêng Monthong được các kho thu mua khoảng 72.000-76.000 đồng một kg tùy loại, trong khi Ri6 loại A dao động 35.000-47.000 đồng một kg, thấp hơn 20.000-30.000 đồng một kg so với cùng kỳ các năm trước. Giá mít Thái chỉ 2.000-5.000 đồng một kg, thấp hơn nhiều so với mức từng đạt 15.000-25.000 đồng một kg. Thanh long cũng giảm 60%, còn dao động 3.000-12.000 đồng một kg tùy loại.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết đầu năm nay thời tiết tại các vùng trồng trọng điểm như miền Tây, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên khá thuận lợi. Việc kiểm soát tốt xâm nhập mặn giúp năng suất nhiều loại cây ăn trái đạt mức cao. Các loại trái cây như cam sành, dưa hấu, thanh long, xoài... đồng loạt vào vụ thu hoạch rộ trong cùng thời điểm, khiến nguồn cung tăng mạnh và kéo giá đi xuống.
Báo cáo thị trường tháng 4 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng ghi nhận giá xoài, sầu riêng tại nhiều vùng trồng Nam Bộ và Tây Nguyên giảm mạnh khi bước vào cao điểm thu hoạch.
Nguồn cung tăng không phải nguyên nhân duy nhất. Trong bối cảnh sức mua trong nước chưa phục hồi mạnh, đầu ra xuất khẩu cũng khó khăn hơn khi nhiều thị trường ngày càng siết tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Ông Nguyên cho biết Trung Quốc đang chuẩn bị áp dụng đầy đủ các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và mã vùng trồng theo Lệnh 280 từ ngày 1/6/2026. Điều này khiến nhiều đầu mối xuất khẩu chỉ thu mua cầm chừng để tránh rủi ro hàng bị trả về. Lượng hàng không xuất đi kịp vì thế quay lại tiêu thụ nội địa, gây hiện tượng "dội chợ" tại các đô thị lớn.
Ở nhóm sầu riêng, mùa vụ tại Thái Lan kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 khiến nguồn cung khu vực tăng mạnh, kéo giá sầu riêng Việt Nam đi xuống. Với thanh long, ông Huỳnh Cảnh, Chủ tịch Hiệp hội Thanh long Bình Thuận cho biết xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc, trong khi nước này đã mở rộng diện tích trồng những năm gần đây và bước vào vụ từ tháng 5 đến tháng 11, làm nhu cầu nhập khẩu giảm đáng kể.
Với xoài và mít, doanh nghiệp xuất khẩu tại Đồng Tháp cho biết giá năm nay giảm còn do nguồn cung từ Campuchia gia tăng khi một phần hàng không xuất được sang Thái Lan, khiến cạnh tranh trong khu vực gay gắt hơn.
Ngoài ra, các cuộc xung đột tại Trung Đông cũng tác động đến tuyến vận tải quốc tế, đẩy giá cước tàu biển và nhiên liệu tăng cao. Chi phí logistics leo thang khiến nhiều doanh nghiệp e ngại ký đơn hàng xuất khẩu sang các thị trường xa như Mỹ và châu Âu, làm lượng hàng tiêu thụ nội địa tiếp tục gia tăng.
Theo các hiệp hội ngành hàng, để giảm tình trạng giá trái cây biến động mạnh theo mùa vụ, ngành nông nghiệp cần đẩy nhanh quy hoạch vùng trồng, chuẩn hóa chất lượng và truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.
Cùng với đó, việc đẩy mạnh chế biến sâu như sấy, nước ép, đóng hộp và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu được xem là giải pháp quan trọng để giảm áp lực tiêu thụ quả tươi.
Tin Gốc: Vnexpress

